Tế Tỉnh Đại Sư
Liên Tông Thập Nhị Tổ
Việt Dịch: HT Thích Thiền Tâm
Tế Tỉnh Đại Sự,
tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường, người đời Thanh, con nhà họ Mã ở huyện Phong Nhuận.
Thuở bé ngài
đã thông thuộc kinh sử. Sau khi xuất gia, lại đi tham học các nơi, rộng suốt
cả hai tông: Tánh và Tướng. Chỗ tâm đắc nhất cúa ngài là chỉ thú Thập Thừa Tam
Quán của Kinh Pháp Hoa. Kế đó, ngài lại tham phỏng với Tụy Như Thuần thiền sư
ở Quảng Thông, tỏ ngộ thấu suốt, được truyền tâm ấn. Sau Thuần công về an dưỡng
ở chùa Vạn Thọ, Đại sư kế nhiệm tại Quảng Thông, sách tiến hàng hậu laii, tông
phong rất thạnh.
Bình
nhật, Đại sư thường bảo: "Ngài Vĩnh Minh nguyên là bậc tông trượng trong
thiền môn, mà còn quy tâm về Tịnh Độ. Huống nay là thời mạt pháp, chúng ta cũng
phải tuân theo". Do đó, ngài chuyên tu tịnh nghiệp, chủ trương Liên tông.
Mỗi ngày hạn thời giờ dạy chúng hoặc tiếp khách nội một cây hương. Ngoài ra
chỉ chuyên lễ sám niệm Phật mà thôi.
Không bao lâu,
Đại sư sang trụ trì chùa Giác Sanh. Kế đó lại lui về ngụ chùa Tư Phước ở Hồng
Loa Sơn. Tăng chúng các nơi mến đức nương về ngày càng đông, khiến chỗ ấy trở
thành đại tòng lâm. Đại sư vì pháp lợi sanh lòng không chán mỏi, tất cả đều
dùng Tịnh độ làm chỗ quy thú. Mỗi khi giảng đến ân cứu khổ ban vui của Như Lai,
thường lệ rơi theo tiếng. Thính chúng ngồi nghe đều cảm động sa nước mắt. Trong
hai quyển Ngữ Lục của ngài, lời khuyến hóa lại càng chí thiết. Đại lược như
sau:
-"Đầu mối
quan hệ trong vòng sống chết của chúng ta, duy có hai thức: Tâm lực và Nghiệp
lực. Tâm lực là tâm niệm có nhiều mối, khi lâm chung đi theo mối nặng nhất.
Nghiệp lực ví như người mang nợ, chủ nợ mạnh lôi kéo trước tiên. Nghiệp lực
tuy lớn, nhưng tâm lực lại càng lớn hơn. Bởi nghiệp không tự tánh, hoàn toàn
nương nơi tâm, nên khi tâm chú trọng thì làm cho nghiệp thêm mạnh. Nếu ta dùng
trọng tâm mà tu Tịnh độ, tất tịnh nghiệp mạnh, khi lâm chung quyết định sanh
về Tây phương. Ví như cây to tường cao, nghiêng hướng về Tây, ngày kia khi đã
đổ tất cũng hướng về Tây vậy.
Thế nào trọng
tâm? Chúng ta tu Tịnh độ, lòng tin qúi ở nơi sâu, chí nguyện qúi ở nơi thiết.
Do tín nguyện sâu thiết, nên tất cả tà thuyết không thể lay động, tất cả cảnh
duyên không thể lay động, tất cả cảnh duyên không thể kéo lôi. Giả sử đang khi
ta niệm Phật, bỗng tổ Đạt Ma hiện ra, bảo phải bỏ Tịnh tu Thiền có thể liền
giác ngộ, thì cũng từ tạ không dám tuân lời. Hay dù đức Thích Ca hiện thân,
bảo có pháp môn khác hơn Tịnh độ, dạy ta phải bỏ niệm Phật để tu môn kia, ta
cũng đảnh lễ mà từ khước. Giữ vững như vậy, mới gọi là lòng tin sâu sắc.
Về phần nguyện,
ví như có vòng sắt nóng đỏ xoay vần trên đầu, ta cũng không vì sự khổ ấy mà
thối thất chí vãng sanh. Lại như có cảnh dục lạc mầu nhiệm nhất của Chuyển luân
vương hiện đến, ta cũng không vì sự vui sướng đó mà quên tạm niệm cầu về Cực
Lạc. Gặp những cảnh duyên nghịch thuận cùng cực như thế, mà vẫn không đổi lòng,
mới gọi là chí nguyện tha thiết.
Lòng tin sâu,
chí nguyện thiết ấy, gọi là trọng tâm. Dùng tâm này mà niệm Phật thì tịnh nghiệp
mạnh và lần lần thành thục. Khi nghiệp thanh tịnh Cực Lạc thành thục, tất duyên
nhiễm Ta bà phải dứt. Như thế, lúc lâm chung dù có muốn cảnh luân hồi hiện ra,
cảnh Tịnh độ cùng đức Di Đà chẳng hiện tiền, cũng không thể được. Nhưng tín
nguyện sâu thiết ấy lúc bình thời phải rèn luyện cho thành, khi lâm chung mới
khỏi lạc vào nẻo khác. Như cổ đức lúc sắp mạng chung, chư Thiên ở sáu cõi trời
trổi nhạc cầm tràng phan, kế tiếp đến rước, mà vẫn cố từ, một lòng chờ Phật,
đợi khi Phật hiện đến mới chịu đi. Lâm chung là cảnh tứ đại sắp phân tán, chư
Thiên đến rước là cảnh tốt đẹp tuyệt vời! Nếu bình thời tâm tín nguyện chưa
được mười phần vững chắc, thì khi lâm chung gặp phải cảnh ấy, làm sao tự chủ
được!"
Có nhà tu thiền
hỏi: "Tất cả các pháp, đều như mộng huyễn. Cõi Ta bà cố nhiên vẫn huyễn,
song cảnh Cực Lạc cũng lại là mộng. Như thế, niệm Phật cầu về Cực Lạc nào có
ích chi được?
Đại sư đáp: -
Không phải thế đâu! Các bậc Bồ Tát từ đệ Thất địa trở về trước, đều tu hành
trong huyễn mộng. Đến như bậc Đẳng Giác vẫn còn ở trong mộng lớn vô minh. Duy
có Phật mới là bậc Đại Giác, hoàn toàn thức tỉnh. Đang lúc còn trong mộng, thì
cảnh vui cùng khổ vẫn uyển nhiên! Như thế, cam chịu cảnh mộng khổ ở Ta bà, sao
bằng về hưởng cảnh mộng vui nơi Cực Lạc? Phương chi, mộng ở Ta Bà là từ mộng
vào mộng. Mộng ở Cực Lạc là từ mộng ra khỏi mê, lần lướt đến ngôi Đại Giác.
Cho nên mộng cảnh tuy vẫn đồng, mà kết qủa ở đôi nơi rất khác xa, vì thế phải
niệm Phật cầu về Cực Lạc!
Niên hiệu Gia
Khánh thứ mười lăm, vào tháng hai, Đại sư dự biết ngày lâm chung, chẳng còn
bao xa, đi từ giã những người ngoại hộ, dặn rằng: "Duyên hư huyễn chẳng
bền lâu, giờ sống thừa nên qúi tiếc. Các vị hãy cố gắng niệm Phật, ngày kia
sẽ cùng gặp nhau nơi cõi Liên bang!". Đến ngày mùng hai tháng chạp, Đại
sư cảm bịnh nhẹ, đang chí tâm niệm Phật, bỗng thấy có vô số tràng phan từ phương
Tây bay đến, liền nhìn môn đồ nói: "Cảnh Tịnh độ đã hiện, ta sắp về Tây
phương!. Rồi bảo đại chúng, luân phiên trợ niệm. Sang ngày 17, vào giờ Thân,
ngài nói với chúng rằng: "Hôm qua tôi thấy ba vị đại sĩ: Văn Thù, Quán
Âm, và Thế Chí. Hiện giờ lại được đức Phật tự thân đến tiếp dẫn. Tôi đi đây!".
Đại chúng nghe nói, niệm Phật càng chí thiết, Đại sư ngồi thẳng, chắp tây hướng
về Tây, bảo: "Xưng một cầu hồng danh, thấy một phần tướng hảo"! Dứt
lời, liền kiết ấn mà tịch.
Lúc ấy, tất cả
chúng đều nghe mùi hương lạ ngào ngạt. Để lộ khám bảy ngày, dung sắc Đại sư
tươi như sống, tóc bạc biến thành đen. Lúc trà tỳ, được hơn một trăm hạt xá
lợi lóng lánh. Đại sư thọ được bảy mươi, tăng lạp bốn mươi chín.
Mấy Điệu Sen Thanh. Việt dịch: HT Thích Thiền Tâm. Ấn tống: Chùa Xá Lợi, VN
Đánh máy: Tuệ Cường
|