Thấu đạt Lý vạn hạnh mới thành tựu, biết rõ tông chỉ thì ngàn đường không ngưng trệ. Không nên bỏ kia lấy đây; chấp chặt vào phải, bài xích điều trái; cần phải thực hành môn vô ngại, khéo đi vào hạnh rộng khắp. Thế nên, chư Phật quá khứ, Bổn Sư Thích Ca từ vô lượng kiếp đến nay xả bỏ vô số thân mạng; hoặc vì cầu pháp, lấy xương tủy, khoét thịt nơi thân mình; hoặc vì thực hành hạnh từ bi, dùng thịt mình bố thí cho chim ưng cọp đói.
Luận Bát Nhã nói:
“Như Lai từ vô lượng kiếp đến nay, thí xả thân mạng tài vật vì thực hành chánh pháp. Chánh pháp không có bờ mé, là nhân vô cùng tận nên được quả báo vô cùng tận, quả báo chính là ba thân Phật”.
Cho đến các vị Bồ Tát và Cao tăng Ấn Hoa từ xưa đến nay thí xả thân mạng cũng không ít. Các Ngài đều tuân theo kinh giáo của Phật Thích Ca, noi theo gương thiêu thân đốt tay của Bồ Tát Dược Vương ngày xưa truyền lại.
Trong Cao Tăng Truyện có ghi, Pháp sư Tĩnh Ái vào núi Chung Nam cắt thịt thân mình đặt trên tảng đá, rồi luồn tay vào kéo ruột ra treo trên cành cây, sau cùng bưng tim tạng mà chết. Ngài viết bài kệ để trên vách rằng:
“Nguyện bỏ thân này rồi Khiến thân sớm tự tại
Pháp thân tự tại rồi
Luôn ở trong các cõi
Tùy chỗ có lợi ích
Hộ pháp cứu chúng sanh
Vả lại nghiệp phải hết
Pháp hữu vi đều vậy
Ba cõi đều vô thường
Thời đến chẳng tự tại
Người giết và tự chết
Chung qui cũng thế thôi Người trí chẳng ưu thích Nghiệp hết trong hôm nay”.
Bồ Tát Tăng Nhai cũng thiêu thân và nói rằng:
Ta vì thay thế tất cả chúng sanh mà chịu khổ.
Ngài đốt ngón tay trước, mọi người hỏi:
Tội nghiệp của chúng sanh chín mùi thì tự mỗi người chịu khổ, chẳng liên quan với nhau, làm sao có thể thay thế được mà Ngài tự thiêu?
Ngài nói:
Vừa phát khởi một niệm căn lành liền có thể diệt trừ tội ác, điều đó lẽ nào không thể thay thế hay sao?
Ngài còn bảo mọi người rằng:
Sau khi ta diệt độ, những người ưa thích cúng dường người bệnh, nên biết nguồn gốc của những người ấy khó mà lường xét. Họ đa số đều là chư Phật, Thánh nhân tùy nghi ứng hiện biến hóa mà đến. Nếu chẳng phải là tâm bình đẳng rộng lớn, sao có thể cung kính mọi người? Đó là hạnh chân thật.
Thiền sư Mãn Tông Thiên Thai, cả đời giảng và tụng kinh Pháp Hoa, đến nỗi cảm ứng thần nhân hóa hiện thân hình. Do đó, Ngài chuyên tâm thiền định, tụng niệm kinh chú, sau cùng đốt thân cúng dường kinh Pháp Hoa.
Lại có Thiền sư Tịnh Biện, học trò của Đại sư Trí Khải, ở trước sám đường đốt thân cúng dường Bồ Tát Phổ Hiền.
Truyền Đại Sĩ ở Song Lâm muốn đốt thân để cứu độ nỗi khổ của chúng sanh. Đệ tử của Ngài trước sau bốn mươi tám người sẵn lòng thay thế sư phụ đốt thân, thỉnh thầy thường trụ ở đời giáo hóa chúng sanh.
Những sự thật như thế, trong truyện ký đều có ghi rõ, ở đây không thể nêu ra đầy đủ. Nếu nói rằng đó là các cảnh giới của những bậc Thánh thị hiện thì các Ngài có lỗi lầm lừa dối phàm phu. Phàm phu không có phần trở thành Hiền Thánh thì giáo pháp chỉ lập bày phương tiện suông.
Vốn vì tiếp dẫn người sau, hợp theo người trước, khiến cho phàm phu thật chứng Bồ đề nên thị hiện lập bày quyền biến, cũng là giúp cho người sau noi theo. Không nên đem pháp tà vạy lừa dối người khác bảo họ thực hành.
Đức Phật là bậc đại từ bi hoàn toàn không lừa dối chúng sanh. Thế nên tám vạn pháp môn đều đưa đến giải thoát; một niệm lành nhỏ cũng dẫn đến Chân như. Trong Phật Pháp có sơ tâm hậu tâm, Sanh nhẫn Pháp nhẫn, không cần đem cao chê thấp, hoặc lấy thấp lấn cao. Nên khéo biết thời cơ, tự xét căn lực của chính mình, chớ nên phê bình việc tốt xấu của người khác, gượng lập thị phi. Ngôn ngữ là căn nguyên của tai họa, nó sẽ chuốc lấy khẩu nghiệp.
Vả lại, như hàng Bồ Tát đã đưọc Pháp Nhẫn, tuy đã chứng đắc Nhân không Pháp không, nhưng vì lợi ích mọi người nên phá trừ tâm tham lam keo kiệt mà còn phải đốt tay thiêu thân, như Bồ Tát Dược Vương, Hòa thượng Tăng Nhai.
Nếu chưa đầy đủ Pháp nhẫn, tuy biết dùng lửa trí tuệ thiêu đốt củi phiền não, thấu suốt Nhân Pháp đều không, không còn sanh khởi chấp ngã, nhưng nếu họ bị sự chướng ngại nặng nề của phiền não hiện tại vẫn chưa được tương ưng. Cần phải phát khởi tâm mạnh mẽ, vận dụng hạnh chân thật, đền đáp ân sâu của Phật, thay thế đau khổ cho chúng sanh, làm nhiều hạnh từ bi.
Muốn thành tựu pháp môn trợ đạo, không nên sanh khởi tư tưởng mong cầu. Nếu chẳng dối trá thì sự việc chẳng luống mất. Nếu mắt trí tuệ chưa sáng tỏ, vẫn còn phát khởi chấp ngã, chỉ mong cầu nhơn quả, ý chí cầu đạo không kiên định, mà lại tính bắt chước theo việc làm của người xưa, đối với hạng người này ở đây không nói đến.
Căn cơ chúng sanh không đồng, cho nên chỗ ưa chuộng đều khác nhau. Do đó trong kinh nói: “Đức Phật bảo: Nếu chúng sanh cần sự giả dối mới độ được thì ta cũng nói dối để giáo hóa họ”.
Thế nên biết, Sự có muôn ngàn, Lý chỉ về một nguồn. Đó đều là phương tiện khéo léo của lòng từ bi rộng lớn. Có người do xả bỏ thân mạng, nhanh chóng ngộ nhập Pháp nhẫn; cũng có người do chuyên tâm tu tập thiền định tỏ ngộ Vô sanh; có người do rõ biết tự tâm vốn thanh tịnh mà chứng đắc Thật tướng; cũng có người do tu tập quán bất tịnh mà đạt đến cảnh giới xa lìa cấu nhiễm; có người do ở nơi nhà cửa được trang sức bằng bảy báu mà tiến lên quả vị Thánh; cũng có người ở dưới gốc cây, bên gò mả mà đạt được Niết Bàn.
Vì thế vô lượng vô số môn hóa độ đều dẫn đến giải thoát; vô biên giáo pháp, nếu rõ thì liền trở về Chân như.
Lời nói của Đức Phật hoàn toàn chẳng phải là sự lập bày giả dối. Ví như đi bộ đường xa, lấy điểm đến làm mục đích, chẳng quan tâm đến con đường như thế nào, cũng chẳng gượng bàn khó dễ chi cả.
Nên biết trị bệnh không thể chuyên dùng thuốc tán, như bầu trời chẳng quang đãng mãi mãi. Cần phải dùng thuốc hoàn và thuốc tán dung hòa lẫn nhau, âm dương đồng thời trợ giúp thì các thứ bệnh đều khỏi, muôn vật trong thiên hạ được sinh trưởng tốt tươi.
Ở đây nói rõ mọi giáo pháp đều là sự lập bày thích ứng tạm thời, thật không có một phương pháp cố định, chỉ tùy theo lòng ưa thích của đối tượng để thích nghi giáo hóa, chỉ lấy việc chứng đạo làm trọng tâm, chẳng so sánh việc thô tế lúc nhập môn. Nếu chấp trước vào Tứ môn* của Viên giáo còn bị Sơ môn của Tạng giáo đối trị
* . Thế nên, pháp môn Bố thí mà Bồ Tát tu hành giống như người tù nhờ lỗ nhà xí mà trốn thoát, giống như người bệnh uống nước nhơ uế mà được lành . Không có quán xét tất chẳng thể nhổ hết căn bệnh tam độc, không có tu hành thì khó vượt khỏi ngục tù trong ba cõi.
Sách xưa nói:
“Bắt được chim có thể từ một mắc lưới, nhưng không thể lấy một mắc đó cho là toàn lưới. Sửa trị nước nhà có thể qui công về một người, nhưng một người ấy không thể thành một quốc gia được”.
Thế nên, cần phải đầy đủ các hạnh, tu tập muôn việc lành. Một hạnh trở về nguồn, ngàn pháp môn tự nhiên chân chánh. Trong kinh nói rõ, mười hai nhân duyên là một pháp, nhưng từ bốn phương diện: từ, bi, hỷ, xả mà quán sát thì đạt được bốn loại Bồ đề
* . Nếu chỉ thu nhận người căn cơ bậc thượng thì kẻ trung hạ không có phần. Thế nên, hoằng dương Bán tự giáo vẫn có công lao làm thành Mãn tự giáo đạt đến Bảo sở là dựa vào sự trợ lực của Hóa thành.
Sao có thể bỏ đây lấy kia, chấp vào chỗ chân thật mà chê bai sự quyền biến, dứt bỏ cơ duyên của chúng sanh, diệt mất phương tiện của chư Phật?
Do vậy, nói từ chỗ chân thật mà phân ra sự quyền biến, sự quyền biến này là quyền biến nơi chân thật; khai mở quyền biến hiển bày chân thật, chỗ chân thật này là chân thật nơi quyền biến. Nếu đối với hai môn quyền biến và chân thật mê mờ không rõ thì trí tuệ chẳng được tự tại.
Trong Luận Đại Trí Độ nói:
“Chúng sanh do mọi thứ nhân duyên nên được độ thoát chẳng đồng nhau. Có người do thiền định, được giải thoát. Có người do trì giới, thuyết pháp, được giải thoát. Có người nhờ ánh sáng của Phật chiếu soi đến nơi thân mà được giải thoát. Giống như thành trì có nhiều cửa, chỗ vào tuy khác nhau nhưng chỗ đến không khác”.
Nói rằng, công đức của Bát Nhã sâu xa là vì từ nơi Bát Nhã mà có ra các bậc Thánh Hiền.
Muôn loài đều có sẵn tánh mầu nhiệm này. Nêu lên thì là tông chỉ, là đứng đầu, là người dẫn đường, là chỗ nương tựa; dung thông thì chạm cảnh đều thấu suốt là không, không có gì chẳng phải là Bát Nhã.
Thế nên kinh nói:
“Sắc vô biên nên Bát Nhã vô biên”.
Triệu Luận nói: “Ba độc và bốn sự điên đảo thảy đều thanh tịnh”.
Tại sao chỉ tôn sùng Bát Nhã thanh tịnh? Nay sao lại lấy bỏ, muốn trốn hư không tránh bóng mình?
Ý chỉ sâu kín của chư Phật khó lường xét, giống như nắm tay không dùng để lường gạt trẻ thơ. Các Ngài khéo khuyến dụ hóa độ tất cả không có pháp cố định, cho nên gọi là trí tuệ rộng lớn. Chẳng biết Bát Nhã có công năng phá chấp, trong giáo lý chú trọng tán thán mà lại theo ngôn ngữ phát sinh kiến chấp.
Thế nên y theo phương hướng mà mê lầm. Bát nhã hay dẫn đường vạn hạnh, nếu không có Bát Nhã dùng vạn hạnh để làm gì?
Thích ăn tương mà lại uống muối quá mặn gây ra bệnh, chỉ ôm lấy không mà chấp đoạn, tiêu mất trí tuệ, tạo thành lỗi lầm.
Luận Đại Trí Độ nói:
“Đế Thích suy nghĩ rằng:
Nếu Bát Nhã là pháp rốt ráo, người tu hành chỉ thực hành Bát Nhã, cần gì những pháp khác?
Đức Phật đáp:
Bồ Tát tu Sáu pháp Ba La mật, lấy Bát Nhã Ba La mật dùng pháp vô sở đắc hòa hợp, đó tức là Bát Nhã Ba La Mật.
Nếu thực hành Bát Nhã không thực hành những pháp khác thì công đức không đầy đủ, chẳng được tốt đẹp vi diệu. Ví như người ngu chẳng biết về gia vị, nghe nói nước tương là chủ mọi gia vị, bèn chỉ uống nước tương, vì quá mặn nên gây ra bệnh. Hành giả cũng vậy, muốn trừ tâm chấp trước nên chỉ thực hành Bát Nhã, trái lại rơi vào tà kiến không thể tăng tiến pháp lành. Nếu hòa hợp với năm pháp Ba La Mật kia thì công đức đầy đủ, nghĩa vị điều hòa”.
Kinh Lăng Già Sơn Đảnh nói:
“Bồ Tát có hai con đường nhanh chóng:
Một là con đường Phương tiện, hay làm nhân duyên. Hai là con đường Bát Nhã, hay dẫn đến vắng lặng”.
Thế nên, Bát Nhã không có Phương tiện thì chìm đắm trong hố vô vi, Phương tiện không có Bát Nhã tất rơi vào mạng lưới huyễn hóa. Hai bên không ngưng trệ, một đạo đầy đủ. Quyền biến và chân thật song hành, Chánh tông mới hiển lộ. Trụ ở chỗ không trụ nên Phật sự đều gồm tu; được mà không được chi cả vì thế tâm trí hằng lặng lẽ.