Ở trước đã xác định rõ, nghiệp thông cả ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Đạo lý cũng hoàn toàn tỏ rõ.
Nay lại một lần nữa vì phá dẹp nghi ngờ, từ ba phương diện dưới đây để tiến hành giải thích:
1. Chư Phật và Bồ Tát ứng thuận cơ duyên hiển hiện nhiều loại hình dạng, lập bày thi vi thuận theo chúng sanh thế gian cùng họ đồng khổ đồng vui, thiên biến vạn hóa để tiếp dẫn rộng rãi những chúng sanh phiền não. Các Ngài hoặc giả thân nơi bình an bỗng nhiên nguy ách, để nói rõ đạo lý sự vật đến chỗ cùng tất trở lại; hoặc giả mãi hưởng vinh hoa bất chợt lâm nạn, để tỏ bày quy luật thịnh ắt có suy.
Qua đó khiến cho những người đam mê vinh hoa tỉnh ngộ thế gian tất cả vô thường; cũng khiến cho những người giàu sang tự thị hiểu được mạng sống hữu hạn, âm thầm tiêu trừ tham dục, khéo rửa sạch trần cấu phiền não chúng sanh.
Có khi thị hiện chân chánh, có khi thị hiện tà vạy, có khi nghịch hướng mà đi, có khi tùy thuận mà làm. Những điều lập bày thi vi của Bồ Tát nói trên đều là phương pháp đặc biệt âm thầm hóa độ, những kẻ phàm phu không thể nào hiểu được.
Thiện và ác hoàn toàn chẳng cố định; quả báo dựa vào duyên, nghiệp lực chẳng thể nghĩ bàn, thế của nó không thể ngăn cản.Cho nên trong kinh Niết Bàn nói:
“Nghiệp của chúng sanh tạo có ba loại báo ứng:
Một là hiện báo: chỉ cho nghiệp thiện ác tạo trong hiện đời, hiện đời chịu quả báo khổ vui.
Hai là sanh báo: chỉ cho nghiệp làm trong hiện đời, đời sau mới chịu quả báo. Ba là hậu báo: chỉ cho nghiệp làm trong hiện đời, phải trải qua trăm ngàn đời sau mới chịu quả báo.
Trong kinh còn nói:
“Có nghiệp hiện tại khiến người đau khổ, tương lai lại có quả báo khổ. Có nghiệp hiện tại khiến người đau khổ, tương lai lại có quả báo vui. Có nghiệp hiện tại khiến người vui vẻ, tương lai lại có quả báo vui. Có nghiệp hiện tại khiến người vui vẻ, tương lai lại có quả báo khổ.
Có người do phước thừa đời trước chưa hết, nên quả báo ác không lập tức đến ngay với họ. Có người tai họa đời trước tuy còn nhưng cơ duyên lành liền phát sanh”.
Ngoài ra nếu thiện nhiều mà ác ít thì trước hưởng vui sau chịu khổ, phước báo tiêu hết tai họa liền phát sanh. Nếu thiện ít mà ác nhiều thì trước chịu khổ sau hưởng vui, tai họa tiêu hết vui mừng tụ họp, những việc ấy đều thuộc về hậu báo.
Nghiệp thiện ác một khi chín mùi, nếu chỉ lấy lực tu thiện trong đời này thì khó mà dẹp hết. Do đó, dù cho đoạn trừ phiền não chứng đắc quả Thánh vẫn còn nợ cũ phải hoàn trả. Như Tỳ kheo Sư Tử, Thiền sư Nhất Hạnh chính là trường hợp đó; huống gì kẻ phàm phu bị nghiệp lực trói buộc làm sao có thể trốn thoát nạn này?
3. Có người thiện căn sâu dày, đồng thời còn có tâm tu hành kiên định, chí quyết không nghi, thệ nguyện lớn có sức mạnh, thì tuy ở hiện đời chịu lấy quả báo nhẹ nhưng có thể đoạn trừ những tội lỗi nghiêm trọng.
Nên trong kinh nói:
“Đời nay làm ác ít làm thiện nhiều thì chuyển quả báo nặng nơi địa ngục thành quả báo nhẹ trong đời hiện tại.
Nếu đời nay làm lành ít làm ác nhiều thì chuyển nghiệp nhẹ đời hiện tại thành nghiệp nặng nơi địa ngục”.
Cho đến, người thuần tu hạnh lành tuy hiện đời tạm thời bị bệnh nhẹ như nhức đầu, nhưng rốt cuộc diệt trừ khổ nạn trăm ngàn muôn kiếp nơi địa ngục. Do đó, Bồ Tát phát nguyện rằng: “Nguyện đời nay hoàn trả nợ nghiệp, chẳng muốn rơi vào đường ác chịu khổ”.
Người tạo nhiều nghiệp ác, tuy hiện đời hưởng thụ an vui nhưng quả báo của họ lại ở nơi địa ngục A Tỳ mãi mãi bị nỗi khổ của địa ngục hành hạ nung nấu không lúc nào ngừng nghỉ.
Ngoài ra, người tu hành đạt đến công lực nhất định thì sẽ thoát khỏi luân hồi, lúc lâm chung tuy chịu chút ít đau khổ nhưng nghiệp ác từ xa xưa đến nay nhất thời sẽ hoàn trả hết.
Ví như Pháp sư Tam Tạng Huyền Trang đời Đường, chín đời làm Tăng ở Trung Quốc, luận về phước đức hay trí tuệ cũng thường được xem là bậc nhất. Lúc Ngài ở đời dốc sức hoằng dương Phật giáo, khai diễn Phật Pháp Nhất Thừa, lợi ích cùng khắp tất cả chúng sanh, công đức vô lượng khó lường xét.
Khi Ngài gần viên tịch, nằm yên tĩnh trong phòng bệnh. Thiền sư Minh Tạng đến thăm, thấy có hai người cao lớn tay cầm một bông sen trắng đến trước Pháp sư nói rằng:
Những nghiệp ác mà Pháp sư làm tổn hại chúng sanh từ xưa đến nay, do chút ít bệnh tật hiện tại mà đều được tiêu trừ. Đối với việc này Ngài nên cảm thấy vui mừng!
Pháp sư chắp tay hướng nhìn hai vị ấy, sau đó bèn nằm nghiêng bên phải.
Đệ tử hỏi rằng:
Hòa thượng nhất định sẽ vãng sanh về nội viện Đâu Suất chăng?
Ngài đáp rằng:
Nhất định vãng sanh.
Nói xong hơi thở yếu dần, an nhiên thị tịch.
Nếu hiểu được ba tầng ý nghĩa trên mới gọi là người biết rõ nhân quả. Nếu không rõ những đạo lý này, tất nhiên sẽ phát sanh hoài nghi và phỉ báng.