Nghĩa của ông không được chuẩn. Tại sao vậy? Thường thì tướng có hai loại:
– Một là theo cảnh năm trần thuộc cõi dục mà vọng ái [cảnh mà thành cái] tham ô nhiễm, tùy theo cảnh mà chấp bám. Các thứ tướng như thế được gọi là trói buộc.
– Hai là ái công đức của Phật nên nguyện sinh Tịnh Độ. Tuy đó cũng gọi là tướng, song lại là giải thoát. Cớ sao biết là vậy? Như Thập Địa Kinh có nói: “Chính ngay Bồ Tát thuộc địa thứ nhất mà còn phải quán riêng hai Đế. Vận tâm tác ý trước hết phải theo tướng mà cầu, sau cùng mới thành vô tướng. Do từ từ tăng tiến mà thể nhập vào đại Bồ Đề. Cho đến tâm sau hết của địa thứ bảy thì tâm dựa theo tướng mới chấm dứt. Khi nhập vào địa thứ tám thời dứt tuyệt không còn theo tướng cầu nữa, và mới được gọi là sự thực hành không cần ra công sức (vô công dụng hành).” Thế nên Luận có nói: “Từ địa thứ bảy trở lại, thì có chướng ngại là ác tham, và có thiện tham để đối trị. Đến địa thứ tám trở lên thì thiện tham là chướng ngại mà vô tham là đối trị.” Huống gì giờ đây nguyện sinh Tịnh Độ, hiện tại tuy là phàm phu ngoài Đạo, song thiện căn mình tu đều là do ái công đức của Phật mà sinh, thì lẽ nào lại là trói buộc được. Nên Niết Bàn Kinh có nói: “Tất cả chúng sinh có hai loại ái. Một là thiện ái, hai là bất thiện ái. Bất thiện ái duy chỉ các kẻ ngu mới cầu [ái ấy], còn thiện pháp ái là [ái mà] chư Bồ Tát cầu.” Thế nên Tịnh Độ Luận mới nói: “Vị thanh tịnh quán cõi nước Phật, vị Đại Thừa nhiếp thọ chúng sinh, vị theo sự khởi hành nguyện lấy Phật độ, vị trụ trì đến cùng không thành uổng dở…” Có vô lượng vị Phật đạo như thế, nên tuy là giữ lấy tướng nhưng không phải là loại chấp trước trói buộc. Lại nữa tướng mà Tịnh Độ kia nói tức chính là tướng vô lậu, là tướng vô tướng vậy.