Duy tâm niệm Phật, do dùng duy tâm quán xét nên cùng khắp vạn pháp. Đã thấu suốt cảnh vật chỉ là tâm, hiểu rõ tâm tức là Phật, thế thì tùy tâm niệm về điều gì cũng đều là Phật cả.
Kinh Ban Chu Tam Muội nói:
“Như có người mộng thấy bảy loại trân báu, thân quyến hoan hỷ, nhưng khi tỉnh dậy nhớ lại thì không biết ở đâu? Niệm Phật cũng vậy”.
Điều này dụ cho chỉ do tâm tạo ra, ngay nơi có mà rỗng không nên nói không có đến và đi.
Hơn nữa nếu từ phương diện hư huyễn không thật mà nhìn thì tâm và Phật cả hai đều không. Nhưng nếu từ phương diện hiển bày giả tướng thì tâm và Phật rõ ràng. Không và Có vô ngại thì không có đến đi. Chẳng ngại thấy khắp tất cả Phật, thấy tức là không thấy, nên thường khế hợp với Trung đạo.
Do đó, trên sự thật Phật hoàn toàn không đến, tâm cũng chẳng đi, đạo cảm ứng qua lại giữa Phật và chúng sanh chỉ có tự tâm mới rõ được. Như chúng sanh tạo nghiệp ác, sẽ cảm ứng tướng trạng địa ngục.
Duy Thức Luận nói:
“Xem tất cả đều như địa ngục, đồng thấy là ngục tốt…vì hay làm việc bức hại. Bốn nghĩa đều thành tựu. Bốn nghĩa như trong địa ngục cũng có: thời định, xứ định, thân bất định, tác dụng bất định, đều là Duy thức. Do tâm ác nghiệp của người tội lỗi biểu hiện, hoàn toàn không có chó đồng, rắn sắt thật ở ngoài tâm. Tất cả việc ở thế gian cũng như thế”.
Song, cõi Phật Tỳ Lô Giá Na chẳng hạn cuộc ở Đông, Tây. Nếu tỏ rõ chính chắn tận tường thì tập khí phiền não đều dứt hết. Lý và Lượng đều đầy đủ, thân chứng Vô sanh, đã bước lên bậc Thánh thì vào hàng Bất thối, chẳng chán nản nỗi khổ sanh tử vào trong sáu nẻo để giáo hóa mọi loài.
Nếu như vừa mới đủ lòng tin, nhẫn lực chưa viên mãn mà muốn cứu vớt những kẻ trầm luân thì thật khó thực hiện, giống như không có thuyền mà cứu vớt người chìm đắm, đôi cánh yếu muốn bay cao, nằm bệnh trầm kha mà muốn rời khỏi lương y, trẻ thơ muốn xa rời từ mẫu, ắt bị sa hầm sụp hố, chết không nghi ngờ. Chỉ nên lo lắng e sợ cho mình bị sa hầm sụp hố, hãy khoan nghĩ đến việc làm lợi ích cho mọi người.
Vì thế Luận Đại Trí Độ nói:
“Ví như trẻ thơ nếu không gần cha mẹ thì sẽ sa hầm, sụp hố bị những tai nạn nước lửa, thiếu sữa mà chết. Thế nên, cần phải thường gần gũi cha mẹ, được nuôi dưỡng khôn lớn mới có thể thừa kế gia nghiệp.
Bồ Tát mới phát tâm phần nhiều nguyện vãng sanh tịnh độ, thân cận chư Phật, tăng trưởng Pháp thân, vậy mới có thể thừa kế gia nghiệp của Phật, cứu tế chúng sanh trong mười phương. Có sự lợi ích như thế nên chư Bồ Tát phần nhiều nguyện vãng sanh”.
Hơn nữa, xét trong các kinh nói, vãng sanh về cõi An Dưỡng thì duyên lành mạnh mẽ, hoàn cảnh thù thắng, phước đức đầy đủ, tuổi thọ lâu dài, liên hoa hóa sanh. Được Phật đón rước liền lên bậc Bồ Tát, nhanh chóng sanh vào nhà Như Lai, ở mãi nơi bậc Bất thối, đều được thọ ký đạo Bồ đề, thân đầy đủ tướng hảo ánh sáng, dạo nơi cây báu đài hương, cúng dường mười phương chư Phật, tinh thần an trụ nơi chánh định thanh nhàn, bên tai thường nghe pháp Đại thừa, sánh vai cùng hàng Nhất sanh Bổ xứ, niệm niệm rỗng lặng, tâm tâm tịch tĩnh, ngọn lửa phiền não tắt ngũm, dòng suối ái dục cạn khô, tên gọi đường ác không còn, lẽ nào lại có sự luân hồi sanh tử?
An Quốc Sớ nói, gọi là Cực Lạc bởi vì có hai mươi bốn điều vui:
Lan can bao quanh.
Lưới báu giăng trên hư không.
Bóng râm che đường đi.
Ao tắm bằng bảy báu.
tNận cát vàng. ước tám công đức lắng trong.
Bậc thềm lấp lánh ánh sáng.
Lâu đài ở giữa hư không.
Bốn loại sen tỏa hương ngào ngạt.
bằng vàng ròng.
Thường tấu diễn tám âm thanh.
Mưa hoa ngày đêm.
Sáng sớm đã được nhắc nhở tu hành.
Nhặt những hoa đẹp.
Cúng dường chư Phật các phương.
Đi kinh hành nơi cõi nước mình.
Các loài chim cùng hót vang hòa điệu.
Nghe pháp sáu thời.
Thường nghĩ nhớ Tam Bảo.
Không có ba đường ác.
Có Phật biến hóa.
Cây lay động lưới báu.
Ngàn cõi nước đồng thinh khen ngợi.
Hàng Thanh Văn phát tâm Đại thừa.
Tịnh Độ Quần Nghi Luận nói, Tây phương Tịnh độ có 30 điều lợi ích:
Thọ dụng cõi Phật thanh tịnh.
Được niềm vui Phật Pháp rộng lớn.
Tuổi thọ gần bằng Phật.
Dạo khắp mười phương cúng dường chư Phật.
Được chư Phật thọ ký.
Tư lương phước huệ chóng được viên mãn.
Mau chứng đắc đạo Giác ngộ Chân chánh Vô thượng.
Cùng chúng Bồ Tát dự chung pháp hội.
Thường không thối chuyển.
Vô lượng hạnh nguyện tăng tiến trong mỗi niệm.
Chim Anh Vũ, Xá Lợi tuyên dương pháp âm.
Gió mát lay động cành cây như diễn tấu các loại âm nhạc.
Dòng nước có ngọc Ma Ni lượn vòng, diễn thuyết các giáo nghĩa Khổ, Không. Các loại nhạc khí tấu vang âm thanh vi diệu.
Bốn mươi tám nguyện của Phật, dứt hẳn ba đường ác.
Đạt được thân sắc vàng.
Hình tướng tốt đẹp.
Đầy đủ năm thứ thần thông.
Thường trụ nơi chánh định
Không có điều bất thiện
Mạng sống lâu dài.
Y phục và thức ăn tự nhiên hóa hiện.
Chỉ hưởng thụ những điều vui.
Đầy đủ ba mươi hai tướng tốt.
Không có người nữ thật.
Không có Tiểu thừa.
Rời khỏi tám nạn.
Đạt được ba pháp nhẫn.
Thân tướng thường có ánh sáng.
Được thân Na la Diên bền chắc.
Qua những điều trình bày sơ lược ở trên, có thể thấy sự lợi ích của Phật Pháp vô lượng vô biên, cảnh giới Phật hoàn toàn chẳng phải hư vô, lời dạy của Phật dứt khoát không sai lầm. Tại sao mọi người lại muốn chìm đắm trong dòng sông ái dục, chẳng biết lo lắng? Ở trong căn nhà lửa cháy hừng hực đốt thiêu, mà không sợ hãi? Đối với mạng lưới ngu si được đan dệt dày đặc, mũi dao trí tuệ mỏng manh không sao cắt được; cội gốc nghi ngờ trồng sâu, sức tin yếu đuối đâu thể phá trừ.
Do đó mọi người bèn cam tâm tình nguyện vui với tai họa mà bảo rằng không có cõi nước thanh tịnh, lưu luyến nơi thế giới ô trược đáng sợ này. Giống như tằm kéo kén càng buộc càng bền, như bướm lao vào đèn tự thiêu tự đốt, cũng như cá chậu chim lồng mà lại cho là vui sướng.
Nên biết Phật lực chẳng bằng nghiệp lực, tà nhân khó tiến đến chánh nhân. Vả lại chưa thoát khỏi thân nghiệp báo thì rốt cuộc cũng bị ba sự chướng ngại buộc ràng; đã không ưa thích hóa sanh nơi hoa sen tất phải bẩm thọ thân hình nơi bào thai. Nếu lãnh thọ nhục thân, thì toàn thân là khổ, đã đắm chìm trong ba cõi sao tránh khỏi luân hồi.
Nay ở trong tám điều khổ, nêu sơ lược hai nỗi khổ của sanh và tử:
1. Nỗi khổ lúc thọ sanh:
Nhân tinh huyết làm hình thể, ở trong sanh tạng và thục tạng bốn mươi hai lần biến đổi mới thành huyễn chất. Trên thì chán ngán thức ăn nhơ uế, dưới thì xông lên mùi xú uế, lúc mẹ uống nước lạnh như ở trong dòng sông băng giá, khi mẹ dùng thức ăn nóng như ở trong lò than, xoay vần mê muội không thể nói hết được.
Đến khi sanh ra, chịu các sự khổ vô lượng. Lúc ra khỏi bào thai, giống như trâu bị lột da, chật hẹp khốn khó như rùa bị lột mai, ôm sự oán hận muốn hại thân mẹ. Vừa chạm đến gió nóng thì nhanh chóng quên mọi đau khổ, khi còn trẻ con ngu si bị nạn nước lửa mà chết yểu, dù được thành nhân vẫn phải lo sao cho vinh hiển họ hàng.
Lúa trên ruộng nghiệp đã chín, nước ái liên tiếp thấm nhuần, vô minh phát mầm khổ tăng trưởng. Dính chặt nơi bảy thức, bị ràng buộc trong chín cõi, như vòng lửa xoay vần không dứt.
2. Nỗi khổ khi chết:
Dao gió cắt xẻ thân thể, hỏa đại thiêu đốt hình hài, kêu than đau đớn, hồn phách hãi hùng, bao nhiêu nỗi khổ cùng cực đều phát sanh. Nghiệp ác chợt hiện bày, ngàn sầu uất kết, muôn sự dồn dập, cho đến mạng chung một mình ra đi buồn tẻ.
Nẻo tối tăm ảm đạm, đường u minh mịt mù, những sự oán thù trước kia giờ đây đối diện rõ ràng, vỗ đất kêu trời mong cầu nhưng không sao thoát được. Theo nghiệp sâu cạn trải qua các nẻo đường. Hoặc rơi vào địa ngục, hoặc thọ thân ngã quỷ bị đói khát nhiều kiếp kêu gào, chịu tội khổ toàn thân cháy rụi. Chưa thoát khỏi hai mươi lăm cõi, nghiệp thiện ác không mất, theo thân chịu quả báo chưa hề sai sót.
Biển sanh tử bao la, con đường nghiệp chướng khó cùng. Thanh Văn còn mê muội lúc ra thai, Bồ Tát còn mịt mờ nơi cách ấm, huống chi kẻ phàm phu bị sanh tử buộc ràng, lẽ nào lại không bị nỗi khổ của sự sanh tử ràng rịt và ma chết trói trăn?
Cho nên trong kinh Mục Liên Sở Vấn nói:
“Đức Phật bảo Mục Kiền Liên:
Ví như muôn dòng sông trôi chảy mãi, có cỏ cây nổi, trước chẳng xoay lại sau, sau chẳng chú ý đến trước, cuối cùng đều vào biển cả. Việc đời cũng như thế, có người tuy sanh trong nhà giàu sang muốn gì được nấy nhưng vẫn không thoát khỏi sanh già bệnh chết.
Do đó với kinh điển của Phật không tin, nên đời sau làm người lại ở chỗ càng khốn khổ, không thể sanh vào cõi nước của ngàn Đức Phật.
Thế nên, ta nói cõi nước của Phật Vô Lượng Thọ dễ dàng vãng sanh, dễ dàng cầu lấy, mà mọi người không thể tu hành để cầu vãng sanh, trái lại tôn thờ chín mươi sáu thứ tà đạo làm thầy. Ta gọi những người ấy là kẻ không có mắt, kẻ không có tai”.
Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng nói:
“Trong thời kỳ mạt pháp, tuy có vô số chúng sanh phát khởi sự tu hành nhưng chưa có một người đạt được đạo”.
Hiện nay chính là thời kỳ mạt pháp, đang là đời ngũ trược, chỉ có một môn Tịnh độ này mới là con đường chung để giải thoát cho mọi người.
Nên biết, tự lực tu hành khó viên mãn, nhờ vào tha lực thì dễ dàng thành tựu. Giống như kẻ tầm thường dựa vào thế lực của Chuyển Luân Vương mà được dạo khắp tứ thiên hạ; phàm phu tục tử nhờ kỳ công thuốc tiên giúp đỡ nên được bay lên ba đảo Bồng Lai.
Pháp Niệm Phật này xác thật là môn dễ thực hành, nhanh chóng được tương ứng.
Những lời dặn bảo lặp đi lặp lại phát xuất từ lòng từ bi của Phật, chúng ta cần phải khắc cốt ghi tâm.