Tất cả pháp rỗng không, đều trở về vô tướng. Tại sao lại trình bày các điều lành, sanh khởi tâm hữu... Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ | Dịch Giả :Hòa Thượng Thích Minh Thành | Xem: 58


Câu Hỏi

Tất cả pháp rỗng không, đều trở về vô tướng. Tại sao lại trình bày các điều lành, sanh khởi tâm hữu tướng?

Trả Lời

Do các pháp rốt ráo không có gì nên có sự thực hành muôn điều lành. Nếu các pháp có tánh quyết định thì tất cả không thể thiết lập.

Vì vậy kinh Bát Nhã nói: “Nếu các pháp chẳng phải là không thì không có đạo, không có quả”.

Kinh Pháp Cú nói: “Bồ Tát ở trong tánh không rốt ráo mạnh mẽ kiến lập các điều lành”.

Kinh Kim Cang Tam Muội nói:

“Nếu nói có một pháp thì tướng của nó giống như hoa đốm giữa hư không, giống như sóng nắng. Do si mê điên đảo mà có ra các thứ hư vọng.

Nếu thấy pháp là không thì các pháp đồng với hư không, như người mù không có mắt, nói một cách điên đảo rằng các pháp giống như lông rùa”.

Kinh còn nói: “Thà chấp Có như núi Tu Di, không nên chấp Không như hạt cải”.

Trong Luận nói:

“Ở trong Thật tướng của các pháp tìm tướng quyết định không thể được, cho nên gọi là vô sở đắc. Nhưng chẳng phải là không có phước đức, trí tuệ tăng trưởng căn lành”.

Lại nói:

“Người tà kiến phá dẹp các pháp để phù hợp với Không. Người quán xét về Không, biết Tánh chân không của các pháp chẳng phá chẳng hoại. Ví như kẻ quê mùa ban đầu chẳng biết muối, thấy người giàu sang dùng muối nêm vào rau thịt để ăn.

Người ấy hỏi:

Tại sao làm như thế?

Người giàu kia đáp:

Muối này có thể làm cho vị của thức ăn ngon hơn.

Người ấy bèn suy nghĩ, muối này có thể làm cho các thức ăn ngon hơn vì vị của nó chắc chắn rất ngon. Kẻ quê mùa bèn vốc muối cho vào đầy miệng mà ăn nên bị dọp lưỡi, bỏng miệng.

Lúc đó, người ấy hỏi rằng:

Tại sao ông nói muối có thể làm ngon thức ăn?

Người giàu sang bảo kẻ ngu ấy:

Cần phải lường xét nhiều ít để hòa vào làm cho thức ăn ngon, tại sao ông chỉ ăn muối?”.

Người vô trí nghe về Không Giải thoát môn thì chẳng thực hành các công đức, chỉ muốn đạt được tánh không, đó là tà kiến đoạn dứt các căn lành.

Đại sư Huệ Viễn ở Lô Sơn giải thích kinh Niết Bàn: “Hỏi rằng:

Nếu không được gì tại sao làm điều lành?

Đức Phật đáp:

Biết rõ tánh Phật vốn có nơi các chúng sanh ắt sẽ đạt được quả, giống như đứa bé ở trong thai nhất định nhất định sanh ra. Cho nên theo lý cần phải tu thiện.

Lại nói:

Nay tôi không biết chỗ tiến vào, làm sao làm điều lành?

Đức Phật đáp:

Có Như Lai Tạng có thể tiến vào, nên tu tập nghiệp lành”.

Hoằng Minh Tập nói:

“Hoặc có người chấp chặt vào Không một cách sai lầm, phát sanh cái thấy đoạn diệt. Khi nói về Không nơi miệng dường như giống nhau; lúc dùng về Không thì nơi tâm lại khác biệt.

Chánh pháp dùng Không để trừ bỏ tham đắm, tà thuyết dùng Không để bồi đắp ái nhiễm. Đại Sĩ thể hội tánh không tiến triển đạo đức, tiểu nhân nói về tánh không để thối lui điều lành. Bởi do, dùng lời chân chánh một cách trái ngược nên phát sanh tà chấp”.

Chẳng quán xét tánh không để diệt trừ khổ lụy, chỉ bám vào Không mà phế bỏ mọi việc lành. Vả lại, các pháp thiện ác vốn đồng với Không vô tướng. Song, pháp lành thì hỗ trợ tiến đạo, pháp ác lại phát sanh nghiệp chướng.

Nên biết Chân tánh của muôn pháp vốn đồng nhất như, trong pháp nhân duyên chẳng ngại gì có muôn ngàn sai khác.

Thế nên, trong kinh nói: “Tin sâu nhân quả, chẳng phỉ báng Đại thừa”.

Nhân quả ba đời, Đức Phật chẳng lừa dối. Bậc Thập lực khuyên dạy, người nghe chớ nên nghi ngờ. Sao lại bảo rằng thiện ác đều rỗng không, không có sự tổn hại và lợi ích? Pháp nhãn sáng tỏ chẳng có pháp gì chẳng rõ; tướng lưỡi rộng dài mỗi lời nói đều chân thật.

Phân tích về Có thì một cọng lông chia thành muôn vạn, nói về tánh không bình đẳng thì vạn vật đều đồng nhất. Ngăn ngừa lỗi lầm chấp đoạn thường nên dẹp trừ cả bệnh Không lẫn bệnh Có.

Kẻ chê bai bậc Thánh ắt gặp điều ác, người thuận với đạo rốt cuộc được tốt lành.

Chớ bảo rằng không tin, điều đó rõ ràng như mặt trời giữa ban ngày. Cho nên Trung Luận nói:

“Chư Phật nói về pháp Không là vì để trị bệnh chấp Có. Nếu lại chấp trước vào Không thì chư Phật chẳng thể hóa độ”.

Kinh Kim Cang Tam Muội nói:

“Nếu rời Không mà lấy Có, phá dẹp Có mà lấy Không thì đó là cái không giả dối, chẳng phải là cái không chân thật. Nay tuy rời Có mà chẳng ở nơi Không, như thế mới được cái không chân thật của các pháp”.

Do đó Triệu Luận nói:

“Nếu lấy Có làm Có thì lấy Không làm Không. Có đã chẳng phải là Có thì Không cũng chẳng phải là Không. Phàm chẳng ở nơi Không mà quán xét các pháp, có thể gọi là thấy được thật tánh của pháp”.

Tại sao lại lấy Không tổn hại Có, lấy Có tổn hại Không, trái với cội nguồn một vị, tạo thành sự sai lầm của cái thấy hai? Hoàn toàn là do dựa nơi ngôn ngữ mà làm mất đi nghĩa lý, bỏ trí theo tình.

Tuy bảo rằng phá dẹp Có mà chưa thấu suốt cội nguồn của Có, lại gượng chấp Không mà chẳng tỏ rõ trọn vẹn ý chỉ của Không. Nay sơ lược phân biệt rõ để làm tiêu tan sự ngăn trệ của tà chấp.

Phàm nói về “Có” chẳng phải là có mà có, cái có ấy chẳng phải là thật có. “Không” chẳng phải là không mà không, cái không ấy chẳng phải là cái không đoạn diệt.

Nếu quyết định là Có thì chẳng phải là huyễn có, phát sanh sự ngăn cách chướng ngại. Nếu rỗng tếch là Không thì đồng với hư không, không có diệu dụng.

Cho nên từ duyên mà Có là cái không chẳng có tự tánh. Cái không chẳng có tự tánh thì Không chẳng chướng ngại Có. Cái Có từ duyên mà có nên chẳng trở ngại Không. Có do Không mà thành lập, nên trở thành trí viên mãn hưng khởi vạn hạnh; Không từ Có mà sanh ra, do đó phát khởi tuệ nhiệm mầu mà Nhất chân thường rỗng lặng.

Lẽ nào lại đồng với kẻ chỉ chấp không phát sanh cái thấy đoạn diệt, nên biển phước khô cạn; dựa vào thật có khởi tâm chấp thường, do vậy ngọn núi ngã mạn ngất cao.

Vì thế chư Phật nói về Không là Không vô minh mà thành phước nghiệp, phá trừ Biến kế sở chấp để tỏ rõ trí Viên thành thật. Người ngu nói về Không thì phát sanh sự hiểu biết sai lầm, phỉ báng ý chỉ của chư Phật, tăng thêm chấp không và hủy diệt nhân lành.

Hơn nữa, nói về cái không đoạn diệt thì không thiện không ác không nhân không quả. Còn Đệ nhất nghĩa Không ắt có nghiệp có báo mà chẳng thấy người tạo ra.