Bấy giờ có vô số A la hán như thế, cớ gì chỉ chọn lấy một ngàn người, mà không chọn lấy nhiều hơn? Đời Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập | Dịch Giả :Hòa Thượng Thích Thiện Siêu | Xem: 8


Câu Hỏi

Bấy Giờ Có Vô Số A La Hán Như Thế, Cớ Gì Chỉ Chọn Lấy Một Ngàn Người, Mà Không Chọn Lấy Nhiều Hơn?

Trả Lời

Vua Tần bà ta la đắc đạo, tám vạn bốn ngàn quan thuộc cũng đều đắc đạo. Lúc ấy vua sắc trong cung thường dọn bữa cúng dường cho một ngàn người. Vua A xà thế vẫn không bỏ pháp ấy. Bấy giờ Đại Ca diếp tư duy: "Nếu chúng ta thường đi khất thực sẽ có ngoại đạo cưỡng đến nạn vấn mà bê trễ pháp sự. Nay trong thành Vương xá thường dọn thức ăn cung cấp cho một ngàn người, chúng ta có thể ở trong đó, kết tập Kinh tạng"; vì lẽ ấy chỉ chọn một ngàn người, không chọn nhiều hơn.

Lúc ấy Đại Ca diếp cùng với một ngàn người đi đến trong núi Kỳ xà quật, thành Vương xá, nói với vua A xà thế: "Hằng ngày hãy đem thức ăn đến cung cấp cho chúng tôi, nay chúng tôi ở đây kiết tập Kinh tạng, không được đi đâu".

Ở đó An cư trong ba tháng hạ. Trong ngày mười lăm đầu thuyết giới, vân tập hòa hợp Tăng. Đại Ca diếp vào thiền định, rồi dùng Thiên nhãn quán trong chúng này đây ai là người chưa dứt sạch phiền não, phải nên mời ra. Thấy chỉ có một mình A nan chưa dứt hết phiền não, còn chín trăm chín mươi chín người kia đều đã sạch hết các lậu, thanh tịnh không nhơ bẩn. Đại Ca diếp từ thiền định dậy, lấy tay dắt A nan ra khỏi chúng nói: "Nay ở trong chúng thanh tịnh kiết tập Kinh tạng, Thầy chưa sạch kiết sử, không nên ở đây".

Bấy giờ A nan hổ thẹn buồn khóc, tự nghĩ: "Ta hai mươi lăm năm theo hầu hạ Thế Tôn, gần gũi chăm sóc Ngài, chưa bao giờ bị khổ não như thế này; Phật thật là Đại đức từ bi, hay ẩn nhẫn". Suy nghĩ xong, A nan thưa Đại Ca diếp: "Tôi có đủ sức để đắc đạo từ lâu, song theo pháp của các đức Phật, vị A la hán không thể bị sai khiến hầu hạ hai bên; vì thế tôi giữ lại một phần kiết sử nhỏ nhặt mà không dứt hết đó thôi". Đại Ca diếp nói: "Thầy còn có tội là, ý Phật không muốn cho người nữ xuất gia, vì Thầy ân cần khuyến thỉnh, Phật mới cho họ xuất gia, vì lẽ đó mà Chánh pháp của Phật chỉ năm trăm năm là suy giảm. Đó là tội Đột kiết la (Dunkrta) của Thầy. A nan đáp: "Tôi thương xót bà Cù đàm di. Lại nữa, theo pháp của chư Phật ba đời đều có bốn bộ chúng, sao riêng Phật Thích ca Văn của ta lại không có?" Đại Ca diếp nói: "Khi Phật sắp nhập Niết bàn gần thành Câu thi na kiệt, Ngài đau lưng, trải bốn lớp y Âu đa la tăng để nằm và nói với Thầy: "Ta cần nước", mà Thầy không cung cấp. Đó là tội Đột kiết la của Thầy". A nan đáp: "Khi đó cả năm trăm cỗ xe băng dòng lội qua làm nước vẩn đục, vì thế nên tôi không lấy!" Đại Ca diếp nói: "Dẫu nước bị đục, thần lực của Phật có thể làm cho nước đục biến thành trong sạch, sao Thầy không lấy? Đó là tội Đột kiết la của Thầy. Thầy hãy sám hối đi!". Đại Ca diếp lại nói: "Phật đã dạy: Nếu người khéo tu tập Bốn thần túc, thì có thể sống một kiếp hoặc non một kiếp. Phật khéo tu tập Bốn thần túc, muốn sống một kiếp hoặc non một kiếp đều được, mà sao Thầy làm thinh không thưa lại. Phật hỏi đến ba lần, Thầy vẫn làm thinh. Nếu Thầy thưa với Phật là: Phật khéo tu tập Bốn thần túc, Ngài nên sống một kiếp hoặc non một kiếp! Do Thầy, Phật Thế Tôn sớm vào Niết bàn. Đó là tội Đột kiết la của Thầy!" A nan đáp: "Ma che lấp tâm tôi, nên không nói được, chứ không phải tôi có ác tâm mà không thưa Phật". Đại Ca diếp nói: "Thầy xếp y Tăng già lê của Phật mà lấy chân đạp lên. Đó là tội Đột kiết la của Thầy!" A nan đáp: "khi ấy có gió lớn nổi lên mà không có ai cầm y, gió thổi làm y rớt xuống chân tôi, chứ không phải tôi không cung kính mà giẫm lên y Phật!" Đại Ca diếp nói: "Sau khi Phật Niết bàn, Thầy bày tướng Mã âm tàng của Phật cho người nữ sem, sao không biết xấu? Đó là tội Đột kiết la của Thầy!" A nan đáp: "Khi ấy tôi suy nghĩ: Nếu các người nữ thấy tướng Mã âm tàng của Phật, chắc họ tự xấu hổ thân hình nữ nhân, mong muố⮠được thân nam tử, tu hành Phật tướng, gieo gốc phước đức"; vì thế mà tôi cho người nữ xem, chớ không phải không biết xấu mà cố tâm phá giới". Đại Ca diếp nói: "Thầy có sáu tội Đột kiết la như vậy nên phải sám hối giữa Tăng". A nan nói: "Vâng, xin theo lời dạy của Trưởng lão Đại Ca diếp và chúng Tăng". Khi ấy A nan quỳ thẳng chắp tay, bày vai áo bên phải, cởi dép, sám hối sáu tội Đột kiết la. Đại Ca diếp ở giữa Tăng, cầm tay A nan dắt ra ngoài, nói với A nan: "Thầy hãy dứt hết lậu hoặc của Thầy, vậy sau trở vào, kiết sử tàng dư chưa hết, thì Thầy chớ vào!". Nói xong, liền tự đóng cửa lại.

Bấy giờ, các A la hán nghị rằng: "Ai có thể kiết lập Tỳ ni Pháp tạng?" Trưởng lão A nê lô đậu (A nậu lâu đà) nói: "Xá lợi phất như là Phật thứ hai, có người đệ tử giỏi, tên là Kiều phạm ba đề là người nhu nhuyến hòa nhã, thường ở chỗ vắng, trú tâm tịch mịch, có thể biết rành Tỳ ni tạng, nay đang ở trong vườn cây Thi lợi sa trên trời, nên sai sứ thỉnh về". Đại Ca diếp nói với hạ tọa Tỳ kheo: "Thầy hãy nghe Tăng sai".

Hạ tọa Tỳ kheo thưa: "Tăng có việc gì sai khiến?" Đại Ca diếp nói: "Tăng sai Thầy đến trong vườn Thi lợi sa ở trên trời, nơi A la hán Kiều phạm ba đề đang ở". Tỳ kheo ấy vui mừng hăng hái vâng lời Tăng sai, và bạch Đại Ca diếp: "Tôi đến chỗ A la hán Kiều phạm ba đề, trình thuyết việc gì?" Đại Ca diếp nói: "Đến đó rồi, thưa với Kiều phạm ba đề: Các vị lậu tận A la hán Đại Ca diếp v.v… đều hội tại Diêm phù đề, Tăng có Pháp sự lớn, thỉnh ngài mau đi đến".

Hạ tọa Tỳ kheo ấy lễ Tăng rồi đi quanh ba vòng, liền như chim Kim sí bay lên hư không, đến chỗ Kiều phạm ba đề, cúi đầu tác lễ, thưa Kiều phạm ba đề: "Thưa Đại đức, vị nhu nhuyến, hiền thiện, thiểu dục, tri túc, thường ở trong Thiền định, Đại ca diếp có lời thăm hỏi và nói với Ngài: Nay Tăng có đại Pháp sự, xin Ngài mau đến đó xem hàng Tăng bảo tụ họp". Khi ấy Kiều phạm ba đề có tâm nghi ngại, nói với Tỳ kheo ấy: "Tăng không có việc đấu tránh mà gọi tôi chăng? Không có kẻ phá Tăng ư? Phật nhập diệt rồi ư?" Tỳ kheo ấy nói: "Đúng như lời Ngài nói, đức Phật Đại sư đã diệt độ". Kiều phạm ba đề nói: "Phật diệt độ mau quá! Con mắt thế gian đã mất! Vị tướng có khả năng theo Phật Chuyển xe pháp là Hòa thượng Xá lợi phất của ta nay ở đâu?" Đáp: "Đã vào Niết bàn trước Phật". Kiều phạm ba đề nói: "Đấng Đại sư, bậc Pháp tướng đều đã cách lìa, sẽ tính sao đây? Đại Mục kiền liên giờ ở đâu?" Tỳ kheo ấy đáp: "Cũng đã diệt độ". Kiều phạm ba đề nói: "Phật pháp sắp muốn tàn, bậc Đại nhân đã qua đi, chúng sanh thật đáng thuơng". Lại hỏi: "Trưởng lão A nan nay làm gì?" Tỳ kheo ấy đáp: " Trưởng lão A nan sau khi Phật diệt độ, rầu rĩ khóc lóc, mê man không tả xiết". Kiều phạm ba đề nói: " A nan áo não là do còn ái kiết, sinh đau khổ về nỗi biệt ly. Còn La hầu la thì sao?" Tỳ kheo ấy đáp: " La hầu la đã chứng A la hán nên không ưu sầu, mà chỉ quán các pháp vô thường". Kiều phạm ba đề nói: "Lòng thương yêu khó dứt mà dứt được nên không ưu sầu". Lại nói tiếp: "Ta đã mất vị Đại sư ly dục thì ta còn ở trong vườn Thi lợi sa này làm gì? Các vị Đại sư Hòa thượng của ta đều đã diệt độ, nay ta không thể trở xuống Diêm phù đề nữa, mà ở đây vào Niết bàn".

Nói xong lời ấy Tôn giả nhập thiền định, bay lên hư không, thân phóng ra ánh sáng, lại phát ra nước lửa, tay cầm mặt trời, mặt trăng, hiện các thứ thần biến, tự tâm phát lửa thiêu thân, trong thân phát ra bốn luồng nước chảy xuống đến chỗ Đại Ca diếp, trong luồng nước có tiếng nói kệ:

"Kiều phạm ba đề cúi đầu lễ,
Đại đức tăng, diệu chúng bậc nhất.
Nghe Phật diệt độ, tôi diệt theo,
Như Voi chúa đi, Voi con theo".

Bấy giờ Tỳ kheo hạ tọa ôm y bát trở lại nơi chúng Tăng. Trong lúc ấy, A nan tư duy các pháp, chưa dứt hết lậu hoặc dư tàn, đêm đó tọa Thiền kinh hành, ân cần cầu đạo, ấy là vì A nan trí huệ nhiều mà định lực ít nên không đắc đạo, định và trí bằng nhau mới mau chứng đắc. Cuối đêm sắp hết, mệt quámuốn nghỉ, vừa nằm xuống đầu chưa đến gối, A nan bỗng nhiên tỏ ngộ, như điện xẹt sáng, từ chỗ tối được thấy đường. A an nhập định Kim cang như vậy, phá hết thảy các núi phiền não, chứng được Ba minh thần thông. Cọng giải thoát, thành bậc A la hán đại lực. Ngay đêm đó, A nan đi đến nhà Tăng gõ cửa gọi. Đại Ca diếp hỏi: "Ai gõ cửa đó?" Đáp: "Tôi là A nan". Đại Ca diếp hỏi: "Thầy vì sao đến đây?". A nan thưa: "Tôi nay đã dứt các lậu". Đại Ca diếp nói: "Không mở cửa, Thầy cứ theo lỗ khóa mà vào". A nan đáp: "Dạ được", liền dùng Thần lực theo lỗ khóa mà vào, lạy dưới chân chúng Tăng mà sám hối, Đại Ca diếp không còn quở trách, lấy tay xoa đầu A nan nói: "Tôi cố vì Thầy, để cho Thầy đắc đạo, thầy không nên hiềm hận; cũng như vậy, tôi cốt để Thầy tự chứng ngộ. Ví như lấy tay vẽ giữa hư không, không dính mắc gì, tâm A la hán cũng như vậy, trong hết thảy pháp, không còn dính mắc. Thầy hãy trở lại chỗ ngồi của mình".

Khi ấy Tăng lại bàn rằng: " Kiều phạm ba đề đã vào diệt độ, còn có ai có thể kiết tập Kinh tạng?" Trưởng lão A nê lô đậu nói: " Trưởng lão A nan ấy, trong hàng đệ tử Phật, người thường hầu gần Phật, nghe kinh nhớ hết, Phật thường khen ngợi; A nan ấy có thể kiết tập Kinh tạng".

Bấy giờ Trưởng lão Đại Ca diếp xoa đầu A nan, nói: "Phật chúc lụy cho Thầy thọ trì Pháp tạng, Thầy nên báo ân Phật. Phật ở chỗ nào thuyết Pháp trước hết? Các đại đệ tử Phật có thể thủ hộ Pháp tạng thì đã diệt độ, chỉ còn lại một mình Thầy, Thầy nay theo tâm của Phật, thương xót chúng sanh, kiết tập Phật pháp tạng".

Khi ấy, A nan lễ Tăng xong, lên ngồi tòa Sư tử. Bấy giờ Đại Ca diếp nói kệ:

"Phật Thánh Sư tử vương.
A nan là con Phật,
Ngồi trên tòa Sư tử.
Quán trong chúng, vắng Phật.

Như thế chúng Đại đức,
Không Phật, mất uy thần.
Như khi trời không trăng,
Có sao nhưng chẳng nghiêm.

Thầy, đại trí nên nói.
Thầy, con Phật hãy nói.
Ở đâu, Phật đã thuyết,
Nay Thầy nên nói rõ".

Khi ấy Trưởng lão A nan nhất tâm, chấp tay hướng đến nơi Phật Niết bàn, nói:

"Lúc Phật mới thuyết Pháp.
Lúc ấy con không thấy,
Nghe truyền lại như vầy:
Phật ở Ba la nại.
Phật vì năm Tỳ kheo.
Lần đầu mở cửa Pháp,
Thuyết bốn pháp chơn đế,
Khổ, Tập và Diệt, Đạo.
A nhã Kiều trần như,

Trước tiên được thấy đạo.
Tám vạn các thiên chúng.
Cũng đều vào dấu đạo".
Nghìn A la hán nghe lời ấy rồi, bay lên hư không, cao bằng bảy cây Đa la, cùng nói: "Lớn thay, sức mạnh vô thường! Như chúng ta mắt thấy Phật thuyết pháp, nay lại nói "Tôi nghe", rồi nói kệ:

"Ta thấy thân tướng Phật.
Cũng như núi Tử kim.
Chúng đức diệu tướng diệt,
Chỉ còn lại danh thôi.
Vậy nên hãy phương tiện,
Mong ra khỏi ba cõi.
Siêng nhóm các thiện căn.
Niết bàn vui hơn hết".

Bấy giờ A nê lô đậu nói kệ:

"Ôi thế gian vô thường!
Như trăng nước, cây chuối.
Công đức đầy ba cõi,
Gió vô thường hoại hết".

Bấy giờ Đại Ca diếp lại nói kệ:

"Quá lớn, sức vô thường,
Ngu, trí, nghèo, giàu, sang.
Đắc đạo, chưa đắc đạo.
Hết thảy không tránh khỏi.

Phi lời hay, của báu.
Phi gian dối tranh được,
Như lửa đốt muôn vật,
Tướng vô thường là vậy".

Đại Ca diếp nói với A nan: "Từ kinh Chuyển Pháp luân đến kinh Đại Bát Niết bàn, tập thành bốn bộ A hàm: Tăng nhất A hàm, Trung A hàm, Trường A hàm, Tương Ưng A hàm. Đó gọi là Pháp tạng Tu đố lộ (Sutrapitaka).

Các A la hán lại hỏi: "Ai có thể hiểu rõ mà tập thành Pháp tạng Tỳ ni?" Đều nói: "Trưởng lão Ưu ba ly, là người trì Luật hơn cả trong năm trăm A la hán, chúng ta nay cung thỉnh". Liền thỉnh: "Mời đứng dậy đi đến ngồi tòa Sư tử mà thuật lại: "Phật ở chỗ nào bắt đầu thuyết Tỳ ni kiết giới?"

Ưu ba ly vâng lời Tăng dậy, ngồi trên tòa Sư tử nói: "Như vậy tôi nghe, một thời Phật ở thành Tỳ xá ly, bấy giờ con của Trưởng giả Tu lân na Ca nan đà, bắt đầu làm chuyện dâm dục. Do nhân duyên ấy, Phật kết thành đại tội thứ nhất. Hai trăm năm mươi giới làm thành ba bộ, bảy pháp, tám pháp, Tỳ kheo ni, Tỳ ni, Tăng nhất, Ưu ba ly vấn, Tạp bộ, Thiện bộ. Như vậy mười tám bộ làm thành tạng Tỳ ni"

Các A la hán lại suy nghĩ: "Ai có thể hiểu rõ mà kết tập tạng A tỳ đàm?" Nghĩ rằng: " Trưởng lão A nan, trong năm trăm A la hán, là người bậc nhất hiểu nghĩa Tu đố lộ, chúng ta nay cung thỉnh". Liền thỉnh rằng: "Xin đứng dậy đi đến ngồi tòa Sư tử, thuật lại Phật ở chỗ nào đầu tiên thuyết về A tỳ đàm?"

A nan vâng lời Tăng dậy, đến ngồi trên tòa Sư tử nói: "Như vậy tôi nghe, một thời Phật ở thành Xá bà đề, bấy giờ Phật bảo các Tỳ kheo, những người có năm điều sợ, năm tội, năm oán, không trừ không diệt, do nhân duyên ấy, thân tâm trong đời này chịu vô lượng khổ, đời sau lại đọa vào đường ác. Những người không có năm điều sợ, năm tội, năm oán, do nhân duyên ấy, thân tâm trong đời này thọ vui, đời sau lại sanh vào chỗ vui trên trời. Những gì là năm điều sợ nên xa lìa? Một là sát sanh, hai là trộm, ba là tà dâm, bốn là nói dối, năm là uống rượu". Những điều như thế gọi là tạng A tỳ đàm.

Kiết tập ba Pháp tạng xong, chư thiên, quỷ thần, các rồng, thiên nữ mưa hoa hương trời, tràng phan, áo trời đủ các thứ cúng dường, để cúng dường Pháp, và thuyết kệ:

"Vì thương xót thế gian.
Kết tập ba pháp tạng.
Đấng đủ Mười trí lực.
Trí, đèn soi vô minh".