Bát kiền độ A tỳ đàm (Astagran Àbhidharma), Lục phần (Asatpà Àbhidharma) từ đâu ra? Đời Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập | Dịch Giả :Hòa Thượng Thích Thiện Siêu | Xem: 30


Câu Hỏi

Bát Kiền Độ A Tỳ Đàm (Astagran Àbhidharma), Lục Phần (Asatpà Àbhidharma) Từ Đâu Ra?

Trả Lời

Lúc Phật còn ở đời, pháp không có sai trái. Sau khi Phật diệt độ, kết tập pháp thứ nhất, cũng như khi còn Phật. Mộ䴠trăm năm sau khi Phật diệt độ, vua A du ka (Asoka) mở đại hội Ban xà Vu sắc (Pàncavarsa parisad), các đại pháp sư luận nghị khác nhau nên có danh tự các bộ khác nhau. Từ đó về sau, lần lượt đến khi có đạo nhân Bà la môn tánh là Ca chiên diên, trí tuệ, lợi căn, đọc hết kinh sách tam tạng trong ngoài, muốn giải thích Phật pháp nên viết luận Phát trí (Jnànaprasthàmàstagrantha) gồm tám Kiền độ, phẩm đầu là thế gian Đệ nhất pháp. Về sau các đệ tử, vì người sau không thể hiểu hết tám Kiền độ, nên viết ra bộ luận Tỳ bà sa. Có người nói: "Trong sáu phần A tỳ đàm, phần thứ ba là Phân biệt thế xứ, do Mục kiền liên soạn. Trong sáu phần, phần đầu gồm tám phẩm, bốn phẩm do Bà tu mật Bồ tát soạn, bốn phẩm do A la hán nước Kế tân (Kasmir) soạn; còn năm phẩm kia do các luận nghị sư soạn".

Lại có người nói: "Lúc Phật tạ thế, Xá lợi phất đã giải lời Phật nên soạn A tỳ đàm. Về sau, đạo nhân Độc tử tụng đọc, cho đến nay gọi là Xá lợi phất A tỳ đàm. Và Đại Ca chiên diên lúc Phật tạthế, vì giải lời Phật mà soạn Tỳ lặc (Petaka Hiệp tạng) cho đến nay lưu hành ở Nam Thiên Trúc.

Các luận nghị sư đều giải rộng lời Phật, như nói năm giới. Trong năm giới ấy, mấy giới thuộc có sắc, mấy giới thuộc vô񠳦#7855;c? Mấy giới thấy được, mấy giới không thấy được? Mấy giới là có đối ngại, mấy giới là không đối ngại? Mấy giới là hữu lậu, mấy giới là vô lậu? Mấy giới là hữu vi, mấy giới là vô vi? Mấy giới là có quả báo, mấy giới là không quả báo? Mấy giới là thiện, mấy giới là bất thiện? Mấy giới là hữu ký, mấy giới là vô ký?Như vậy gọi là A tỳ đàm

Lại có bảy sử là dục nhiễm sử, sân nhuế sử, Hữu ái sử, kiêu mạn sử, vô minh sử, kiến sử, nghi sử. Trong bảy sử ấy, mấy sử hệ thuộc Dục giới, mấy sử hệ thuộc Sắc giới, mấy sử hệ thuộc Vô sắc giới? Mấy sử do kiến đế đoạn, mấy sử do tư duy đoạn. Mấy sử do thấy Khổ đế đoạn, mấy sử do thấy Tập đế đoạn, mấy sử do thấy Diệt đế đoạn, mấy sử do thấy Đạo đế đoạn? Mấy sử biến khắp, mấy sử không biến khắp?

Lại có mười trí là Pháp trí, Tỷ trí, Thế trí, Tha tâm trí, Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, Đạo trí, Tận trí, Vô sanh trí. Mười trí ấy, mấy thuộc Hữu lậu, mấy thuộc vô lậu? Mấy thuộc Hữu vi, mấy thuộc vô vi? Mấy trí duyên pháp Hữu lậu, mấy trí duyên pháp vô lậu? Mấy trí duyên pháp Hữu vi, mấy trí duyên pháp vô vi? Mấy trí duyên Dục giới, mấy trí duyên Sắc giới, mấy trí duyên Vô sắc giới? Mấy không hệ duyên, mấy trí tu ở trong vô ngại đạo, mấy trí tu ở trong giải thoát đạo? Khi được bốn quả, mấy trí được, mấy trí mất? Phân biệt hết thảy pháp như vậy, cũng gọi là A tỳ đàm; vì A tỳ đàm có ba loại: 1 A tỳ đàmThân và Nghĩa, lược nói có ba mươi hai vạn lời. 2 Sáu phần, lược nói có nói ba mươi hai vạn lời. 3 Trí lặc, lược nói có ba mươi hai vạn lời, ấy là A tỳ đàm.