Tác Giả

Hòa Thượng Thích Hồng Nhơn

1. Công Đức Niệm Phật Nhiều Hay Ít Đối Với Công Đức Trì 250 Giới...?
2. Đã Được Vãng Sanh Nhiều Ít
3. Giải Thích Các Điều Nghi Hoặc
4. Giảng Kinh Công Đức Nhiều Ít So Với Công Đức Niệm Phật...?
5. Khuyến Tấn Niệm Phật
6. Niệm Phật A Di Đà So Bằng Tọa Thiền Khán Tâm Dùng Pháp Quán Vô Sanh...?
7. Niệm Phật Được Lợi Ích Nhiều Hay Ít So Với Trì Giới...?
8. Niệm Phật Ra Khỏi Ba Cõi
9. Rộng Nhiếp Các Giáo
10. So Lường Công Đức Niệm Phật
11. Thệ Nguyện Chứng Nghiệm Giáo Pháp
12. Tự Lực và Tha Lực
13. Vì Sao Không Nguyện Sanh Về Đâu Suất Nội Viện Mà Cầu Sanh Về Cõi Phật A Di Đà...?
14. Vì Sao Không Niệm Di Lặc Để Sanh Về Cung Trời Đâu Suất Mà Lại Niệm Phật A Di Đà Để Vãng Sanh Về Cực Lạc Tịnh Độ...?
15. Vì Sao Không Niệm Phật Thích Ca Lại Niệm A Di Đà...?

Pháp Âm Liên Quan Tới Tác Giả
Hòa thượng pháp danh Hồng Nhơn, pháp húy Ngộ Đạo, pháp hiệu Thiện Trân, nối pháp đời thứ 39 dòng phái Lâm Tế Gia Phổ. Ngài thế danh Đặng Văn Tới, sanh năm Tân Hợi 1911, tại làng Phong Đước, Tổng Tân Phong Hạ, huyện Tân Long, tỉnh Chợ Lớn.

Ngài sinh trong gia đình trung lưu phúc hậu, thân phụ là Đặng Văn Cung, pháp danh Hồng Cung, thân mẫu là Trần Thị Tỵ. Ông bà có cả thảy là 10 người con, ngài là người con thứ 7. Do ảnh hưởng song thân thấm nhuần Phật pháp, nên tâm tánh ngài cũng sớm nẩy mầm thoát tục.

Năm 16 tuổi, sau khi nghe song thân quyết định đến năm 17 tuổi sẽ thành lập gia thất, ngài bỏ nhà trốn đến chùa Từ Quang, số 14 đường Bến Đá (nay là Phường 7, Quận 8, TP. Hồ Chí Minh) do Hòa thượng Hồng Võ trụ trì. Sau khi nghe trình bày ước nguyện, ngài được Hòa thượng trụ trì dẫn đến chùa Từ Ân ở đường Tân Hóa, quận Tân Bình (Cầu Tre), xin phép Tổ Chánh Khâm-Thanh Ấn cho ngài được xuất gia tu học.

Ngày mùng 8 tháng 4 năm Bính Dần 1926, ngài được chính thức làm lễ thế phát, thọ lãnh pháp danh là Hồng Nhơn. Bước đầu tu tập nơi ngôi chùa đang gặp lúc trùng tu, ngài theo gương hạnh người xưa bồi công lập đức, giã gạo gánh nước để được phước duyên tu học đạo mầu. Mặc dù thân tuy lao nhọc do phải đảm đang nhiều việc, công quả nặng nề, nhưng niềm vui được dự vào hàng đệ tử của Phật, khiến Hòa thượng quên đi tất cả.

Một năm trôi qua, công việc trùng tu hoàn thành, ngài tiếp tục chuyên tâm trau dồi Tam vô lậu học của người sơ cơ.

Năm Canh Ngọ 1930, chùa Linh Sơn Tiên Thạch ở làng Phong Đước, tổng Tân Phong Hạ, huyện Tân Long, tỉnh Chợ Lớn, khai Đại giới đàn do Tổ Thanh Ấn làm Đường đầu Hòa thượng. Ngài được Tổ cho phép cầu thọ tam đàn Cụ túc giới.

Năm Quý Dậu 1933, với tinh thần cầu tiến học hỏi để lợi mình lợi người, ngài đã đi bộ hằng ngày trên đoạn đường hoang vu, ít người qua lại từ chùa Từ Ân đến chùa Long Thạnh (Bà Hom) để nghe kinh học luận với Cụ tổ Long Thạnh là một vị danh tăng thời bấy giờ.

Trải qua 15 năm ròng rã, ngài tham học ở 3 nơi, qua các môn: Nghi lễ Thiền gia do Hòa thượng Hồng Võ chùa Từ Quang hướng dẫn; phương pháp tu trì và luật học với Hòa thượng Thanh Ấn và kinh luận với Cụ tổ Long Thạnh truyền trao.

Năm Ất Dậu 1945, ngài xin phép bổn sư về trụ trì chùa Từ Thoàn, kế thừa ngôi Tam bảo của gia tộc để chăm lo mở mang, tiếp tục hoằng truyền chánh pháp. Bước chân vào đường hóa đạo, ngài đã tỏ ra xứng đáng với trọng trách của Tổ đạo giao phó.

Năm Mậu Tý 1948, chùa Thiên Phước ở Tân Hương, tỉnh Tân An khai mở Trường hương, ngài đến nhập chúng tu học. Tại khóa an cư kiết hạ đầu tiên, ngài được bạn đồng khóa mến yêu kính nể.

Sau khóa an cư, ngài nhận lời cộng tác với Hòa thượng Hành Trụ, về dạy luật tại Phật học đường Giác Nguyên. Trong thập niên giảng dạy tại đây, ngài đã thành lập Ban Kinh Sư tại Phật học đường Giác Nguyên, để làm Pháp sự đạo tràng gây quỹ cho Tăng ni sinh có điều kiện về ẩm thực để tu học. Tăng sinh thành tựu và có tố chất Kinh sư lúc đó, có Hòa thượng Nhật Thiện, chùa Định Thành, quận 10 sau này.

Năm Kỷ Sửu 1949, ngài làm Tuyên Luật sư Trường hương và Trường kỳ giới đàn tại chùa Hưng Đạo (nay là chùa Pháp Hội, quận 10).

Năm Tân Mão 1951, nhận lời mời của Hòa thượng Pháp Lan, Hiệu trưởng Trường Gia giáo Lục Hòa Tăng, Hòa thượng về dạy bộ Kim Cang Chư Gia tại chùa Khánh Hưng, Chí Hòa, Sài Gòn.

Năm Quý Tỵ 1953, chùa Báo Quốc, cầu Chữ Y (nay là Linh Phước) khai Tịnh nghiệp Đạo tràng, ngài được bầu vào ban Tứ chúng đồng thời với các vị danh tăng thạc đức như Hòa thượng Long Quang, Hòa thượng Long Thiền, Hòa thượng Kim Huê, Hòa thượng Trung Nghĩa, v.v…

Năm Ất Mùi 1955, ngài được cung cử chức Chánh na, lãnh đạo trong ban Tứ chúng ở Trường hương chùa Phước Tường (Thủ Đức).

Năm Bính Thân 1956, ngài được cung thỉnh ngôi vị Thiền chủ Trường hương chùa Vĩnh Xuân, Tây Ninh.

Năm Quý Mão 1963, ngài làm Thiền chủ Trường hạ chùa Thập Phương (Rạch Giá). Cuối khóa Hạ, ngài được cung thỉnh đương vi Sám chủ, kiêm Tuyên Luật Sư Trường kỳ giới đàn chùa Thập Phương.

Năm Ất Tỵ 1965, ngài được mời làm giảng sư Trường hạ chùa Liên Tông (Đề Thám, Sài Gòn) do cư sĩ Đoàn Trung Còn sáng lập.

Năm Bính Ngọ 1966, ngài làm Thiền chủ Trường hạ chùa Gò/ Phụng Sơn, Chợ Lớn.

Năm Đinh Mùi 1967, ngài làm Thiền chủ kiêm Bố tát Trường hạ chùa Thiền Lâm, Phú Lâm.

Năm Mậu Thân 1968, ngài đương vi Thiền chủ Trường hạ chùa Phước Long (Bình Dương). Sau khóa hạ là Trường kỳ giới đàn, ngài được cung thỉnh làm Sám chủ, kiêm Tuyên Luật Sư tại giới đàn chùa Phước Long.

Năm Canh Tuất 1970, ngài được cung thỉnh ngôi vị Tuyên Luật Sư kiêm Sám chủ giới đàn chùa Thới Hòa, Gò Vấp.

Năm Tân Hợi 1971, ngài đương vi Sám chủ Trường kỳ giới đàn chùa Bửu Phong, núi Bửu Long, Biên Hòa.

Năm Nhâm Tý 1972, chùa Quán Thế Âm, Phú Nhuận, mở khóa an cư, cung thỉnh ngài làm Thiền chủ Trường hạ. Cuối mùa an cư năm này, chùa Pháp Minh ở quận 6, Chợ Lớn, có khai giới đàn, ngài được cung thỉnh làm Tuyên Luật Sư, kiêm Sám chủ giới đàn.

Năm Quý Sửu 1973, ngài làm Thiền chủ, kiêm Bố tát Trường hạ chùa Thiền Lâm, Phú Lâm.

Năm Giáp Dần 1974, Hội đồng Viện Hóa Đạo chùa Ấn Quang mời ngài cộng tác vào Ban Dự thảo thống nhất nghi lễ 3 miền.

Năm Quý Hợi 1983, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, thống nhất các hệ phái, giáo phái trên cả nước. Chùa Huỳnh Kim, Gò Vấp mở Trường hạ, ngài được cung thỉnh làm Thiền chủ tại khóa an cư này.

Năm Bính Dần 1986, ngài làm Tuyên Luật Sư Trường hạ chùa Pháp Quang, do Ban Đại diện Phật giáo quận 8, TPHCM tổ chức.

Năm Đinh Mão 1987, ngài làm Pháp sư Trường hạ chùa Pháp Quang, ngài giảng dạy bộ Quy Nguyên Trực Chỉ.

Xuyên suốt 35 năm đảm nhiệm các ngôi vị đứng đầu trong hàng giáo phẩm, ngài đã đào tạo nhiều thế hệ Tăng ni tài đức qua các Trường hạ, Trường kỳ ở nhiều địa phương, cuộc đời ngài dành trọn cho bản hoài thanh tu đạo đức. Phần lớn các vị cao tăng thạc đức thiền gia ở Thành phố Hồ Chí Minh khi viên tịch, đều được Hòa thượng đáp lời cung thỉnh hoan hỷ quang lâm đến để tuyên Pháp ngữ, trợ tiến Giác linh cao đăng Phật quốc.

Với hạnh nguyện Bi Điền, Hòa thượng vận dụng trong pháp môn Hiển Mật song hành cho những Trai đàn cúng thí Đại khoa Du Già, Mông Sơn Chẩn Tế.

Tinh thần tu học và hoằng truyền chánh pháp của Hòa thượng là một tấm gương tinh tấn, bất thối chuyển, không bao giờ tự mãn nguyện và an nghỉ. Cho dù niên cao lạp trưởng hay lúc đau bệnh thông thường, ngài luôn luôn cần cầu học hỏi với các bậc thiện tri thức để thỉnh vấn các điểm cần yếu. Hằng ngày, Hòa thượng chuyên tâm tham thiền niệm Phật và trì tụng kinh Pháp Hoa để trở về với tri kiến Phật sẵn có của mình. Hình ảnh Hòa thượng với đức tướng Bi Dũng đỉnh đạc là những nét sáng và đẹp trong Tăng giới.

Năm Bính Tý 1996, sau khi hoàn tất việc trùng tu lần thứ hai tổ đình Từ Thoàn, thân tứ đại cũng đến lúc theo duyên tăng giảm, Hòa thượng sức yếu dần nhưng ngài rất tự tại như đã làm trọn mọi sứ mệnh truyền trao tinh hoa nơi ngài cho hàng hậu thế.

Ngày 30 tháng 9 năm Đinh Sửu 1997, Hòa thượng vẫn chuyện trò dặn bảo đồ chúng mọi việc, rồi yên lặng xả báo an tường thâu thần viên tịch, trở về cảnh giới Niết bàn, vô tung bất diệt vào lúc 00h30 tại chùa Từ Thoàn, trụ thế 86 tuổi, pháp lạp 66 năm.

Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng, Hòa thượng đã đến và đi như thế, nhưng công hạnh của một bậc Thầy thanh tu mẫu mực vẫn sống mãi trong sự kính tiếc của toàn thể Tăng lưu

http://chuaxaloi.vn/
 
Cố Giáo Sư Minh Chi
Cố Giáo Sư Trương Đình Nguyên
Cư Sĩ Bành Tế Thanh
Cư Sĩ Bích Ngọc
Cư Sĩ Cao Hữu Đính
Cư Sĩ Chân Hiền Tâm
Cư Sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Cư Sĩ Đạo Quang
Cư Sĩ Diệu Âm
Cư Sĩ Diệu Hà
Cư Sĩ Định Huệ
Cư Sĩ Đoàn Trung Còn
Cư Sĩ Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ
Cư Sĩ Dương Đình Hỷ
Cư Sĩ Đường Tương Thanh
Cư Sĩ Giang Đô Trịnh Vĩ Am
Cư Sĩ Giang Vị Nông
Cư Sĩ Hạnh Cơ
Cư Sĩ Hồ U Trinh Ở Núi Tứ Minh
Cư Sĩ Hoàng Phước Đại
Cư Sĩ Hồng Như
Cư Sĩ Hồng Dương Nguyễn Văn Hai
Cư Sĩ Huệ Thiện
Cư Sĩ Huỳnh Lão
Cư Sĩ Khánh Vân
Cư Sĩ Lâm Cự Tinh
Cư Sĩ Lâm Khán Trị
Cư Sĩ Lê Huy Trứ MSEE
Cư Sĩ Lê Sỹ Minh Tùng
Cư Sĩ Liêu Nguyên
Cư Sĩ Liêu Địch Liên
Cư Sĩ Lưu Minh Chánh
Cư Sĩ Lưu Thừa Phù Ghi Chép
Cư Sĩ Lý Viên Tịnh
Cư Sĩ Lý Nhất Quang
Cư Sĩ Mao Lăng Vân cung kính kết tập
Cư Sĩ Minh Chánh
Cư Sĩ Minh Trí và Mẫn Đạt
Cư Sĩ Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyên Giác
Cư Sĩ Nguyên Hồng
Cư Sĩ Nguyễn Lang
Cư Sĩ Nguyên Phong
Cư Sĩ Nguyễn Đức Sâm , Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyễn Đức Sinh
Cư Sĩ Nguyễn Hữu Kiệt
Cư Sĩ Nguyễn Minh Tiến
Cư Sĩ Nguyễn Xuân Chiến
Cư Sĩ Như Hòa
Cư Sĩ Phạm Cổ Nông
Cư Sĩ Phúc Trung
Cư Sĩ Phương Luân
Cư Sĩ Quách Huệ Trân
Cư Sĩ Quảng Minh
Cư Sĩ Tâm Phước
Cư Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
Cư Sĩ Thiên Nhơn
Cư Sĩ Thôi Chú Bình
Cư Sĩ Thuần Bạch
Cư Sĩ Tiểu Bình Thật
Cư Sĩ Tịnh Mặc
Cư Sĩ Tịnh Nghiệp
Cư Sĩ Tịnh Thọ
Cư Sĩ Tô Khắc Minh
Cư Sĩ Tôn A Tử
Cư Sĩ Trần Anh Kiệt
Cư Sĩ Uông Trí Biểu
Cư Sĩ Viên Đạt
Cư Sĩ Võ Đình Cường
Cư Sĩ Vọng Tây
Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân
Đại Lão Hòa Thượng Thích Ấn Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Diễn Bồi
Đại Lão Hòa Thượng Thích Hành Trụ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Mộng Tham
Đại Lão Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tinh Vân
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Đại Sư An Thế Cao
Đại Sư Bách Trượng Hoài Hải
Đại Sư Chí Công
Đại Sư Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa
Đại Sư Đạo Nguyên
Đại Sư Đạo Tuyên
Đại Sư Diệu Hiệp
Đại Sư Diệu Khẩu
Đại Sư Diệu Không
Đại Sư Đời Tống, Nguyên Chiếu
Đại Sư Duy Tắc Thiền sư Thiên Như Đời Dao Tần
Đại Sư Gia Tường Cát Tạng
Đại Sư Hải Đông
Đại Sư Hám Sơn
Đại Sư Hàm Thị
Đại Sư Hoài Cảm
Đại Sư Hoằng Nhất
Đại Sư Hoằng Tán
Đại Sư Huệ Ngộ
Đại Sư Khuy Cơ
Đại Sư Liên Trì
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc
Đại Sư Pháp Tạng Hiền Thủ
Đại Sư Phi Tích
Đại Sư Pomnyun Sunim Trí Quang
Đại Sư Quán Đảnh
Đại Sư Quảng Khâm
Đại Sư Tăng Triệu
Đại Sư Thái Hư
Đại Sư Thân Loan
Đại Sư Thang Hương Danh
Đại Sư Thanh Lương Trừng Quán
Đại Sư Thật Hiền
Đại Sư Thật Xoa Nan Đà
Đại Sư Thích Ấn Thuận
Đại Sư Thích Tăng Triệu
Đại Sư Thiện Đạo Đời Đường
Đại Sư Thiên Thai Trí Giả
Đại Sư Thượng Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Tĩnh Am
Đại Sư Tông Bổn
Đại Sư Tri Lễ
Đại Sư Triệt Ngộ
Đại Sư Trung Phong Minh Bổn
Đại Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Ưu Đàm
Đại Sư Vi Lâm Đạo Bái
Đại Sư Viên Hư
Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ
Đời Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Đời Đường Sa Môn Văn Thẩm Thiếu Khương
Đời Lưu Tống Cương Lương Gia Xá
Hòa Thượng DaLai Lama
Hòa Thượng Thích Bảo Lạc
Hòa Thượng Thích Bích Liên
Hòa Thượng Thích Chân Thường
Hòa Thượng Thích Diệu Liên
Hòa Thượng Thích Đồng Bổn
Hòa Thượng Thích Đổng Minh
Hòa Thượng Thích Đức Nhuận
Hòa Thượng Thích Đức Niệm
Hòa Thượng Thích Đức Thắng
Hòa Thượng Thích Giác Khang
Hòa Thượng Thích Giác Qủa
Hòa Thượng Thích Giác Quang
Hòa Thượng Thích Hân Hiền
Hòa Thượng Thích Hoằng Tri
Hòa Thượng Thích Hoằng Trí
Hòa Thượng Thích Hồng Đạo
Hòa Thượng Thích Hồng Nhơn
Hòa Thượng Thích Huệ Hưng
Hòa Thượng Thích Huyền Dung
Hòa Thượng Thích Huyền Tôn
Hòa Thượng Thích Huyền Vi
Hòa Thượng Thích Khánh Anh
Hòa Thượng Thích Khế Chơn
Hòa Thượng Thích Mãn Giác
Hòa Thượng Thích Minh Cảnh
Hòa Thượng Thích Minh Châu
Hòa Thượng Thích Minh Lễ
Hòa Thượng Thích Minh Thành
Hòa Thượng Thích Nhất Chân
Hòa Thượng Thích Như Điển
Hòa Thượng Thích Pháp Chánh
Hòa Thượng Thích Phước Nhơn
Hòa Thượng Thích Phước Sơn
Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Hòa Thượng Thích Quang Phú
Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Hòa Thượng Thích Tâm Quang
Hòa Thượng Thích Thái Hòa
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Hòa Thượng Thích Thiên Ân
Hòa Thượng Thích Thiện Châu
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ
Hòa Thượng Thích Thiện Phụng
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Hòa Thượng Thích Thông Bửu
Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Hòa Thượng Thích Tịnh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Tịnh Từ
Hòa Thượng Thích Toàn Châu
Hòa Thượng Thích Trí Chơn
Hòa Thượng Thích Trí Hoằng
Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm
Hòa Thượng Thích Trí Quảng
Hòa Thượng Thích Trí Thủ
Hòa Thượng Thích Trung Quán
Hòa Thượng Thích Từ Quang
Hòa Thượng Thích Tuệ Đăng
Hòa Thượng Thích Tuệ Đặng
Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ
Hòa Thượng Thích Tuyên Hóa
Hòa Thượng Thích Viên Giác
Hòa Thượng Thích Viên Huy
Hòa Thượng Thích Viên Lý
Tam Tạng Pháp Sư Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm
Tam Tạng Pháp Sư Đề Vân Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
Thượng Nhân Pháp Nhiên
Thượng Tọa Thích Chân Tính
Thượng Tọa Thích Chánh Lạc
Thượng Tọa Thích Đồng Ngộ
Thượng Tọa Thích Đức Trí
Thượng Tọa Thích Giải Hiền
Thượng Tọa Thích Hằng Đạt
Thượng Tọa Thích Hạnh Bình
Thượng Tọa Thích Huyền Châu
Thượng Tọa Thích Mật Thể
Thượng Tọa Thích Minh Tuệ
Thượng Tọa Thích Nguyên Bình
Thượng Tọa Thích Nguyên Chơn
Thượng Tọa Thích Nguyên Hùng
Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng
Thượng Tọa Thích Nhuận Châu
Thượng Tọa Thích Phổ Huân
Thượng Tọa Thích Phước Hòa
Thượng Tọa Thích Phước Thái
Thượng Tọa Thích Quảng Ánh
Thượng Tọa Thích Tiến Đạt
Thượng Tọa Thích Trí Đức
Thượng Tọa Thích Trí Siêu
Thượng Tọa Thích Trường Lạc
Thượng Tọa Thích Vĩnh Hóa
Tiến Sĩ Lê Sơn Phương Ngọc
Tiến Sĩ Sinh Học Matthieu Ricard
Tiến Sĩ Vật Lý Trịnh Xuân Thuận
Tỳ Kheo Thích Đăng Quang
Tỳ Kheo Thích Đồng Thọ
Tỳ Kheo Thích Đồng Tịnh
Tỳ Kheo Thích Duy Lực
Tỳ Kheo Thích Giác Nghiên
Tỳ Kheo Thích Giới Bổn
Tỳ Kheo Thích Giới Đức
Tỳ Kheo Thích Giới Nghiêm
Tỳ Kheo Thích Hoằng Đạo
Tỳ Kheo Thích Hoằng Thường
Tỳ Kheo Thích Huệ Chiểu Chùa Đại Vân Ở Chuy Châu
Tỳ Kheo Thích Minh Điền
Tỳ Kheo Thích Minh Định
Tỳ Kheo Thích Minh Trí
Tỳ Kheo Thích Nguyên Chứng
Tỳ Kheo Thích Tâm Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thanh Giác
Tỳ Kheo Thích Thiện Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thiện Trang
Tỳ Kheo Thích Thông Huệ
Tỳ Kheo Thích Viên Ngộ
Tỳ Kheo Visuđhacara



Dùng tâm hổ thẹn để xem xét bản thân, dùng tâm biết ơn để nhìn thế giới.