Ở trong sách “Cái gì là Phật Pháp” có một truyện như thế này: “Trước kia có một Hoà Thượng già ở trong phòng đang ngồi rảnh rang vô sự, người đứng sau Hoà Thượng già là một thị giả tiểu sa di. Lúc bấy giờ, ở ngoài cửa có hai Hoà Thượng Giáp và Ất tranh luận về một vấn đề, hai bên kiên trì tranh luận mãi không chịu thôi. Một lát, Hoà Thượng Giáp nổi giận đùng đùng chạy vào phòng, hướng về Hoà Thượng già nói: “Ngài bảo tôi nói cái đạo lý là cần phải như thế như thế, nhưng mà Hoà Thượng Ất lại bảo tôi nói không đúng. Ngài xem là tôi nói đúng hay Hoà Thượng Ất kia nói đúng?” Hoà Thượng già trả lời với Hoà Thượng Giáp rằng: “Ngài nói đúng!” Hoà Thượng Giáp cùng Hoà Thượng Già rất cao hứng đi ra. Qua vài phút đồng hồ, Hoà Thượng Ất cũng nổi giận đùng đùng chạy đến chất vấn Hoà Thượng già kia rằng: “Ngài bảo, ban nãy Hoà Thượng Giáp và tôi biện luận, thấy Hoà Thượng Giáp giải thích căn bản sai lầm. Tôi nói là căn cứ trên Kinh Phật. Ý của tôi là nói như thế như thế. Ngài cho là tôi đúng hay là Hoà Thượng Giáp kia đúng?” Hoà Thượng già trả lời: “Ngài nói đúng!” Hoà Thượng Ất đi ra cũng vui mừng hớn hở. Hoà Thượng Ất chạy về phía sau, đứng bên Tiểu Sa Di, ở sau lưng Hoà Thượng Già, lặng lẽ ghé vào tai Hoà Thượng già khe khẻ nói: “Ngài cần phải xác định là Hoà Thượng Giáp đúng hay là Hoà Thượng Ất đúng, Hoà Thượng Giáp nếu như đúng thì Hoà Thượng Ất nhất định không đúng; Hoà Thượng Ất nếu như đúng thì Hoà Thượng Giáp nhất định không đúng; Ngài không thể nào cho khuynh hướng của hai người đều là đúng cả?” Hoà Thượng già ngoảnh đầu qua đối diện nhìn thẳng vào Tiểu Sa Di nói rằng: “Ông cũng đúng!” Đây là một vấn đề rất có thú vị, đồng thời sự việc cũng rất có ý nghĩa. Đáng được là có một thứ học sinh với trình độ Cao Trung, nhưng dĩ nhiên họ sau khi hiểu rõ vấn đề này, cũng luôn cả vị Tiểu Sa Di kia giống nhau ở chỗ đều nghĩ trái tưởng phải, nói chung là lý do họ tưởng không thông suốt vấn đề “Đều Đúng”. Nơi đó tôi liền vận dụng Đồ Hình (1) chỉ giúp cho người khác xem:
Đồ Hình (1) biểu thị:
Theo Đồ Hình (1) trình bày: Bốn phía của tháp Phật đây, thiết lập bốn trạm và cử bốn người A, B, C, D đứng vào đó. Ngay lúc đó, ông A báo cáo rằng, Tháp thì ở bên phía tây, ông B thì bảo Tháp ở phía bắc, ông C thì bảo tháp ở phiá đông, ông D thì bảo Tháp ở phía nam. Sao anh chỗ báo cáo của chúng nó như thế nào? Là phủ nhận “Đều Đúng” phải không?”. Nếu phủ nhận thì chúng nó chỉ ngửa mặt lên mà cười.
Tôi tiếp tục nói: giả sử có một đồ án như thế (Như Đồ Hình (2) biểu thị):
Đồ Hình (2) biểu thị:
Theo Đồ Hình (2), người ngồi trên chỗ A quán sát thì nói với chúng ta rằng: đồ án đây là khối có sáu Hình Lập Phương bằng nhau (khối có sáu hình lập phương là khối có sáu mặt vuông bằng nhau) tổ hợp lập thành, nhưng người ngồi trên chỗ B quán sát nói là khối có bảy Hình Lập Phương bằng nhau tổ hợp lập thành. (Đồ án đây là trò vui rất có thú vị. Xin đọc giả không ngại thử khảo sát ra sao: trước hết giờ đây căn cứ theo đồ án đã thấy thì chỉ có sáu Hình Lập Phương; nếu như đem đồ án đảo ngược qua để xem thì liền phát hiện thấy có bảy Hình Lập Phương.) Lúc đó chúng ta nên phúc đáp như thế nào mà hai tổ hợp A và B đã cho biết? Bên nào đúng hoặc bên nào không đúng? Như thế chỉ tốt nhất là sử dụng bài thi của Tô Đông Pha để phúc đáp, Thi rằng: “Hoành khan thành lĩnh trắc thành phong, diễn cận cao đê các bất đồng, vị thức Lư Sơn chân diện mục, chỉ duyên thân tại thử sơn trung.” [tạm dịch: chắn ngang dải núi đỉnh nhô lên, cao thấp gần xa chênh lệch hình, chưa tỏ Lô Sơn chơn diện mục, đích thân chỉ biết núi kề bên]. Sở dĩ nói lập trường của các người không đồng nhau cho nên có các thứ ý kiến không giống nhau. Mỗi mỗi học thuyết trong thế gian, cũng đều là ý kiến riêng tư và chủ quan của cá nhân tham gia, mà không phải bản lai chân thật và công bình vô tư của toàn thể vũ trụ. Nhưng Phật Pháp thì lại khác xa, Phật Pháp là chân thật bản lai như thế của toàn thể vũ trụ. Chỉ là lợi dụng ngôn ngữ khéo léo để bày tỏ quán chiếu hiện thật của bản lai như thế mà thôi. “Bất khả thuyết” của đề mục căn bản chính là một diệu ngữ trong Phật Pháp. Bao nhiêu thí dụ nêu trên đều có thể quy nạp trên vấn đề toạ độ trong số học: như điểm A trong Đồ Hình (3) biểu thị:
Đồ Hình (3) biểu thị:
Theo điểm A trong Đồ Hình (3), toạ độ Giáp cho điểm A ở phạm vi khuôn thứ nhất; còn toạ độ Ất thì cho điểm A ở phạm vi khuôn thứ ba. Nguyên vì pháp thế gian đều tự kiến lập toạ độ, mỗi mỗi đều trình bày. Nhưng điểm A đây sử dụng Phật Pháp để giải thích: nếu như toạ độ của nó khiến ông khó dùng ngôn ngữ giảng giải thì nên nói rằng “Bất khả thuyết, bất khả thuyết”.
Lại có vấn đề quan hệ nơi không gian như Đồ Hình (4) biểu thị:
Đồ Hình (4) biểu thị:
Thí dụ năm ngoái chúng ta mở hội nơi địa điểm nào đó theo Đồ Hình (4) biểu thị, nhưng năm nay chúng ta lại mở hội cũng nơi địa điểm cũ. Nếu theo quan niệm của một người, hội trường năm ngoái và năm nay đều ở tại cùng một không gian giống nhau, hình dáng của hội trường cho đến tất cả bố trí trước mắt so với cùng năm ngoái cũng giống hệt nhau. Đương nhiên có thể bảo rằng: “Địa điểm mở hội tạo một không gian giống nhau.” Đây là mãi mai không có vấn đề. Đồng ý câu nói này cũng là không đáng để khảo nghiệm. Nhưng người sẵn có chút thiên văn thường thức, đương nhiên trong con mắt của họ có thể thấy đến như Đồ Hình (5) biểu thị:
Đồ Hình (5) biểu thị:
Người có đôi mắt thiên văn khi thấy được Đồ Hình (5) sẽ hội ý biết rõ: Địa cầu không đứng yên, tự xoay chuyển và xoay chuyển quanh mặt trời, cho đến chính Thái Dương Hệ cũng bị chuyển động luôn. Nhân đây, hội trường cũng đang xoay chuyển theo. Chỉ trong nháy mắt đã không biết được không gian hoàn toàn thay đổi bao nhiêu lần. Cho nên khiến ông ấy rất khó hội ý: Ý kiến về “Địa điểm mở hội nơi cùng một không gian”. Vậy ai đúng? Chúng tôi không có lý do thiên về một bên, chỉ đáp rằng: “Bất khả thuyết!”
Trong đây trở lại dùng thí dụ cho dễ hiểu, vấn đề trên nếu lý giải sâu thêm một lớp nữa và căn cứ theo sự vận động để trình bày thì được giải thích như sau:
Đồ Hình (6) biểu thị:
Theo Đồ Hình (6) biểu thị: “Chiếc xe hơi đây có khả năng vận tốc mỗi giờ 40 cây số.” Chủ xe luôn luôn cho là chưa bao giờ có sai lầm! Phải đấy nhà thiên văn nói với chúng ta rằng: Đây chỉ là đối với vận tốc của địa cầu mà nói; nguyên nhân địa cầu mỗi ngày ngoại trừ vận tốc mỗi giờ là 1000 dậm Anh, trục của nó tự chuyển động xoay quanh một lần, mỗi năm ngoài vận tốc mỗi giây đồng hồ là 20 dậm Anh, nó đi quanh mặt trời một vòng, ít người tham gia để hiểu biết thêm về sự xoay chuyển khác của nó, ......... Vận tốc toàn bộ Thái dương hệ trong mỗi giây đồng hồ là 13 dậm Anh và vận động chỉ trong phạm vi trung tâm tập đoàn tinh tú; toàn bộ ngân hà (do vô số tinh hệ tạo thành) vận tốc mỗi giây đồng hồ là 100 dậm Anh. Như thế nói lại, ai có thể quyết định vận tốc của chiếc xe hơi này? Ai có thể xác định được chiếc xe hơi này vận tốc chạy tiêu chuẩn mỗi giờ 40 cây số? Cho nên chỉ nói rằng vận tốc của chiếc xe hơi này là “Bất khả thuyết”.
Nếu đem ba chữ “Bất khả thuyết”, lý giải sâu thêm một lớp nữa, chúng ta có thể lợi dụng “danh từ không định nghĩa” trong Tân Số Học của Cao Trung đi giải thích ba chữ “Bất khả thuyết” trong Phật Pháp, kia và đây có chỗ tương tợ phi thường. Trong bảy mươi tám năm trước Trung Học Kỷ Hà Giáo Bổn có bốn nguyên tố quan hệ là: Điểm, Tuyến, Diện, Lập Thể. Nay chỉ nêu ra định nghĩa của “Điểm” để thảo luận: “Điểm chỉ có vị trí, không có chiều dài, chiều rộng, chiều sâu.” Nhưng ở năm gần đây trong Cao Trung Tân Số Học Giáo Bản nói rằng: “Điểm, Trực tuyến [đường thẳng], Diện đều là tập hợp của điểm, không gian là tập hợp của tất cả điểm.” Theo giải thích trên có thể nói, giả sử Trực Tuyến là tập hợp của Điểm, như thế không chừng Điểm tất nhiên phải có đầy đủ dài ngắn, nhưng thật tế Điểm thì không có dài ngắn, làm sao có thể tập hợp để thành Tuyến [đường] được? Nếu như “Điểm” liền biến thành “Tuyến” thì Điểm không thể gọi là “Điểm”! Lý do giống nhau, Điểm tức là Diện (mặt), tức là không gian, có thể Điểm chính là nét chấm. Nhân đó định nghĩa của Điểm không thể thành lập. Bất luận ông nói như thế nào cũng không định nghĩa được của Điểm; cho nên trong Tân Số Học đem “Điểm” “Tuyến” “Diện” gọi là “Danh từ không định nghĩa”. Nhưng trong Tân Số Học Giáo Bản đều chưa giải thích qua như thế. Trái lại trong Phật Pháp sớm đã có một đoạn biện luận tuyệt vời như thế: “Như học giả Duy Thức đả phá ngoại sắc (vật chất) không có cực vi thật tại (vật chất cực nhỏ). - - Giả sử ông chấp sắc cực vi là thật có để bàn luận, như thế chúng ta lại hỏi ông: có phân chia sáu phương vị hay không?(chỉ cho sáu phương vị đông, nam, tây, bắc, thượng, hạ, phân chia sáu phương vị là chỉ cho không gian chỗ chiếm hữu của vật chất.) Nếu như có sáu phương vị để bàn luận thì nó lại có thể bị chia cắt; nhưng nó có thể bị chia cắt đông tây thế này thì làm sao gọi cực vi được? Còn như ông thì nói không có sáu phương vị thì tôi lại hỏi ông, không có sáu phương vị (nghĩa là ý nói không có không gian chiếm hữu) thì làm sao có thể bảo có sắc cực vi tồn tại được? Còn nói không có không gian chiếm hữu thì sao lại có vật cất tồn tại được? Đây chính là mâu thuẩn lẫn nhau. Nơi học giả Duy Thức sau khi đả phá xong cực vi của ngoại sắc liền xây dựng lập trường cho chính mình là chỉ có nội tâm biến hiện từng sát na một. Ý đây nói ngoại sắc (tức là vật chất, sơn hà đại địa) chính là do ý nghĩ của tâm thức nội tâm trong mỗi sát na sát na sanh diệt biến hiện. Thế gian nguyên là không vật chất nhưng cũng có thể có vật chất, do sự giống nhau nói trên, có người lợi dụng phương pháp giống nhau đó liền bị sát na của học giả Duy Thức đả phá. Tâm niệm sát na của ông kiến lập có hay không có sự sai biệt của thời gian trước sau. Nếu như nói có thời gian trước sau thì đây không thể gọi là sát na, nguyên vì thời gian có thể bị phân chia thì sao gọi sát na được? Còn nếu ông nói không có phân biệt trước sau, như thế thì thành ra đồng thời, đã đồng thời sao có thể gọi là sát na được? Đó cũng là mâu thuẩn. Vì thế ngay cả thời gian, không gian, vật chất đều không thể kiến lập, cho nên gọi là “Bất khả thuyết.”
Một đoạn trên là lợi dụng phương thức khó đả phá, dùng hai mặt giáp công khiến ông không có đường để chạy, buộc ông phải đầu hàng nơi “Bất khả thuyết.” Lý đây dành riêng một phương thức chứng thật ba chữ “Bất khả thuyết”, để tiện suy rộng ra đến thế gian vạn sự vạn vật đều ở trong “Bất khả thuyết”. Nói thêm vấn đề vận tốc chiếc xe hơi trong tiết mục trên, theo Phật Pháp nói vận tốc chiếc xe hơi đó là không có và cũng không chạy. Là thế nào? Nguyên do “Chạy đi chạy lại” cũng là bất khả thuyết. Nếu ông nói: Bộ phận chiếc xe hơi này từ sườn núi đến Đài Nam chạy 40 cây số, 40 cây số đây phải chăng là có “Chạy”? Nó thật không có “Chạy”. Nguyên do lộ trình sớm đã thuộc về quá khứ thì đoạn nào chiếc xe đã “chạy” qua 40 cây số, phàm sự việc của quá khứ sớm đã không còn tồn tại, sự việc đã không còn tồn tại thế này thì có thể thành lập được sao? Cho nên nói là không có “Chạy”. Nếu ông nói: chiếc xe hơi ở nửa đường, nghĩa là chiếc xe hơi đang ở vị trí 20 cây số, như thế cũng không phải là có “Chạy”? Kỳ thật đã là không có “Chạy”, nguyên do 20 cây số đã chạy thì thuộc về quá khứ! Còn 20 cây số chưa chạy sự thật còn chưa thành lập. Sự việc chưa thành lập thì làm sao có thể nói có “Chạy”? Nếu ông nói: hiện tại đang chạy, nếu hiện tại đang chạy thì sao lại bảo có chạy? Kỳ thật hiện tại đang chạy cũng là không có chạy; đang chạy là thời gian đã chạy cùng chưa chạy và không phải đã chạy lại là chưa chạy. Lý đây chúng ta cần phải trở lại vận dụng sự quan hệ của “Điểm” và “Đường” nơi tiết mục trên để chứng minh: nguyên nhân Đường là do Điểm di chuyển mà thành. Nhưng “Điểm” thì không có dài có ngắn. Điểm nếu như có dài có ngắn để thành đường thì không thể thành điểm; còn Điểm nếu như không có dài có ngắn thì làm sao có thể thành Đường được? Lý do giống nhau nói trên như Đồ Hình (7) biểu thị:
Đồ Hình (7) biểu thị:
Theo Đồ Hình (7) biểu thị: Giả thiết chiếc xe hơi đây từ điểm A di chuyển đến điểm B, trung gian có một đoạn khoảng cách thích hợp. Đương nhiên chiếc xe hơi khi đang ở điểm A liền không có khả năng đồng thời cùng đang ở điểm B được và ngược lại cũng thế. Nói cách khác, chiếc xe hơi đương nhiên không được trong một thời gian cùng ở trên hai điểm A và B. Như thế lại có khoảng cách không gian và khoảng cách thời gian, nơi những khoảng cách trên, không ngại đem chỗ bất đoạn này phân chia ra, phân chia mãi đến khi không thể phân chia thêm nữa liền thành là Điểm. Đối với trên mỗi điểm mỗi điểm đây mà xem, nguyên nhân ở chỗ kia đang ở chỗ kia, nghĩa là căn bản chưa một mảy may di động. Do đó nói là “Không đi”. Như thế “Không đến” cũng là đạo lý giống nhau “Không đi”.
Phật Pháp trình bày: “Chân lý thì có thể chứng biết, nhưng không thể nói năng.” Do một lời nói qua liền thành đối đãi. Là như thế nào? Dùng thí dụ đã nêu trên để chứng minh do lời nói mà có đối đãi. Nếu đem những thí dụ này mỗi mỗi phân tích liền biết trước hết đều đã có “Ngã” hoặc “Chủ quan của ngã” (tức là Ngã Chấp); sau đó lại ở chỗ đứng trên lập trường đi quan sát tất cả sự vật. (Lập trường tức là tọa độ, cũng tức là pháp chấp của Phật Giáo chủ trương.) Cho nên chúng ta ngày thường trong sinh hoạt mỗi mỗi cử động, không thời không khắc nào là chẳng bị một đạo lý toạ độ (pháp chấp) của vô hình trói buộc mà khiến chúng ta vĩnh viễn không giác ngộ. Vì thế chỗ tạo tác chỗ hành vi đều cho là thích hợp, nhưng trên thực tế đều bị đối đãi mà có toạ độ gông cùm xiềng xích, vĩnh viễn không được tự tại. Nhưng đạo lý toạ độ đây đều không phải nhà tù không thể phá, bản thân họ cũng là dựa vào đồ vật không an trụ, là một thứ giả tướng, là thứ hư vô mù mịt. Cho nên Phật Pháp báo chúng ta rằng, “Toạ độ” đây tức là chướng ngại do tư tưởng của tự thân phát khởi mà thiết lập. Nhưng Toạ độ vô hình đây cũng có thể đả phá bằng cách buông thả chướng ngại trên tư tưởng của tự thân! Quả như chúng ta thật có thể buông thả thì tự tại như thế nào? Đáp rằng: “Bất khả thuyết!”
Nguyệt San Bồ Đề Thọ, kỳ 8, Nguyên Tải thứ 21.
Dịch xong ngày 8 tháng 12 năm 2014.