Tràng hạt dùng để trì tụng, các kinh ghi chép có những điểm giống nhau và khác nhau. Về số lượng [các hạt], nói chung có thể chia thành chín loại:
1. Một ngàn lẻ tám mươi hạt, biểu thị mười giới, mỗi giới có một trăm lẻ tám pháp tướng.
2. Một trăm lẻ tám hạt, biểu thị một trăm lẻ tám phiền não hay một trăm lẻ tám vị tôn giả v.v...
3. Năm mươi bốn hạt, biểu thị năm mươi bốn địa vị của người tu[7].
4. Bốn mươi hai hạt, biểu thị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác [tổng cộng] bốn mươi hai cấp quả vị.
5. Hai mươi bảy hạt, biểu thị hai mươi bảy địa vị thánh hiền thuộc Thanh Văn Thừa[8].
6. Hai mươi mốt hạt, biểu thị Thập Địa vốn sẵn có, Thập Địa do tu được, và Phật quả.
7. Mười bốn hạt biểu thị mười bốn nhẫn[9].
8. Ba mươi sáu hạt, chính là một phần ba của một trăm lẻ tám hạt.
9. Mười tám hạt, chính là một nửa của ba mươi sáu hạt.
Hai loại này mang theo tiện lợi, trọn chẳng có ý nghĩa gì. Trong các thứ [tràng hạt] kể trên, học nhân trong nội địa Trung Quốc chỉ chọn loại hai thứ là một trăm lẻ tám hạt và mười tám hạt. Các loại kia, người học Phật tại Nhật vẫn còn tiếp tục sử dụng.