1. Trong bài Tinh Thần và Giá Trị Phật Giáo, tôi từng nhấn mạnh Phật giáo là tôn giáo, chẳng phải là khoa học, mà cũng chẳng phải là triết học. Vì khoa học (chỉ phần lớn triết học Tây Dương) đều nghiên cứu ngoại tại, còn tôn giáo nghiên cứu nội tại.
2. Sở dĩ Phật giáo vĩ đại là do nhiều học giả Phật giáo đã thật sự nắm được tác dụng vi diệu của cái tâm, cũng như do nhiều Phật giáo đồ đã thật sự đạt được giải thoát. Chân lý tôn giáo dành cho nhân sinh thọ dụng. Khoa học và triết học Tây Dương trong hiện thời đã đem lại cho chúng ta những gì? Chỉ là khiến cho chúng ta có cảm giác sợ hãi, cảm thấy thần kinh thác loạn mà thôi!
Người biên tập tạp chí này do bận việc đã giao bản thảo của Ngài cho tôi, bảo hãy đáp thay. Tôi đọc bản thảo, biết gia đình Ngô tiên sinh nhiều đời thờ Phật, chính mình lại coi trọng thực tiễn, chỉ mong tăng trưởng tri kiến mà đưa ra nghi vấn. Kẻ hèn này vâng mạng đáp lời, xin thanh minh trước. Một là căn cứ trên giáo nghĩa, hai là chẳng chú trọng tranh biện, ba là chẳng nương theo thói ưa thích hiện thời để giải thích cong vạy! Chỉ mong giải trừ sự hiểu lầm của Ngô tiên sinh, tìm tòi thật nghĩa, đạt đến nguyện lực của chính mình. Giáo học Phật giáo là nhất trí mà thực tiễn, đó là điều tôi thơm thảo mong cầu.
1. Xét về tánh chất, Phật giáo đích xác thuộc về tôn giáo. Lịch đại tổ sư từng có các trước tác [giảng giải cặn kẽ về] giáo thừa, giáo nghi, giáo tướng v.v… Phán giáo, hộ giáo, phân biệt giáo hạ, giáo nội, giáo ngoại v.v… đủ có thể chứng tỏ [Phật giáo là tôn giáo]. Hiện thời, kiêng nói [Phật giáo] là tôn giáo là vì một số ít người chuộng thói thời thượng, nếu bảo Phật giáo là tôn giáo, sợ bị rơi vào mê tín, chẳng bằng nói là khoa học và triết học, khoác lấy phong thái Tây Dương sẽ hợp với trào lưu hiện thời hơn! Nhưng Phật giáo được gọi là Phật giáo vốn là vì có chỗ lạ lùng, đặc biệt. Trong bất cứ tôn giáo nào, ắt có một vị thần tối cao được sùng bái nắm quyền thưởng phạt; Phật giáo chẳng có [khái niệm ấy], chỉ nói nhân quả là do chính mình. Chúng sanh, tâm, Phật, ba thứ chẳng sai biệt. Đó là chỗ khác biệt các tôn giáo vậy! Phật giáo có Ngũ Minh (Pañcavidyā), một là Nội Minh (Adhyātmavidyā) chuyên nghiên cứu nội tại. Kinh văn trong Tam Tạng chuyên luận về chuyện này, nên gọi là nội điển. Hai là Nhân Minh (Hetuvidyā) thuộc về Triết Học. Ba loại kia là Thanh Minh (Śabdavidyā), Y Dược Minh (Cikitsā vidyā), và Công Xảo Minh (Śilakarmasthāna vidyā) đều thuộc về khoa học. Vì thế, nếu có kẻ nói Phật giáo chẳng phải là tôn giáo, mà là khoa học và triết học, cũng hợp lý, bất quá là thiên lệch, chẳng viên mãn mà thôi.
2. Phật pháp nói tâm có nhiều thứ. Đây là nói cái tâm minh tâm kiến tánh chẳng phải là quả tim hữu hình, chẳng phải là sức suy nghĩ thuộc về tư tưởng vô hình, chẳng phải là ý niệm chẳng ngừng trong từng sát na, mà là ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt. Chân Như ví như uống nước, ấm lạnh tự biết. Nếu người học có thể nắm được, ở mức độ nông cạn thì gọi là kiến đạo, ở mức độ sâu thì là chứng đắc. Giải thoát có liễu nghĩa và bất liễu nghĩa khác biệt. Bất liễu nghĩa là cảnh giới thuộc phương diện so sánh, như khổ và vui trong hiện thời, trong tương lai là nhân, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, các địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa Bồ Tát, địa vị sau giác ngộ cao hơn địa vị trước, so với địa vị trước, địa vị sau được gọi là giải thoát. Liễu nghĩa giải thoát chính là hai thứ Phần Đoạn sanh tử và Biến Dịch sanh tử đã hết, chính là Vô Trụ Niết Bàn. Do đã trừ khử các thứ trói buộc Hoặc, Nghiệp, Khổ, nên gọi là Giải. Do chẳng bị sanh tử câu thúc nên gọi là Thoát. Tiên sinh nói nhiều người học đã nắm chắc tâm, nhiều giáo đồ đã được giải thoát, thời cổ thì đúng là như thế, hiện thời dường như khó thể nói là nhiều!
Tôi thừa nhận Phật học xét theo lý luận, nhấn mạnh Phật giáo là một tôn giáo thuần là trí huệ. Lại còn được người xưa theo đuổi như vậy, nhưng thành tựu ra sao? Tôi chẳng thể không hoài nghi; những câu hỏi chủ yếu đối với Phật giáo là:
3. Đúng như người biên tập đã nói: Cội nguồn ở nơi sanh tử, nhưng điều được Phật học mong cầu cũng nằm ngay trong liễu sanh tử. Tất cả kinh điển Phật giáo đều tập trung vào vấn đề này; nhưng vấn đề này có được giải quyết hay chăng? Câu trả lời của tôi là phủ định. Vì nếu vấn đề này đã được giải quyết, những kinh điển sẽ được chất lên gác cao, mọi người chẳng cần phải nghiên cứu nữa.
4. Vì chúng ta chỉ cần tin tưởng kết luận ấy, bèn có thể liễu sanh tử, giống như lý luận để phát minh ra đèn điện phải trải qua trăm ngàn lần thí nghiệm, cho đến một hôm nghiên cứu thành công, chúng ta chỉ cần bật công tắc, ai nấy đều có ánh sáng, mọi người cần gì phải tốn tinh lực đích thân làm thí nghiệm nữa?
5. Đạo lý Phật học cũng là như thế, nếu học thuyết luân hồi đúng là chuyện có thể chứng thực, chỉ cần người ta tin tưởng đạo lý ấy, còn có ai dám làm càn, làm quấy nữa ư?
6. Vấn đề hiện thời là học thuyết luân hồi vẫn chưa có suy luận đáng tin cậy để biến thành một loại sự thật. Chỉ vì nó vẫn chưa có suy luận đáng tin cậy, nên mới có nhu cầu nghiên cứu Phật pháp. Chỉ vì bản thân Phật pháp vẫn chưa có được một định luận (lý luận chắc chắn, quyết định) đích xác, thiết thực, chẳng thể chuyển dời, [hễ có được lý luận ấy thì] trong tương lai, Phật pháp mới có thể mở rộng. Chúng ta cần phải nhận rõ điểm này, vấn đề nẩy sanh ở ngay chỗ này.
3. Đối với vấn đề sanh tử như trong kinh Phật đã nói, tiên sinh phủ nhận vấn đề ấy đã được giải quyết, lại còn nói nếu đã giải quyết, kinh điển có thể chất lên gác cao. Y giáo phụng hành, công phu đã đạt đúng mức thì vấn đề đều được giải quyết. Kinh Phật có chép [tiểu sử] của nhiều vị Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, sau đó là Thiền Tông ngữ lục trong nhà Thiền, vãng sanh truyện của Tịnh Tông v.v… đã chép chuyện họ đến đi tự tại rất lạ lùng, mỗi vị đều có văn bản có thể chứng thực, sao lại bảo là chẳng có? Bất quá là tin và chẳng tin, không thể cưỡng ép được! Nếu nói là buộc kinh để lên gác cao thì người đã liễu sanh tử cố nhiên có thể buộc kinh cất trên gác cao, nhưng chúng sanh vô biên, há có nên chẳng tặng lại cho người sau ư?
4. Bật công tắc bèn có ánh sáng chính là bước cuối cùng. Trước khi bật cái nút ấy, ắt phải có nút, có đường dây, có đèn, có máy móc, có điện, có kiến trúc, có kỹ sư, có công nhân v.v… các thứ kế hoạch và thiết bị. Nếu không, phải hướng về đâu để ấn nút? So theo thí dụ của tiên sinh thì kinh Phật giống như sách hướng dẫn sử dụng, người học như người trù bị của công ty lắp đặt điện khí. Không trải qua các thứ thủ tục [chuẩn bị], làm sao có thể ấn nút bèn có ánh sáng phát ra? Còn như mỗi nhà tiêu dùng ấn nút bèn có ánh sáng, bất quá là nhờ vào người khác mà được thọ dụng. Khi họ chẳng cung cấp điện, dẫu ấn nút, cũng chẳng sanh ra ánh sáng. Điều này ví như người học chính mình chẳng vận dụng công phu, chuyên cậy vào Phật lực gia bị, nói chung là khi lâm chung bèn chẳng liễu nghĩa, rốt cuộc chẳng phải là triệt để liễu nghĩa.
5. Sự thật là sự thật. Hiểu hay chẳng hiểu là do con người, tin và chẳng tin cũng do con người, nhưng sự thì có khi bày ngay ra trước mặt, có thể nghe, có thể thấy, mà cũng có khi [sự thật] chẳng ở trước mặt, chẳng thể nghe, chẳng thể thấy. Đối với chuyện có thể nghe, có thể thấy, chưa chắc đã không nhận biết sai lạc; chuyện chẳng thể nghe, chẳng thể thấy, không thể quả quyết ắt phải là chẳng có. Ba mươi năm trước, nếu có người nói đến bom nguyên tử, ắt bị mọi người cười là chuyện thần thoại. Nếu con người do trí lực, có thể dời chuyển vật chất thành tinh thần, mấy chục năm sau không chừng khoa học có thể trắc nghiệm về sự luân hồi. Chúng sanh trong cõi này mê hoặc, điên đảo, cứng cỏi, khó hóa độ, đối với chuyện chẳng thể bày ra trước mặt, người mê nặng nề cố nhiên chẳng thể ngộ. Dẫu là việc bày ra trước mặt, kẻ không tin vẫn là cả đống! Nhà giam trọn khắp cả nước, ai mà chẳng nghe, chẳng thấy? Cớ sao kẻ phạm tội vẫn dám phạm tội?
6. Đức Phật dạy chúng sanh, có Tam Lượng để hiểu lý, có Lục Thông để chứng sự. Tam Lượng là Hiện Lượng, Tỷ Lượng, và Thánh Giáo Lượng. Lượng (量) là giống như thưng, đấu để đong gạo, hòng biết số lượng. Hiện Lượng (現量) là chuyện bày ra trước mắt, có thể nghe, có thể thấy, như học hành tốt nghiệp bèn có thể đạt được học vị. Làm chuyện gian trá, vi phạm quy chế thi cử, liền vào nhà giam v.v… Tỷ Lượng (比量) là thấy nghe chuyện ấy bèn có thể suy đoán sự việc, như ban đêm nhìn xa xa thấy nhà sáng choang, biết là có đèn, cách vách bốc khói bèn biết là dưới đó có lửa v.v… Thánh Giáo Lượng (聖教量) là nói tới bậc thánh nhân hành viên mãn, ngôn giáo do Ngài đã lập chính là kinh điển Tam Tạng mười hai bộ loại. Do sự thật hiện tiền bèn có thể chỉ rõ thì dùng Hiện Lượng. Nếu dùng sự thật hiện tiền sẽ chẳng thể chứng minh thì dùng Tỷ Lượng. Cả hai cách ấy đều không dùng được, chỉ đành lấy nhân cách để đảm bảo, tin tưởng ngôn giáo của vị [chỉ dạy ấy] chẳng dối gạt, [đó là Thánh Giáo Lượng]. Trong kinh A Hàm, kinh văn chép lời đức Thế Tôn kể về chuyện luân hồi trong lục đạo của chính mình, đâu đâu cũng thấy, sao lại nói luân hồi chẳng có suy luận nào đáng tin cậy, chẳng có định luận chân xác, thiết thực! Ngay cả kinh sử Nho gia cũng ghi chép chuyện này khá nhiều. Kinh Dịch có câu du hồn vi biến (cái hồn bềnh bồng biến hóa), Tả Truyện nói Bành Sanh làm lợn, sách Quốc Ngữ ghi Đỗ Bá làm quỷ bắn [Châu] Tuyên Vương ở đất Hạo, Sử Ký ghi Thân Sanh đã chết, Hồ Đột trở về nước cải táng, gặp mặt trò chuyện[28], Tấn Thư chép Dương Hỗ nhớ chuyện đời trước, sang nhà hàng xóm lấy chiếc vòng[29] v.v… chẳng thể nêu trọn. Nước Anh hiện thời là quốc gia có lắm quỷ, người đời đều biết. Chẳng phải là riêng mình kinh Phật nói như thế. Đó là dùng Tam Lượng để lý giải vậy! Kinh thường chép Phật hoặc La Hán, tới lúc tất yếu có thể cho đối phương mượn thần thông, khiến cho người ấy biết trạng huống trong đời trước, đó là dùng thần thông để chứng thực sự việc vậy.
7. Nếu Phật giáo nghiên cứu vấn đề sanh tử cũng giống như khoa học và triết học truy cầu chân lý, vậy thì đối với vấn đề nghiên cứu tình hình sau khi chết chỉ có hai khả năng:
Một là chết rồi bèn có luân hồi.
Hai là sau khi đã chết, chẳng có luân hồi.
Nếu là trường hợp trước, đương nhiên là do giải tín mà sanh khởi tín tâm. Vạn nhất bất hạnh là trường hợp sau thì Phật giáo há chẳng phải là không có giá trị tồn tại? Đấy chẳng phải là từ giải tín ngược ngạo dẫn đến bi kịch diệt tín? Căn bệnh của khoa học là ở ngay chỗ này, họ chỉ chú trọng sự thật, chỉ chấp vào sự thật, chỉ coi sự thật là chân lý, chẳng biết đến hóa (biến hóa).
8. Các nhà khoa học nói con người chết đi [xác thân] sẽ mục nát, tinh thần cũng diệt vong theo. Họ biện giải đến đó liền kết thúc công việc, ngỡ là đã phát hiện sự thật. Sự thật là chân lý, nhưng họ chẳng quan tâm sự thật ấy đã khiến cho nhân loại kinh hãi, họ cũng chẳng tốt bụng biến hóa sự thật này thành một chân lý khác để làm cho nhân loại đạt đến giải thoát.
9. Các nhà triết học cũng giống như vậy. Họ càng nghiên cứu, càng thấy rõ sự thật, sự thật rốt cuộc là máu me đầm đìa. Do đó, họ càng bị đau khổ tấn công, Thúc Bổn Hoa (A. Schopenhauer) và Ni Thái (F.W. Nietzche) v.v… là như vậy. Vì sao họ có hậu quả như vậy? Là vì họ đều theo đuổi cái Biết, đều là lý trí thuần túy, nên chẳng dễ đạt đến giải thoát!
7. Đối với hai chữ Chân Lý, Phật pháp xác thực là khẳng định, hễ có mảy may mơ hồ thì sẽ không được. Chân lý chính là cái lý vĩnh hằng, triệt để, chẳng phân biệt thời gian và không gian. Đó gọi là theo chiều ngang trọn khắp mười phương, chẳng đổi dời, theo chiều dọc trọn khắp ba đời chẳng thay đổi. Tà thuyết gặp phải chân lý sẽ không thể ngăn trở được. Thánh nhân có xuất hiện lần nữa cũng chẳng thể thay đổi. Nếu là chẳng viên mãn, không có kết luận nhất định, hôm qua đỏ, bữa nay trắng, có sửa đổi cho đúng, có bổ sung, có phát hiện mới (ngoại trừ phương tiện nói quyền biến ra) v.v… sẽ đều chẳng phải là chân lý! Nếu nói tới chuyện liễu thoát sanh tử, chỉ có Phật pháp là chân lý, chẳng có gì cao hơn được! Càng phải nên biết: Hễ có luân hồi thì là chuyện sanh tử lưu chuyển của phàm phu. Chẳng có luân hồi là tu chứng quả Niết Bàn. Nói lùi lại một bước, dẫu chẳng bàn đến pháp xuất thế của đức Phật, hãy đem cái học của Duy Thức, Nhân Minh v.v… so với pháp thế gian, cũng đều vượt trội Lão Trang, Công Tôn Long[30] của phương Đông, Tô Cách Lạp Để (Socrates) và Bách Lạp Đồ (Plato) của phương Tây, quyết chẳng lo gì đến bi kịch diệt mất.
8. Sự thật trong Phật pháp lại chẳng mơ hồ như thế! Thật là chân thật. Phàm hết thảy các duyên hòa hợp bèn có sự, nói là sự tướng, chẳng nói là sự thật, vì nó là hiện tướng (tướng được biến hiện) thoắt sanh, thoắt diệt, như mộng, huyễn, bọt, bóng, sương, chớp, đều chẳng phải là cảnh thật sự. Sự đã chẳng thật, há có chân lý? Ngay trong khi người ấy khởi Hoặc tạo nghiệp, chấp trước chẳng bỏ, dùi lỗ sừng trâu[31], há có pháp và người giải thoát!
9. Những kẻ ấy (các nhà khoa học và triết học) tuy đề cao lý trí, nhưng họ đi theo đường lối chẳng phải là Niết Bàn, nên chẳng đạt được giải thoát. Cái gọi là giải thoát chính là một trong ba điều trọng yếu của Niết Bàn, hai điều kia là Pháp Thân và Bát Nhã. Đúng là tuy ba mà một, tuy một mà ba. Phái ấy cũng có tỷ dụ, như gã thầy thuốc nửa vời, tuy có thể chẩn bệnh, nhưng chẳng biết dùng thuốc, nên chỉ có thể nói những lời lẽ cao xa, thiếu thực tế! Phật chẳng vậy, Ngài được gọi là Đại Y Vương vì có thể khéo ứng theo căn bệnh mà cho thuốc!
Còn như tôi nhấn mạnh Phật giáo chẳng phải là khoa học và triết học nhằm khiến cho Phật giáo tránh khỏi đi vào lối rẽ của khoa học và triết học.
10. Phật giáo cần phải tiếp nhận sự thật, nhưng chớ nên chấp trước sự thật, càng chẳng thể coi sự thật là chân lý, mà là khiến cho sự thật được trở thành tốt đẹp hơn.
11. Dẫu con người sau khi chết chẳng có luân hồi, Phật giáo vẫn nghiễm nhiên có giá trị phát triển. Đó là nói theo tình cảm, chẳng nói theo lý trí. Đạo lý này giống như khi người bạn thân của chúng ta đã khuất bóng trên cõi đời. Trên phương diện lý trí, chúng ta biết người ấy chẳng tồn tại nên bi ai, nhưng trên mặt tình cảm, vẫn cảm thấy người ấy ở cạnh chúng ta. Vì vậy, tôi chủ trương niềm tin trong Phật giáo chẳng phải thuần là lý trí, mà là tình cảm. Từ niềm tin mang tánh chất tình cảm này, chúng ta lại xem xét phương diện thực tiễn của Phật giáo.
10. Phật pháp có tự thuyết ngữ và tùy thuận ngữ. Tiên sinh nói đến hai chữ sự thật thì đó vốn là từ ngữ thông dụng trong hiện thời, để trả lời câu hỏi này, kẻ hèn này tạm thời sử dụng. Phật pháp phân tích hết thảy tột bậc vi tế, các danh từ đối đãi cũng có nhiều thứ. Sự và Lý chính là một loại trong các thứ danh từ đối đãi ấy. Nhưng theo cách nói của nhà Phật, Sự chẳng lìa Lý, Lý chẳng rời Sự. Nếu chúng chẳng ăn khớp với nhau, sẽ chẳng hợp La Tập (logic). Nói đến chấp trước, tiên sinh lại càng chẳng cần phải lo nghĩ nhiều, há chẳng nghe kinh Kim Cang nói những câu như không có bốn tướng, tức là [không có] ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng và thọ giả tướng, cái được gọi là Phật pháp thì chẳng phải là Phật pháp. Pháp còn nên bỏ, huống hồ phi pháp v.v… ư? Phật pháp đã phá Ngã Chấp, và cũng phá Pháp Chấp, lại còn phá tà chấp phi pháp. Còn như sự thật được mỹ hóa thì đúng là như vậy. Sau khi đã giải thoát, bèn có thánh cảnh Tịch Quang, trang nghiêm Tịnh Độ. Trước khi giải thoát, bèn ứng với Ngũ Giới, Thập Thiện, Lục Độ, vạn hạnh, tự giác, giác tha, lìa khổ được vui, không lúc nào, không chỗ nào chẳng là mỹ hóa! Không chỉ là mỹ hóa nhân gian, mà còn phải trang nghiêm địa ngục.
11. Căn cứ trên kinh điển, sách vở để luận, luân hồi đích xác là có. Nếu như chẳng có, vấn đề sanh tử đã tự nhiên được giải quyết, đó gọi là chết là hết chuyện! Cớ gì đức Thế Tôn phải bỏ ngôi Thái Tử tôn quý và sự giàu có trọn bốn biển để vào Tuyết Sơn chịu khổ, thuyết pháp bốn mươi chín năm? Do chẳng thể giải quyết, nên mới có đủ các thứ rườm rà. Khoa học nói con người đã chết, thần thức bèn diệt, Phật pháp gọi quan điểm ấy là Đoạn Kiến, là một trong các thứ tà kiến. Cần biết đức Phật đã được gọi là Y Vương, chẳng phải chỉ có một cách trị bệnh! Đối với bậc thượng trí, bèn nói Vô Trụ Niết Bàn, đối với hàng trung trí bèn nói pháp Thanh Văn và Duyên Giác, đối với kẻ hạ trí bèn nói pháp nhân thiên, đối với kẻ hạ ngu chỉ nói tới họa phước trước mắt, chẳng nói tới những điều khác. Trọn chẳng phải là mỗi buổi thuyết pháp, ắt đều phải nói tới luân hồi. Còn như đối với lòng tin, là tình cảm hay lý trí, thì cũng tùy thuộc căn khí của đối phương, bất tất quy định cứng ngắc! Đại khái là tín ngưỡng trong cõi nhân thiên và chuyện trước mắt phần nhiều xuất phát từ tình cảm, từ Thanh Văn và Duyên Giác trở lên, nếu chẳng do lý trí, sẽ không thể thực hiện được.
12. Tôi thường có một cách nghĩ nực cười: Một học giả Phật giáo thật sự đọc trọn khắp tất cả kinh điển, lại còn có thể minh tâm kiến tánh, và một Phật giáo đồ điều gì cũng chẳng biết, chỉ biết cầu thần bái Phật, thí xả, làm lành, rốt cuộc người nào sẽ đạt được giải thoát chân chánh?
13. Người trước là niềm tin thuần lý trí, người sau là niềm tin thuần tình cảm. Trong hai loại niềm tin ấy, ai nắm được chân lý thật sự? Theo cách nhìn của tôi, tôi đồng tình với người sau, người trước thuần là chấp trước vào sự hiểu biết, đúng như người biên tập đã nói: Pháp thế gian đều là mâu thuẫn, thường nói là pháp thế gian đều tương đối, chẳng có tuyệt đối… Xét theo tư tưởng thì tiên sinh mâu thuẫn với tâm thái thông thường của nhân sinh. Phật pháp chính vì giải quyết mâu thuẫn này mà tồn tại, nhưng Phật pháp hễ trải qua sự trình bày bằng ngôn ngữ hoặc văn tự thì lại trở thành tương đối.
14. Phật pháp đích xác là tương đối. Một người có tín tâm do thuần túy truy cầu lý trí, sẽ vĩnh viễn rơi vào tương đối, vì tư tưởng do mâu thuẫn tạo thành. Chỉ có cảm nhận trực tiếp bằng tình cảm thì mới có thể nắm chắc chân lý tuyệt đối. Đối với đạo lý này, tôi có thể nêu ra một thí dụ trong hiện thực.
15. Mẹ tôi tin Phật, nhưng căn bản là cụ chẳng hiểu Phật pháp là gì. Tự nhiên là cụ chẳng có nhân duyên văn tự, lại cũng chẳng biết minh tâm kiến tánh là gì. Điều kiện thiên bẩm khiến cho cụ về căn bản thì chẳng có cách nào đạt được giải tín thuần bằng lý trí, dấy lên lòng tin, nhưng cụ là một tín đồ kiền thành. Lại còn tin tưởng hết sức đáng yêu, cụ thường do thương chuột mà chừa cơm lại. Người khác kể khổ, dẫu là nói dối, bà cũng khóc đến nỗi mắt đỏ hoe, móc hầu bao ra. Có một lần cụ biết rõ kẻ khác nói dối, nhưng vẫn cứ cho tiền người ấy. Cụ nói cụ không thể chẳng làm như thế. Hành vi ấy chẳng thể giải thích thuần bằng lý trí được. Có một lần cụ biết tôi viết mấy bài văn xuôi về Phật giáo, bèn ngưỡng mộ nói: Các con biết chữ đúng là hay quá, hãy nên học tập nhiều hơn để mai sau bảo cho mẹ biết Phật học rốt ráo nói những gì? Khi ấy, tôi cảm khái nói: Mẹ ơi! Con không thể nói cho mẹ biết được, con hiểu ít hơn mẹ. Nhất cử nhất động của mẹ đều là Phật pháp. Khi ấy, cụ trách tôi là đã chòng ghẹo cụ. Thật ra, nếu tôi đổ hết công sức suốt đời nghiên cứu Phật pháp, cũng vĩnh viễn chẳng thể vượt hơn mẹ tôi được. Vì hành vi của cụ xuất phát tự nhiên, còn tôi là chỉ là về sau học được.
16. Sự bố thí, làm lành của cụ là tình cảm, dẫu tôi có thể bố thí, làm lành, vẫn ít nhiều bị ảnh hưởng bởi nhân quả, báo ứng v.v… vì tôi khởi lên tín tâm từ lý trí. So sánh giữa mẹ tôi và tôi, cảnh giới của cụ cao hơn, nhưng ngay cả Phật pháp là gì, cụ cũng chẳng hiểu!
12. Đọc trọn khắp kinh điển thuộc về Văn, minh tâm kiến tánh thuộc về Chứng. Người nghe mà chẳng tu, [chính là] kể chuyện ăn, đếm của báu. Trước khi chứng, ắt phải chuyên dốc tu tập. Thí xả, làm lành thuộc về Trợ Hạnh. Ba chuyện này, mỗi chuyện đều có phần hạn, chẳng thể nói lẫn lộn được! Chúng sanh ai ấy đều có thiên chấp, có kẻ thích nghe, có người chuộng trợ hạnh, có người chỉ cầu chứng, có kẻ làm kèm thêm những hạnh ngoài điều được coi là chánh yếu. Nếu chấp trước một lẽ, sẽ là thiên chấp. Nếu nói tới chuyện được giải thoát, chỉ có người minh tâm kiến tánh là đắc giải thoát, những trường hợp khác đều là mờ mịt!
13. Đọc kinh rồi bắt đầu tu tập là tự lợi. Đọc kinh mà bố thí, làm lành thuộc về lợi tha. Tự lợi và lợi tha chính là Bồ Tát Hạnh, mới được gọi là đã nắm chắc chân lý. Chỉ đọc kinh, chẳng tự tu, chẳng bố thí, làm lành, hoặc chỉ bố thí, làm lành, chẳng đọc, chẳng tu, đều trái nghịch chân lý!
14. Phật pháp có hai môn là Quyền và Thật. Quyền là phương tiện khế cơ, giả gọi là tương đối. Thật là khế lý Đệ Nhất Nghĩa, đích xác thuộc về tuyệt đối. Bất quá, hàng sơ cơ chẳng thể tiếp nhận Đệ Nhất Nghĩa. Nay tôi nói đại lược là thiện và ác, chân và giả, Thật và Quyền, phàm và thánh, phiền não và Bồ Đề, sanh tử và Niết Bàn v.v… đều là tương đối. Chẳng thể nói Đệ Nhất Nghĩa là thiện hay ác, cho đến sanh tử chính là Niết Bàn, ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt. Do vậy, nói Đệ Nhất Nghĩa của Phật pháp là tuyệt đối, chẳng có mâu thuẫn.
Lại nữa, toàn bộ lời cao luận của tiên sinh đa phần coi trọng tình cảm, bài xích lý trí. Nói theo pháp thế gian, tình cảm cũng có tà và chánh. Ưa điều lành, chuộng đạo thì là tình cảm chánh đáng. Ham người chuộng vật là tình cảm thuộc loại tà. Tiên sinh quả thật thuộc về loại trước, tự nhiên là đáng quý. Xét theo lý trí, thì cũng chia thành thánh và tục. Thế Trí Biện Thông là tục, Chánh Đẳng Chánh Giác là thánh. Tiên sinh biết loại trước, nhưng chắc là chẳng biết loại sau, ở đây, tôi sẽ trần thuật. Bản tánh vốn tịnh, nên gọi là viên trí. Do nhiễm vô minh, nên gọi là tình thức. Viên trí Chân Như đầy đủ các đức năng, do tình thức lầm lạc sai sử, nên dấy lên phiền não. Do tình thức khởi Hoặc tạo nghiệp, nên có sanh tử. Viên trí Tịch và Chiếu cùng dung thông, nên đắc Niết Bàn. Tình thức là pháp sanh diệt, nên nói là vọng. Viên trí là pháp Niết Bàn, nên mới là chân. Người tu trì nếu đạt tới mức nghiệp tận tình không, chuyển thức thành trí thì mới là liễu nghĩa giải thoát. Tuy nói như thế, người mới học Phật mười người hết tám chín, đa số là do tình cảm mà theo vào Phật giáo, quá trình là như thế. Nhưng chẳng cầu khai trí, rốt cuộc e rằng khi gặp phải chướng ngại sẽ thoái chuyển.
15. Tiên sinh không thể phân tích rạch ròi thánh trí và tục trí, nên bài xích trí. Thái phu nhân tin Phật, thích bố thí, chẳng phân biệt, đúng là phiền não ít, vô minh mỏng, đấy chính là Chân Như khởi lên đức năng, có gì để nói là ra ngoài lý trí? Tiên sinh tuy vượt ra ngoài tình cảm, nhưng tiến lên tuần tự, cũng chẳng thể nói là vĩnh viễn tụt sau người khác.
16. Thái phu nhân dấy lòng [bố thí] tự nhiên, đừng lầm là tình cảm. Tiên sinh có điều e ngại, có điều mong cầu, bất tịnh chấp tướng, không thể nói là thuần lý trí. Nếu luận theo cảnh giới, đương nhiên chẳng bằng thái phu nhân, nhưng nếu có chí, ắt sẽ thành tựu, vẫn mong mai sau tinh tấn.
17. Nói tới chuyện phối hợp lý luận và thực tiễn, nỗi mâu thuẫn và mê hoặc của tôi càng lợi hại. Tôi đã từng oán giận Phật học và Phật giáo chẳng thể phối hợp, đấy là một hiện tượng rất đáng sợ. Dựa theo chuyện cá nhân tôi đọc kinh điển Phật giáo để nói, tôi cảm thấy đúng là triết học trong tháp ngà. Nói khó nghe hơn một chút, sẽ là thuộc loại đùa bỡn khái niệm. Dẫu trong ấy thật sự có đại đạo lý, cũng chỉ là một hai người có thể hưởng dụng. Phật giáo bình đẳng đối với chúng sanh, cớ sao chỉ một hai người mới có thể ngộ đạo lý ấy? Thuở Phật Thích Ca tại thế, ắt sẽ chẳng giống như vậy, vì Ngài đã dung hòa Phật học và Phật giáo với nhau!
17. Vấn đề Phật học và Phật giáo chẳng hòa hợp cũng là có phân biệt. Nếu là kẻ văn nhân hoặc học sĩ bình phàm, coi kinh Phật như triết học hoặc văn học để dùng [trong trước tác hoặc biện luận], mục đích vốn là như thế, chẳng tu tập, thì chẳng có gì để nói nữa. Nếu Phật giáo đồ mà chỉ nói suông, chẳng tu tập, đó chính là tự đặt mình ra ngoài Phật giáo, nắm níu sự phong nhã của thế tục. Đấy chính là hiện tượng Phật giáo suy vi khiến cho tiên sinh lo lắng mà kẻ hèn này cũng lo lắng.
Còn như ông nói [Phật giáo] là triết học trong tháp ngà và thuộc loại tư tưởng khái niệm, [nói như vậy] chẳng khỏi là hiểu lầm. Phật học tuy cao, nhưng khi nói, [đức Phật] đã chia thành từng thời kỳ. Lại còn xem xét căn khí để phân chia theo thứ tự. Vì lẽ đó, có năm thời diễn giáo, và ngũ thừa thuyết pháp, tam châu thuyết pháp[32] sai biệt, ắt khiến cho [Phật giáo] thích hợp trọn khắp ba căn, thâu gồm toàn bộ lợi căn lẫn độn căn, trọn chẳng cưỡng ép ai nấy đều phải biết đến Đệ Nhất Nghĩa Đế, cho nên chẳng thuộc loại triết học trong tháp ngà! Cổ nhân răn dạy: Hiểu mà chẳng hành, chính là kể chuyện ăn, đếm của báu. Ngàn ngày học giáo, chẳng bằng một ngày tu đạo. Vốn coi trọng tri hành hợp nhất, há có bao giờ chỉ là khái niệm suông! Lại hãy nên biết: Người có thể hoằng đạo, chẳng phải là đạo có thể hoằng người. Giáo vốn chủ trương tín, giải, hành, chứng, nhưng con người tự vạch giới tuyến, lỗi ở nơi người, chẳng phải do giáo vậy!
18. Điều khiến cho tôi có cảm giác mâu thuẫn nhất là Phật học phê bình mê tín, nhưng Phật giáo lại ít nhiều dính líu lắm thứ mê tín. Đối với vấn đề mê tín, theo lập trường tôn giáo, [mê tín] nhẹ nhàng đôi chút thì có thể coi là những nét điểm xuyết, nhưng những điều mê tín sau đây chẳng thể chấp nhận được như dùng tiền để hoàn nguyện v.v… Tôi đã bàn chuyện này với nhiều vị pháp sư, họ đều coi đó là chuyện của hàng ngu phu, ngu phụ, chẳng đáng để bàn tới trong Phật pháp. Điều này khiến cho tôi càng mê hoặc. Nếu họ (những kẻ làm chuyện mê tín) làm chuyện ngu ngốc, vì sao người học Phật chẳng điểm hóa họ? Nếu là trái nghịch Phật pháp, cớ sao Phật giáo chẳng [gạn đục] lắng trong cho họ?
19. Tôi cảm thấy nghiên cứu Phật pháp trong hiện thời thì chẳng nên đổ công sức nơi lý luận, vì tiền nhân đã dụng công chẳng ít, mà hãy nên nỗ lực nơi phương diện thực tiễn khiến cho Phật giáo nhất trí. Đó là nhiệm vụ của thế hệ chúng ta.
18. Dùng tiền hoàn nguyện, tuy chẳng phải là Phật pháp, nhưng cũng chẳng trái nghịch Phật pháp. Chúng sanh do gặp ách nạn, khởi tâm sám hối, muốn gieo phước điền, bèn hành bố thí, hoặc trang nghiêm chùa Phật, hoặc in kinh lưu thông, hoặc phóng sanh, cũng là công đức. Chẳng hiểu lý ấy mà làm chuyện đó thì mới gọi là mê tín. Nếu thật sự chẳng có lý ấy, mà ngược ngạo làm chuyện này, cũng gọi là mê tín. Nghi thức Phật giáo có lúc dường như kèm theo mê tín, nhưng đều có ý nghĩa, giống như những chuyện được chép trong Lễ Kinh của Nho gia theo pháp thế gian; nhưng đối với những thói tục về sau bị đưa vào Phật giáo thì lại cần phải luận định riêng!
19. Phật học và Phật giáo nhất trí, tất nhiên là lời luận định chắc chắn như vàng đá, nhưng muốn cầu thực tiễn, ắt phải dựa theo lý. Nếu xét theo lý, ắt sẽ là thực tiễn, và Lý Sự viên dung, chẳng lệch lạc phế bỏ bên nào! Lại nữa, nếu ít xét Lý mà hành thực tiễn cho nhiều, đối với tự lợi thì được, chứ nếu muốn lợi tha, cũng chẳng thể coi nhẹ giáo lý được!
20. Cuối cùng, nói về cá nhân tôi, tôi nguyện thà vĩnh viễn quẩn quanh trong chỗ mâu thuẫn, vì tôi kính sợ tuyệt đối. Tôi chẳng dám tưởng tượng một người đã nắm chắc tuyệt đối thì nhân sinh quan của người ấy rốt cuộc sẽ là như thế nào? Đồng thời, tôi cũng hoài nghi một người có thể truy cầu tuyệt đối hay không? Vì không chỉ ngôn ngữ và văn tự là tương đối, mà tác dụng của tâm cũng là tương đối. Tuyệt đối cũng có lẽ là một thứ cảnh giới truy cầu, nhưng chẳng có một ai có thể nắm bắt, đạt tới cảnh giới ấy! Giống như Niết Bàn là lý tưởng Phật giáo, rốt cuộc có mấy ai có thể đích thân nhập Niết Bàn?
20. Vấn đề tuyệt đối đã được nói rõ trong phần trước. Còn như tương đối thì muôn pháp trong thế gian không gì chẳng đều là như vậy, không chỉ riêng ngôn ngữ, văn tự mà thôi! Lại nói tới tác dụng của tâm, tâm là tâm, tác dụng của tâm là tác dụng của tâm, trong Phật pháp, tâm được chia thành chân và vọng. Trong phần trước đã giải thích đại lược chân tâm, thuần thuộc về tuyệt đối. Vọng tâm thuộc về tương đối, nên nó khởi tác dụng phải thuộc về tương đối, càng chẳng cần phải nói nữa. Vin nắm, đạt lên (đây là lời lẽ tùy thuận) cảnh giới chân tâm tuyệt đối thì chúng sanh đều có thể làm được, bởi chúng sanh đều có Phật Tánh, bất quá vấn đề là có chịu gánh vác hay chăng? Có thể nghiệp tận tình không, chuyển thức thành trí, đó chính là Niết Bàn, trọn chẳng phải là chuyện không tưởng. Đức Thế Tôn và các vị đệ tử Đại La Hán đều là người như vậy. Về sau, chư Tổ các tông Thiền và Tịnh, cũng như Cao Tăng Truyện, Cư Sĩ Truyện, Vãng Sanh Truyện, phần nhiều có chép các sự tích linh dị. Nếu chẳng phải là sự thật thì Tam Tạng mười hai bộ đều là hý luận cả rồi!
21. Tuy tôi học Phật với hy vọng giải thoát, nhưng nay tôi cảm thấy giải thoát đối với tôi cũng là một thứ hy vọng xa vời, vì hễ tôi còn có ý niệm giải thoát sẽ vĩnh viễn chẳng thể giải thoát. Đạo lý nhân sinh thường là như thế, quý vị truy cầu khoái lạc, sẽ đau khổ càng sâu. Quý vị mong thoát khỏi vinh hoa, vĩnh viễn chẳng thoát được. Quý vị muốn minh tâm kiến tánh, vĩnh viễn chẳng thể minh tâm, chẳng thể kiến tánh! Vì quý vị có nhu cầu, sẽ vĩnh viễn bị hãm nhập trong cảnh mâu thuẫn vây khốn. Những điều tôi vừa nêu trên đây đều là cách nhìn của cá nhân tôi, chắc cũng rất ấu trĩ, rất ngờ nghệch, nhưng phát xuất từ chân tình. Mong người biên tập cùng chư vị đại đức chẳng tiếc sức chỉ giáo!
21. Truy cầu tương đối, có tự và tha khác biệt. Hết thảy cái ở bên ngoài là Tha, đã thuộc về Tha thì chẳng thể luôn ắt có được. Đó chính là Cầu Bất Đắc Khổ trong tám khổ. Đại đạo tâm tánh nội tại thì là Tự, cầu nơi Tự ắt sẽ đạt được, bỏ [Tự] thì sẽ bị mất [sự tự tại], quyền ấy do chính mình điều khiển. Như tiên sinh đã nói, hễ có điều mong cầu, sẽ lâm vào cảnh mâu thuẫn, nói ngược lại thì chính là: Không cầu sẽ đạt được. Sự luận định ấy rất cao, trong Phật học cũng có thuyết này, nhưng có phần hạn. Ở đây, tôi lập ra một tỷ dụ: Có bệnh bèn cầu thuốc, sự mong cầu ấy nhằm trừ hết bệnh. Hết bệnh thì tình trạng bình thường sẽ hiển lộ, nhưng sự bình thường ấy chẳng do thuốc đem lại. Đã khôi phục bình thường mà cầu thuốc, sẽ thành chẳng bình thường. Phật học đến cuối cùng có pháp vô vi, kinh nói dâng cơm lên ngàn ức ba đời chư Phật, chẳng bằng dâng cơm cho một người vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng, lại có câu vô trí mà cũng vô đắc. Nhưng những điều này đều chẳng phải là chuyện của hàng sơ học. Sơ học ắt phải khởi sự từ hữu vi, hiểu một phần giáo, sẽ trừ một phần tướng. Khi đạt đến tột đỉnh thì mới như lời tiên sinh đã nói. Học phải theo thứ tự, chớ nên vượt cấp tràn lan! Lại nữa, tiên sinh hy vọng giải thoát, không biết là nói tới sự giải thoát như thế nào? Ví như ăn uống, mong ngọt thì phải ăn mật, muốn mặn thì phải ăn muối, gừng cay, mơ chua v.v… cũng đều phải có thứ tự. Nếu tán loạn chẳng chọn lựa đầu mối, nhiều ngõ rẽ, chẳng biết phương hướng, sẽ chẳng khỏi bàng hoàng vậy!
Nói thêm, trước hết tiên sinh nên học các pháp như Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Ngũ Uẩn. Học theo bất cứ học phái nào, ắt đều phải noi theo đường lối [của học phái] ấy, sau đấy sẽ lại nghiên cứu các kinh chuyên biệt, tu thì Thiền hoặc Tịnh, chọn lấy một môn, ắt sẽ tri hành hợp nhất, dần dần bước vào cảnh đẹp đẽ vậy!
Gà mái ấp trứng, thấy rõ là trứng nở ra gà, nhưng trong báo Bồ Đề Thụ số mười lăm, Lý cư sĩ trả lời cư sĩ Vương Phước Lang ở Đài Nam có nói: Hãy nên biết gà từ trong trứng sanh ra, nhưng gà trưởng thành bèn chẳng biết nó là do trứng mà có. Chẳng biết [cụ nói như vậy] nghĩa là sao? (Ngô Minh An hỏi)
Khoan nói tới gà, chúng ta là người, chỉ dùng chuyện người để nói, con người do từ tử cung nơi thân mẹ mà ra, xé bọc thai sanh ra, nuôi lớn trưởng thành, có thể tự biết cái tử cung nơi mình đã từng ở trong đó hay chăng? Có tự biết mình bị bao trong cái bọc thai hay không? Có thật sự đích thân thấy hay không? Có thể thật sự nhớ hay không?