Bát Nhã Ba La Mật Đa Hai đoạn đầu cuối ấy, tổng cộng bốn mươi bảy chữ chưa rõ xuất phát từ kinh nào. Lão Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa | Xem: 2


Câu Hỏi

Cổ đức dịch kinh, đầu các kinh phần nhiều mở đầu bằng các câu như như thị ngã văn v.v… vì tuân thủ di giáo, chỉ có Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là thuộc ngoại lệ. Toàn bộ kinh văn chỉ có vỏn vẹn hai trăm sáu mươi chữ, trừ chữ Xá Lợi Tử ra, từ Sắc bất dị Không cho đến cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú là hai trăm mười ba chữ. Trong bộ tân dịch Đại Bát Nhã, trong sáu trăm cuốn, có hơn hai trăm cuốn trong ấy tôi từng thấy đoạn kinh văn [gồm hai trăm mười ba chữ] ấy. Còn thì câu mở đầu gồm hai mươi lăm chữ Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách và đoạn cuối cùng gồm hai mươi hai chữ: Tức thuyết chú viết: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ Đề sa bà ha. Hai đoạn đầu cuối ấy, tổng cộng bốn mươi bảy chữ chưa rõ xuất phát từ kinh nào. Học nhân trì tụng kinh này, từ năm bốn mươi cho đến nay chưa hề lười nhác đôi chút, trọn chẳng phải là hoài nghi kinh này, bất quá là muốn biết ý nghĩa chân thật của cả bộ kinh mà thôi. Xin hỏi kinh này có phải đúng là là thuộc loại đơn hành bản (bản kinh lưu thông riêng biệt), hay là sau đời Lý Đường[34] trở đi, các vị tiên đức đã chọn lựa những điều trọng yếu trong các kinh, diễn dịch mà thành hay không? Xin phiền cụ hãy khai thị! (Triệu Siêu hỏi)

Trả Lời

Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh thuộc về Bát Nhã Bộ trong Đại Tạng Kinh. Bát Nhã có hơn sáu trăm cuốn, kinh này là một trong số đó. Người đời sau do vì lẽ tinh túy trong kinh này, nên lấy ra lưu thông riêng. Kinh này vốn có chín bản dịch[35], đã mất hai bản, nhưng nội dung và câu chữ của bảy bản dịch cố nhiên có sai khác, tựa đề kinh cũng không nhất trí. Chỉ riêng hai bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần và ngài Huyền Trang đời Đường không có chữ như thị ngã văn, năm bản kia đều có. Còn như đoạn chú ngữ Bát Nhã thì bảy bản dịch đều chép, bất quá thứ tự bất đồng. Cuối năm bản dịch kia đều có câu giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành. Bản cư sĩ đọc chính là bản dịch của ngài Huyền Trang, cũng là bản được lưu hành phổ biến nhất.