Đối với chữ Nịnh, ông Châu Khảo Đình từng viết: Cổ nhân nói Nịnh chỉ có nghĩa là mồm mép tép nhảy, đời sau mới dùng chữ Siểm (諂, nịnh hót, bợ đỡ) để giải thích. Theo đó, Nịnh có nghĩa là mồm miệng nhanh nhảu. Sách Thuyết Văn [Giải Tự] của ông Hứa (Hứa Thận) giảng: Dĩ xảo kỹ thủ duyệt ư nhân (Dùng sự khéo léo để làm đẹp lòng người khác). Thủ duyệt (取悅) đã bao hàm ý nghĩa siểm nịnh, thuần túy là từ ngữ châm biếm. Chứ mồm mép nhanh nhảu cũng chẳng có ý nghĩa châm biếm. Khổng Tử chẳng chuộng kẻ ăn nói khéo léo, khéo quan sát sắc mặt. Đối với học thuyết và tư tưởng, mỗi người có ý kiến riêng, chẳng tránh khỏi có chuyện tranh chấp môn hộ. Nhưng ai nấy đều có những điều họ tự cho là đúng, tự cho là sai, chẳng có gì là lạ! Hễ là chúng sanh bèn có phân biệt, chẳng riêng gì chuyện đạo khác nhau, chẳng thể cùng bàn định được. Dẫu là đồng đạo, mà vẫn có sự công kích lẫn nhau. Mạnh Tử chê Dương Tử và Mặc Tử là sai, Tuân Tử chê Mạnh Tử. Khổng Tử tán thưởng Lão Đam (Lão Tử), nhưng Hàn Xương Lê (Hàn Dũ) chê trách Lão Tử, đề cao Mặc Tử. Họ Hàn và họ Liễu[15] do văn chương mà kết bạn, Lý Cao vì văn chương mà tôn họ Hàn làm thầy, họ Hàn báng Phật, nhưng ông Liễu và ông Lý đều sùng Phật. Những trường hợp như vậy nhiều lắm, chẳng thể kể xiết. Người đời sau hễ thấy người khác tín Phật mà tròng thêm chữ Nịnh, đều là có ý châm biếm. Câu văn của ông Vương Tích lại có một ý nghĩa khác, [tức là] mang ý nghĩa biện hộ cho trai giới. Nho gia cúng tế, ắt phải trai giới, nhằm biểu lộ lòng thành kính, chẳng phải là bợ đỡ. Nếu bảo trai giới xuất phát từ sự bợ đỡ, Phật Thích Ca cũng trì trai giữ giới, Ngài bợ đỡ ai? Những lời lẽ xằng bậy đủ rối loạn tâm người ta. Do lòng người rối ren, mê hoặc, cho nên thiên hạ rối loạn.