Giới phi nịnh Phật, trai phi mị đạo (Giữ giới chẳng phải là nịnh bợ Phật, ăn chay chẳng phải là siểm... Lão Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa | Xem: 16


Câu Hỏi

Văn nhân xưa nay đối với những kẻ tin Phật phần nhiều gọi họ là nịnh Phật. Qua việc tra duyệt [tự điển] Từ Nguyên[13], [xét thấy chữ] Nịnh [có ý nghĩa như sau]: (1) Nịnh (佞) có nghĩa là tài năng. Như nói tự khiêm bèn thưa là bất nịnh (不佞, kẻ bất tài). (2) Khéo bợ đỡ, nhạy miệng. Luận Ngữ [có chép lời Khổng Tử]: Khéo biện bác, áp đảo người khác, nịnh nọt để làm gì[14]. Còn có những điều mục giải thích từ ngữ như nịnh nhân v.v… Nhân sĩ ngoài Phật giáo dùng chữ nịnh Phật để gọi kẻ tin Phật, có phải là ngụ ý châm biếm hay không? Lại nữa trong bài phú của Vương Tích (xem trong Từ Nguyên) có viết: Giới phi nịnh Phật, trai phi mị đạo (Giữ giới chẳng phải là nịnh bợ Phật, ăn chay chẳng phải là siểm mị đạo). Tôi cũng chẳng hiểu rõ ý nghĩa hai câu ấy, kính xin cụ từ bi khai thị cho! (Vạn Gia Hâm hỏi)

Trả Lời

Đối với chữ Nịnh, ông Châu Khảo Đình từng viết: Cổ nhân nói Nịnh chỉ có nghĩa là mồm mép tép nhảy, đời sau mới dùng chữ Siểm (諂, nịnh hót, bợ đỡ) để giải thích. Theo đó, Nịnh có nghĩa là mồm miệng nhanh nhảu. Sách Thuyết Văn [Giải Tự] của ông Hứa (Hứa Thận) giảng: Dĩ xảo kỹ thủ duyệt ư nhân (Dùng sự khéo léo để làm đẹp lòng người khác). Thủ duyệt (取悅) đã bao hàm ý nghĩa siểm nịnh, thuần túy là từ ngữ châm biếm. Chứ mồm mép nhanh nhảu cũng chẳng có ý nghĩa châm biếm. Khổng Tử chẳng chuộng kẻ ăn nói khéo léo, khéo quan sát sắc mặt. Đối với học thuyết và tư tưởng, mỗi người có ý kiến riêng, chẳng tránh khỏi có chuyện tranh chấp môn hộ. Nhưng ai nấy đều có những điều họ tự cho là đúng, tự cho là sai, chẳng có gì là lạ! Hễ là chúng sanh bèn có phân biệt, chẳng riêng gì chuyện đạo khác nhau, chẳng thể cùng bàn định được. Dẫu là đồng đạo, mà vẫn có sự công kích lẫn nhau. Mạnh Tử chê Dương Tử và Mặc Tử là sai, Tuân Tử chê Mạnh Tử. Khổng Tử tán thưởng Lão Đam (Lão Tử), nhưng Hàn Xương Lê (Hàn Dũ) chê trách Lão Tử, đề cao Mặc Tử. Họ Hàn và họ Liễu[15] do văn chương mà kết bạn, Lý Cao vì văn chương mà tôn họ Hàn làm thầy, họ Hàn báng Phật, nhưng ông Liễu và ông Lý đều sùng Phật. Những trường hợp như vậy nhiều lắm, chẳng thể kể xiết. Người đời sau hễ thấy người khác tín Phật mà tròng thêm chữ Nịnh, đều là có ý châm biếm. Câu văn của ông Vương Tích lại có một ý nghĩa khác, [tức là] mang ý nghĩa biện hộ cho trai giới. Nho gia cúng tế, ắt phải trai giới, nhằm biểu lộ lòng thành kính, chẳng phải là bợ đỡ. Nếu bảo trai giới xuất phát từ sự bợ đỡ, Phật Thích Ca cũng trì trai giữ giới, Ngài bợ đỡ ai? Những lời lẽ xằng bậy đủ rối loạn tâm người ta. Do lòng người rối ren, mê hoặc, cho nên thiên hạ rối loạn.

Từ Ngữ Phật Học Trong Phần Vấn Đáp