Hễ có hình tướng đều là giả dối. Nếu chấp trước vào cảnh thù thắng liền trở thành ma. Sao lại dính... Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ | Dịch Giả :Hòa Thượng Thích Minh Thành | Xem: 63


Câu Hỏi

Hễ có hình tướng đều là giả dối. Nếu chấp trước vào cảnh thù thắng liền trở thành ma. Sao lại dính mắc nơi tướng, khởi tâm mong cầu thầm cảm ứng?

Trả Lời

Lực tu hành đến nơi, cảnh Thánh mới tỏ tường; duyên lành phát sanh, pháp vốn như thế. Thế nên sắp chứng Thập địa, tướng hảo đều hiện tiền, do đó lòng chí thiết được âm thầm gia bị, đạo cao ắt ma thạnh. Hoặc vào thiền định đến chỗ sâu xa mà biến hiện tướng lạ. Hoặc lễ niệm thành khẩn nên tạm thấy điều lành, chỉ rõ là Duy tâm thì thấy mà không thấy chi cả. Nếu chấp vào thì ngoài tâm có cảnh, liền thành ma sự; nếu bỏ đi thì bài bác công năng thiện, không có lối để tiến tu.

Luận Ma Ha Diễn nói:

“Hoặc thật hoặc giả, chỉ là cảnh giới hiện lượng của tâm vọng nơi mình, vì không có chân thật nên chẳng vướng mắc. Hơn nữa, hoặc thật hoặc giả đều là một Chân như, một Pháp thân, vì không có sai biệt nên chẳng đoạn trừ”.

Luận Đại Trí Độ nói:

“Không bỏ, vì trong các pháp đều có sức trợ đạo. Không nhận, vì Thật tướng của các pháp rốt ráo Không, nên chẳng có được gì cả”.

Giáo lý của Tông Thiên Thai nói:

“Người nghi ngờ bảo rằng: Đại thừa bình đẳng, có tướng gì để bàn luận?

Hiện nay nói không phải thế. Chỉ vì bình đẳng nên gương trong thì hình bóng các nghiệp hiện ra. Khiến dùng pháp Chỉ Quán lắng đọng tâm tư, tâm dần dần trong sáng soi rõ mọi việc thiện ác. Như gương được lau chùi, mọi hình bóng tự hiện.

Thế nên biết, chẳng có mà có vì không có tự tánh mà duyên sanh; có mà không có, vì duyên sanh mà không có tự tánh. Thường âm thầm phù hợp chỗ chân thật, Trung đạo lặng lẽ vui buồn chẳng sanh, ý phân biệt dứt trừ, tâm rỗng rang dừng lặng mọi suy tư thì sao lại có sự mê lầm về được mất?

Hơn nữa, nếu phúng tụng kinh điển, thọ trì Đại thừa thì công đức sâu xa, quả báo nhiệm mầu như trong kinh chính Đức Phật so sánh:

Ví như có một người tài hùng biện như Ngài Văn Thù, giáo hóa mọi người khắp tứ thiên hạ đều đạt đến bậc Nhất sanh Bổ xứ. Nhưng nếu lượng xét về công đức thì người ấy chẳng bằng người dùng hương hoa cúng dường kinh điển Phương Đẳng được vật báu loại thấp. Ngài A Nan nghi ngờ, lúc ấy bảy Đức Phật hiện thân chứng minh thật có việc ấy.

Lại y theo lời dạy mà tu hành, được vật báu loại cao; thọ trì đọc tụng được vật báu loại vừa; cúng dường hương hoa được vật báu loại thấp.

Kinh Pháp Hoa nói: “Cúng dường khắp tất cả chúng sanh trong bốn trăm vạn ức A tăng kỳ thế giới, cho đến độ họ đều được đạo A La Hán, hết sạch các hữu lậu, ở trong thiền định sâu xa đều được tự tại, đầy đủ tám thứ giải thoát, chẳng bằng người tùy hỷ thứ năm mươi”.Kinh còn nói:

“Nếu chỗ người đọc tụng kinh thì mảnh đất ấy đều là Kim Cang. Chỉ vì chúng sanh nhìn bằng mắt thường nên không thể thấy”.

Nam Thông Cảm Sơn Truyện ghi rằng:

“Trong tháp vàng của bảy Đức Phật có ấn bạc. Nếu người tụng kinh Đại thừa lấy ấn bạc ấy ấn vào miệng thì sẽ không quên sót”.

Kinh Quán Phổ Hiền nói:

“Nếu bảy chúng đệ tử phạm giới, muốn trong khoảng khảy móng tay diệt trừ tội sanh tử của trăm ngàn muôn ức A tăng kỳ kiếp. Cho đến muốn được chư Đại Bồ Tát Văn Thù, Dược Vương mang hương hoa đến trong hư không dâng cúng thì nên tu tập kinh Pháp Hoa này, đọc tụng Đại thừa, nghĩ nhớ về việc làm Đại thừa, khiến cho Trí tuệ Không kia tương ứng với tâm”.

Kinh Bát Nhã nói:

“Cư trú ở nơi hang động vắng lặng không có các ác thú. Bảo rằng nghe pháp ngày đêm sáu thời, siêng năng đọc tụng âm thanh không cao thấp, tâm chẳng duyên theo ngoại cảnh, chuyên lòng nghĩ nhớ giữ gìn”.

Trong kinh Hiền Ngu nói:

“Người tu hành muốn thành tựu Phật đạo, cần phải ưa thích kinh điển và giáo pháp, đọc tụng diễn thuyết. Dù cho cư sĩ thuyết pháp, chư Thiên long thần cũng đều đến nghe, huống gì là người xuất gia.

Người xuất gia cho đến khi đi kinh hành, tụng kinh, thuyết kệ thường có chư Thiên đi theo nghe. Do đó, nên siêng năng tụng kinh thuyết pháp”.

Những lời trên đều là lời chân thành chắc thật từ kim khẩu, chẳng phải là tâm giả dối, lời nói suông.

Thế nên, người chí tâm đọc tụng chứng nghiệm chẳng sai, thường được các Đức Như Lai trong mười phương và Phật Thích Ca âm thầm hộ niệm, khen rằng: “Lành thay!”, trao tay xoa đầu, ở chung, lấy y khoác lên người, thâu nhận phó chúc, tùy hỷ gia bị, cho đến Thần vương hộ trì, Thiên tiên hầu hạ, thần Kim Cang đi theo ủng hộ, Đế Thích, Phạm Thiên rải hoa cúng dường, thành tựu nhân phước đồng với hư không pháp giới.

Nếu so sánh công đức thì còn hơn đem bố thí bảy thứ báu nhiều như số cát sông Hằng.

Người này thậm chí có thể nơi thân phàm tục mà đạt được linh thông, nhục thân bất hoại, lưỡi biến thành màu sen hồng, miệng thường thoảng hương chiên đàn.

Nghe một câu rốt ráo tiến đến Bồ đề, tụng nửa bài kệ công sánh bằng bậc Đại Giác. Ghi chép kinh văn quả báo được sanh lên cõi trời Dục giới, cúng dường người thọ trì, phước lớn hơn cúng dường chư Phật. Thật đáng gọi là uy lực của Phật Pháp chẳng nghĩ bàn! Muôn điềm lành, ngàn linh ứng đều do đây mà cảm; ba bậc Hiền, mười địa vị Thánh từ đó phát sinh, xuyên suốt cổ kim từ phàm đến thánh.

Ba nghiệp cúng dường, mười dạng thọ trì *, đều từ nơi giáo pháp chân thật này mà truyền trì không dứt. Nay tại sao lại sinh khởi phỉ báng, đoạn dứt việc xoay chuyển bánh xe pháp luân?