An tâm vào đạo phải thuận Chân không; Sao lại bài xích chân thật mà dựa vào giả dối, bỏ gốc theo... Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ | Dịch Giả :Hòa Thượng Thích Minh Thành | Xem: 10


Câu Hỏi

An tâm vào đạo phải thuận Chân không; khởi hạnh độ sanh, toàn trở về nơi Thế đế. Chỉ tỏ ngộ Pháp tánh mới thấu rõ Chánh tông, sao lại bài xích chân thật mà dựa vào giả dối, bỏ gốc theo ngọn, hữu vi nhiễu động tạo tác lăng xăng, hoặc loạn cuồng nguồn chơn vẩn đục nước tâm?

Trả Lời

Trong Đệ nhất nghĩa, chân cũng không lập; nơi Pháp giới bình đẳng, không có Phật và chúng sanh; trong môn Tục đế, chẳng bỏ một pháp.

Phàm có làm điều gì cũng đều là Phật sự, thế nên chư Phật thường y nơi Nhị đế mà thuyết pháp. Nếu không hiểu Thế đế thì cũng chẳng đạt đến Đệ nhất nghĩa đế.

Luận Duy Thức nói:

“Bác rằng không có Nhị đế là kẻ chấp Không bừa bãi, dù chư Phật có dạy cũng không thể chữa trị cho họ”.

Kinh Kim Cang nói:

“Người phát tâm cầu đạo Giác ngộ, chẳng nói tướng đoạn diệt của các pháp”.

Quốc Sư Hiền Thủ nói:

“Chân không chẳng hoại nghiệp quả duyên khởi thế nên tôn ti rõ ràng”.

Luận Kim Cang Tam Muội nói:

“Chân và Tục không hai mà cũng chẳng chấp là một, vì không hai nên tức là nhất tâm, không chấp vào một nên toàn thể là hai”.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

“Ví như hư không trong mười phương, hoặc quá khứ, hiện tại, vị lai tìm cầu không thể được, nhưng chẳng phải không có hư không.

Bồ Tát cũng vậy, quán sát tất cả các pháp đều không thật nhưng chẳng phải không có tất cả pháp. Như thật không khác, chẳng bỏ mất các việc làm, thị hiện tu hành những hạnh Bồ Tát cùng khắp, chẳng bỏ đại nguyện, điều phục chúng sanh, xoay chuyển bánh xe chánh pháp, chẳng phá hoại nhân quả”.

Còn nói, Đại Bồ Tát hiểu rõ tự thân cùng với chúng sanh xưa nay vắng lặng, chẳng kinh hãi, chẳng sợ sệt, siêng năng tu tập phước đức trí tuệ không thấy chán nản và đầy đủ.

Tuy biết tất cả pháp không có tạo tác mà chẳng bỏ tự tướng của tất cả pháp.

Tuy đối với các cảnh giới lìa hẳn tham dục mà thường ưa thích chiêm ngưỡng kính lễ sắc thân chư Phật.

Tuy biết không do người khác mà được ngộ nhập vào pháp, nhưng tìm nhiều phương tiện để cầu Nhất thiết trí.

Tuy biết cõi nước chư Phật đều như hư không nhưng vẫn thường ưa trang nghiêm tất cả các cõi Phật.

Tuy hằng quán sát vô nhân vô ngã nhưng giáo hóa chúng sanh không biết mỏi mệt.

Tuy nơi pháp giới xưa nay chẳng động mà dùng sức thần thông trí tuệ thị hiện mọi sự biến hóa.

Tuy đã thành tựu Nhất thiết trí mà tu hạnh Bồ Tát không ngừng nghỉ.

Tuy biết các pháp chẳng thể nói năng mà xoay chuyển bánh xe giáo pháp thanh tịnh, khiến cho chúng sanh hoan hỷ.

Tuy có thể thị hiện thần lực của chư Phật mà chẳng chán nản thân Bồ Tát.

Tuy đã vào nơi Đại Niết Bàn nhưng vẫn ở khắp mọi nơi thị hiện thọ sanh”.

Có thể thực hành hai pháp quyền biến và chân thật song song, như thế tức là việc làm của Phật. Thế nên, bài bác nhân quả tức là hạng ngoại đạo chấp Không, nếu dựa vào lý thể mà dứt tuyệt công dụng là hàng Thanh Văn thú hướng đến chỗ tịch diệt.

Vả lại, nếu lập Chánh tông thì pháp gì chẳng phải là tông, đã luận về Pháp tánh thì vật gì chẳng phải là tánh. Từ mặt mê vọng mà phá chấp thì quyền biến thiết lập phải quấy; từ mặt giác ngộ mà thấu rõ đồng nhất thì thật không lấy bỏ.

Điều hiện nay muốn nói là, đã không đồng với việc chấp trước sự tướng của phàm phu, cũng chẳng phải sự nghiêng về giả mà rời chân của Bồ Tát Tam Tạng, cũng không phải sự chuyên nhất cầu tịch diệt của hàng Thanh Văn Thông giáo.

Nếu nói về Có mà rời Không là nhân của vọng sắc, nếu nói về Không mà rời Có thì trở về quả đoạn diệt.

Nay muốn chỉ ra là, tánh tức là tánh nơi tướng nên chẳng ngại vạn vật sanh khởi; tướng là tướng nơi tánh nên chẳng trở ngại bản thể vắng lặng. Cảnh là cảnh chẳng thể nghĩ bàn, Không là Tánh không Đệ nhất nghĩa. Mở ra và thâu lại đồng thời, ngay nơi Không mà thường Có, tồn tại và diệt mất chẳng hoại, ngay nơi Có mà vẫn thường Không.

Do đó, giáo lý của Tông Thiên Thai nói:

“Giống như gương mới hiện các hình tượng, còn ngói gạch thì không thể nào ảnh hiện. Trong gương tuy có đủ mọi hình tướng nhưng rỗng không, không có gì. Vì vậy Pháp thân thanh tịnh vi diệu đầy đủ ba mươi hai tướng”.

Quốc Sư Thanh Lương nói:

“Phàm Thánh thông suốt nhau, ngay nơi tâm phàm mà thấy tâm Phật. Sự Lý song tu, dựa vào trí phàm mà cầu được trí Phật”.

Bậc Cao đức thuở xưa giải thích rằng:

“Những người không rõ ý chỉ trong Thiền Tông thường chấp Lý không rõ Sự, nói rằng tâm tánh vốn đầy đủ cần gì phải tu hành tìm cầu, chỉ cần dứt bỏ tình chấp thì Phật chân thật tự nhiên hiển hiện.

Những người học giáo pháp lại chấp Sự không rõ Lý, nói rằng cần gì phải chăm chăm tu tập lý pháp. Nếu cả hai hợp lại thì tốt đẹp, tách ra thì đôi bên tổn thương.

Thế nên, Lý Sự song tu để tỏ bày ý chỉ viên dung vi diệu. Dừng tâm dứt niệm gọi là Lý hạnh; ra công trên sự tướng gọi là Sự hạnh. Y nơi Bản trí là trí bản giác, đây là trí nhân. Tánh rỗng rang sáng suốt này gọi là trí. Thành tựu Lý hạnh ở trước, dứt tình chấp hiển bày Lý. Cầu trí Phật, tức là Trí giải thoát vô chướng ngại, đây là trí quả.

Đứng về mặt tròn sáng, quyết đoán là trí thì thành tựu Sự hạnh ở trước, do khởi hạnh thành tựu quả. Ở đây là thể tánh đồng cho nên y theo đây; tướng dụng khác nhau vì vậy mà tìm cầu, chỉ cầu tướng dụng chẳng cầu thể tánh.

Lý hạnh dứt tình chấp ở trước tức là duyên khởi trừ nhiễm, vì hiển bày thể tánh. Sự hạnh ra công tức là duyên khởi hiển tịnh, vì thành tựu tướng dụng”.

Vô Tướng Tông nói, những lời nói trên tướng dụng rõ ràng. Chỉ cần y theo Bản trí, tình chấp dứt sạch thì tướng dụng tự nhiên hiển bày. Vì vốn đầy đủ, cần gì phải phát khởi nơi Sự hạnh?

Viên Tông nói, tánh vốn đầy đủ nên khi dứt tình chấp chỉ cần dẹp trừ tướng dụng phần nhiễm, tự nhiên hiển bày thể chân thật.

Nếu không có Sự hạnh, không do đâu sanh khởi được tướng dụng phần tịnh. Như vàng tuy có thể làm ra các đồ trang sức, nhưng trừ bỏ tạp chất thì chỉ có thể hiển bày vàng, nếu không ra công tạo tác tất không sao được thành đồ trang sức. Lẽ nào khi vàng ra khỏi khoáng rồi, chẳng nhờ tạo tác tự nhiên trở thành đồ trang sức sao?

Nếu dứt tình chấp chấp chẳng phải nhờ vào Sự hạnh, vậy thì Đức Phật dạy tu tập đầy đủ há chẳng phải là khiến cho người học nhọc nhằn luống uổng hay sao? Thế nên, Bồ Tát Bát Địa đã có thể lìa niệm, Đức Phật còn khuyên bảo phát khởi Sự hạnh, nên biết vì lìa niệm chưa phải là xong. Cho nên văn nói:

“Pháp tánh chân thường lìa tâm niệm Nhị thừa ở đây cũng đạt được Chẳng do nơi đó thành Thế Tôn Chỉ bởi trí sâu xa vô ngại”.

Thất Khuyến đều là Sự hạnh. Thế nên biết, quả Phật tánh tướng phải đầy đủ, nhân hạnh Sự Lý phải song tu.

Dựa vào Bản trí giống như được vàng, tu tập Lý hạnh giống như trừ khoáng, tu Sự hạnh giống như tạo tác, cầu trí Phật giống như làm thành những đồ trang sức.

Từ Mẫn Tam Tạng Lục nói:

“Nếu bảo rằng Thế Tôn nói các pháp hữu vi nhất định giống như hoa đốm trong hư không hoàn toàn không có một vật, như thế gọi là giả dối”.

Đã giả dối không có hình tướng thì chẳng phải là nhân giải thoát, tại sao Thế Tôn lại dạy các đệ tử siêng năng tu nhân vi diệu Lục độ vạn hạnh để chứng quả Bồ đề Niết Bàn? Lẽ nào người trí lại khen ngợi lầu sò chợ bể là chân thật bền chắc cao đẹp, lại khuyên mọi người dùng sừng thỏ làm bậc thang để đi lên đó?

Do lý này nên tuy là phàm phu cũng có thể phát tâm Bồ đề, thực hành đạo Bồ Tát. Tuy họ tu tập trong hữu lậu nhưng đó cũng là sự tu tập chân thật và chính xác. Mọi vật hiện hữu tuy đều giả dối nhưng chẳng đồng với lông rùa không có gì cả. Ở đây nói giả dối là vì sự vật đều dựa vào nhân duyên sanh khởi huyễn có, chẳng đồng với vọng chấp cho là không ngơ.

Nếu người hiểu như thế, thường thực hành nơi sự tướng thì sự tướng không thể chướng ngại, nhanh chóng đạt được giải thoát. Mê mờ chấp chặt hạn cuộc, không thông suốt giáo nghĩa, tuy mong cầu lìa tướng mà thường bị tướng ràng buộc không thể giải thoát.

Lại nói, nếu chấp rằng sự tu hành của chư Phật trong ba đời là vọng tưởng thì dựa vào sự tu học gì mới đạt được giải thoát? Chẳng nương vào hạnh của Phật, y cứ vào nơi nào khác đều là hành vi của ngoại đạo.

Bậc Cao đức ngày xưa nói:

“Nếu một bề khoanh tay không làm, tự mình an ổn chẳng thực hành đạo nhân nghĩa tức là khiếm khuyết sự trang nghiêm, cho dù tu hành nhiều kiếp cũng không thành tựu. Chỉ cần chỗ chân thật chẳng nhận mảy trần, nơi Phật sự không bỏ một pháp là được”.

Hoàn Nguyên Quán nói:

“Chân thật bao hàm mọi cành ngọn hư vọng, không có hạnh gì mà chẳng tu hành; vọng thấu suốt nguồn chân, không có tướng gì chẳng lặng lẽ”.

Lại nói, Tánh chân như vốn tùy duyên một cách tự nhiên như thế. Vạn vật đồng phát sanh cũng trở về tánh thể một cách tự nhiên như vậy.

Kệ truyền pháp của Tổ sư nói:

“Tâm địa tùy thời nói
Bồ đề cũng như thế
Sự Lý đều vô ngại
Đương sanh tức chẳng sanh”.

Nên biết, Chân như không giữ tự tánh, thuận theo rỗng lặng mà vạn vật hằng sanh khởi; nhân duyên chẳng mất tự thể, mặc cho mọi sự hoạt động, tánh không vẫn thường lặng lẽ.