Gồm có 15 bộ: 1 Thất Phật, 2 Nhân duyên, 3 Chứng tích, 4 Giáng thai, 5 Xuất thai, 6 Thị dưỡng, 7 Chiêm tướng, 8 Du học, 9 Nạp phi, 10 Yếm khổ, 11 Xuất gia, 12 Thành đạo, 13 Thuyết pháp, 14 Niết bàn, 15 Kết tập.
Bộ thứ nhất: THẤT PHẬT:
Gồm có 9 phần: Thuật ý, Xuất thì, Tính danh, Chủng tộc, Đạo thụ, Thân quang, Hội số, Đệ tử, Cửu cận.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Từng nghe: Chín cõi phân chia, bốn loài khác tính. Sóng mê dễ nhiễm, tuệ nghiệp khó bồi. Lặn ngụp sông yêu, phiêu linh biển khổ. Không sinh thiện ý, chưa tỏ đèn lòng. Thế nên, những bậc đại Thánh thần thông, chí nhân đạt đạo, đều thu gom thế giới để làm thành tính; thâu tóm vũ trụ để tạo nên hình. Hình hiện hữu khắp nơi, tầm vĩ đại vượt ngoài quy củ; trí tạo nên tất cả, mức hành động cắt đứt nghĩ suy. Không thể đem chuyện nhân gian ước lượng, há được phép lấy nơi chốn luận bàn? Nếu muốn mở tung nhận thức cho đám ngu mê, cần phải đề cao linh tích của bậc chân giác. Điều ấy cũng giống gió trong hang lạnh lùa theo tiếng cọp gầm, áng mây lành vấn vương bên cạnh rồng lượn. Aûnh hưởng tương quan, lý thường vẫn thế. Đức Phật ta từ khi ở Lộc uyển hoằng dương, đến khi ở Kim hà đã khuất, linh tích thị hiện, hiển hách rất nhiều. Đã khiến chúng sinh trong thời tượng giáo có chứng nhiệm để phản tỉnh quy y. thậm chí, dù nghìn Phật linh tích khác nhau, vẫn một trí hướng cùng cứu cánh. Từ tâm bình đẳng vô biên, tuỳ ước vọng lợi sinh hoằng pháp; thệ nguyện trang nghiêm rộng lớn, chống thuyền từ cứu vớt đắm chìm. Nếu chúng sinh biết chân thành cảm nhận, chắc chắn có duyên cơ thể nhập vậy.*
Thứ hai: PHẦN XUẤT THÌ
Thuật rằng:
Nay căn cứ theo một Hiền kiếp, có thể phân chia ra bốn thời kỳ: 1/ là Thành, 2/ là Trụ, 3/ là Hoại, 4/ là Không. Trong bốn thời kỳ này, Thành kiếp đã qua, Hoại kiếp chưa đến. Hiện tại đang ở vào thời kỳ Trụ kiếp, nên có nghìn Phật xuất thế. Nói đại khái, đã có ba vị Phật xuất thế. Hiện nay đang là thời kỳ có di giáo của đức Phật thứ tư Thích ca mâu ni. Trong bốn thời kỳ này đều phân ra hai mươi Tiểu kiếp, tỏâng cọng có tám mươi Tiểu kiếp, mới thành đủ một Đại kiếp thủy hỏa phong, gọi là Hiền kiếp. Theo luận Lập thế A tỳ đàm, trong hai mươi Tiểu kiếp đặc biệt của Trụ kiếp, mười một Tiểu kiếp chưa đến, tám Tiểu kiếp đã qua. Hiện tại đức Phật Thích ca mâu ni sẽ thành Phật trong Tiểu kiếp thứ chín.
- Hỏi: “Trong các kiếp Thành, Hoại, Không của Hiền kiếp này, chư Phật không xuất thế. Trái lại, chỉ chọn trong Trụ kiếp. Trong đó, chỉ còn mười một Tiểu kiếp tương lai. làm sao có đến chín trăm chín mươi sáu vị Phật đồng thời xuất hiện được?”
- Đáp: “Một vị Phật xuất thế đã là khó khăn. Xưa nay, nhiều vị Phật cùng xuất thế quả nhiên càng khó khăn hơn. Tuy thế, nay dựa theo các kinh Dược vương Dược thượng. Sau đó, dẫn chứng phụ thêm kinh Phật danh. Nên nhớ rằng kiếp có ngắn dài không giống nhau, nên kinh Dược vương Dược thượng nói rằng: “Bấy giờ, Phật Thích ca mâu ni bảo đại chúng rằng, vào vô lượng kiếp xa xưa, trong thời mạt pháp của Phật Diệu Quang, ta từng xuất gia học đạo, được nghe tên năm mươi ba vị Phật này. Nghe xong chắp tay, sinh lòng hoan hỷ. Rồi ta lại dạy cho người khác, khiến họ cũng được nghe biết thụ trì. Người khác nghe xong, lại lần lượt dạy nhau, lên đến ba ngàn người. Tất cả, khác miệng một lòng, thành tâm kính lễ. Lập tức đều được siêu thóat mọi tội lỗi sanh tử trong vô số ức kiếp.
Nghìn Phật đầu tiên thì Phật Hoa Quang đứng đầu, xuống đến Phật Tỳ xá phù, đều thành Phật trong Kiếp Trang nghiêm. Ấy là chư Phật trong thời quá khứ. Nghìn Phật trong kiếp này, đứng đầu là Phật Câu lưu tôn, xuống đến Phật Lâu chí, lần lượt thành Phật trong Hiền kiếp. Nghìn Phật về sau thì đứng đầu là Phật Nhật Quang, xuống đến Phật Tu di Tướng, sẽ lần lượt thành Phật trong Kiếp Tinh tú.” Nếu theo kinh Phật danh: “Vào chín mươi mốt kiếp của thời quá khứ có vị Phật tên là Tỳ bà thi. Vào ba mươi kiếp của thời quá khứ, có vị Phật xuất thế tên là Thi khí. Ngay trong kiếp này, còn có vị Phật xuất thế, tên là Tỳ xá phù.”
Hỏi: Chín mươi mốt kiếp này là Đại kiếp hay Tiểu kiếp?
Đáp: Là Đại kiếp.
Hỏi: “Làm sao biết được?”
Đáp: Theo luận Cựu Bà sa nói, bồ tát nhân địa Thích ca, từ thời Phật Tỳ bà thi trở đi, đã vun trồng nhiều nghiệp tướng tốt. Đến nay, vào thời Trụ kiếp thứ chín, đã trải qua chín mươi mốt Đại kiếp. Do đó, luận Cựu Câu xá mới nói, bồ tát Thích ca nhờ kính lễ Phật Để sa hết sức tinh tiến, nên được siêu độ chín Đại kiếp, cuối cùng thành Phật. Thế mới biết chín kiếp ấy đã là Đại kiếp, chín mươi mốt kiếp kia há không phải là Đại kiếp chăng? Lại nữa, theo kinh Dược vương Dược thượng, các Kiếp Trang nghiêm, Hiền, Tinh tú, đều có nghìn Phật xuất thế, thì biết kiếp này cũng là Đại kiếp vô số lượng. Lại nữa, trong kinh Dược vương Dược thượng nói, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, thậm chí tất cả chúng sinh khác, nghe được tên năm mươi ba vị Phật này, thì trong trăm nghìn vạn ức vô số kiếp, sẽ không bị đọa vào Đường ác. Theo mạch văn này, lần lượt trong các kiếp gọi là Trang nghiêm, Hiền, Tinh tú, đều có nghìn Phật xuất thế. Thế mới biết đây là các Đại kiếp còn lớn hơn các Đại kiếp vô số lượng khác. Đến nay, trong Hiền kiếp có bốn vị Phật xuất thế cũng là đại kiếp vô số lượng, chứ không phải là Tiểu kiếp của Kiếp Trụ. Hiền kiếp đã là Đại kiếp, nên trong đó có nghìn Phật xuất thế là điều hiển nhiên, không còn có gì có thể nghi ngờ được nữa.
Lại nữa, kinh Trường A hàm nói: “Vào chín mươi mốt kiếp của thời quá khứ, có vị Phật xuất thế, tên là Tỳ bà thi. Lại vào ba mươi mốt kiếp của thời quá khứ, có vị Phật tên là Thi khí. Lại vào ba mươi mốt kiếp của thời quá khứ, có vị Phật xuất thế tên là Tỳ xá bà.” Hai vị Phật Thi khí và Tỳ xá bà, nói theo kinh Phật danh, đều cùng xuất hiện trong kiếp này, không có sự khác biệt về thời gian. Hoặc chấp nhận như kinh Trường A hàm phiên dịch thừa ra ba mươi mốt kiếp này.
Lại còn có một giải thích theo luận Lập thế a tỳ đàm, trong hai mươi kiếp của Trụ kiếp, tám kiếp đã qua. Trong đó, có ba vị Phật đã xuất thế. Đức Phật Thích ca sẽ xuất thế trong kiếp thứ chín hiện tại. Tức là trong chín kiếp trên đây, đã có bốn vị Phật xuất thế. Tương lai còn mười một kiếp. Trong đó, làm sao biết được chẳng có nhiều vị Phật sẽ xuất thế? Do đó, kinh mới nói rằng: “Đôi khi, trong một kiếp có vô số vị Phật xuất thế. Đôi khi, trong vô số kiếp trôi qua, không có một vị Phật nào xuất thế.” Theo nghĩa này suy ra, nếu trong một Tiểu kiếp có nhiều vị Phật xuất thế, cũng chẳng có trở ngại gì cả. Do căn cơ của chúng sinh có chỗ yếu mạnh khác nhau, nên nhận thức có chỗ không giống nhau mà thôi. (Ý nghĩa này rất khó nhận thức rất khó nhận thức, xin chờ các bậc hậu triết).
Quốc độ giáo hóa của nghìn Phật trong Hiền kiếp này, có thành quách bao bọc chung quanh, nằm khắp trong ba ngàn đại thiên thế giới. Các quốc độ ấy đều cư trú ở giữa. Bởi vì đức Phật là bậc hóa độ, giữa tâm rỗng lặng. Chúng sinh là kẻ được hóa độ, cũng chọn lấy chỗ cư trú ở giữa. Thế nên, ở đấy có Tòa kim cương. Các phương khác, cảnh giới khác đều không có Tòa này, nên đức Phật không ngự đến. Bởi thế, kinh Thụy ứng nói: “Quốc độ ở phương này là trung tâm của ba ngàn mặt trời mặt trăng và mười hai ngàn thế giới. Uy thần của đức Phật không cho xuất thế ở phía bên, đất sẽ vì thế mà nghiêng ngửa. Thế nên từ xưa, đức Phật đều xuất thế ở quốc độ trung tâm này.” Đồng tình với nhận định này, vì là một bằng chứng hùng hồn.
Như kinh Trường A hàm nói: “Vào chín mươi mốt kiếp của thời quá khứ, có đức Phật xuất thế, tên là Tỳ bà thi. Bấy giờ, con người thọ tám vạn tuổi. Lại vào ba mươi mốt kiếp của thời quá khứ, có đức Phật xuất thế, tên là Thi khí. Bấy giờ, con người thọ bảy vạn tuổi. Lại vào ba mươi mốt kiếp của thời quá khứ, có đức Phật xuất thế, tên là Tỳ xá bà. Bấy giờ, con người thọ sáu vạn tuổi. Lại vào thời quá khứ, trong Hiền kiếp, có đức Phật xuất thế, tên là Câu lâu tôn. Bấy giờ, con người thọ năm vạn tuổi. Lại nữa, trong Hiền kiếp, có đức Phật xuất thế, tên là Câu na hàm. Bấy giờ, con người thọ bốn vạn tuổi. Lại nữa, trong Hiền kiếp, có đức Phật xuất thế, tên là Ca diếp. Bấy giờ, con người thọ hai vạn tuổi. Nay ta xuất thế, con người chỉ còn thọ một trăm tuổi. Tăng ít, giảm nhiều.” Theo luận Trí độ luận ca diên, căn cứ vào con người của thời đức Phật Thích ca thọ một vạn tuổi, ngài quan sát thời thế rồi mới ra đời. Vì từ khi con người còn thọ một vạn tuổi, chưa có cơ duyên để hóa độ. Đến khi con người chỉ còn thọ một trăm tuổi, bị khổ sở hành hạ, kiếp này lại sắp hết, nên mới ra đời. Vì vậy, luận ấy nói: “Kiếp hết, chư Phật xuất thế. Kiếp mới bắt đầu, Chuyển luân vương xuất thế.” Hai điều không giống nhau này, thiên Chuyển luân vương sau đây sẽ nói đến.
Thứ ba: PHẦN TÍNH DANH
Phần sau đây đều nói theo các kinh Tăng nhất A hàm và Thất Phật phụ mẫu tính tự: “Thứ nhất là Phật Duy vệ. Thứ hai là Phật Thức khí. Thứ ba là Phật Tùy diệp. Ba vị Phật này cùng mang họ Câu lâu (kinh Trường A hàm nói, thứ nhất là Phật Tỳ bà thi. Thứ hai là Phật Thi khí. Thứ ba là Phật Tỳ xá bà). Thứ tư là Phật Câu lâu tần. Thứ năm là Phật Câu na hàm mâu ni. Thứ sáu là Phật Ca diếp. Ba vị Phật này cùng mang họ Ca diếp (kinh Trường A hàm nói, Phật thứ tư là Câu lâu tôn. Phật thứ năm là Câu na hàm. Phật thứ sáu cùng tên Ca diếp). Thứ bảy là Phật Thích ca mâu ni của chúng ta, họ là Cù đàm.
Thứ tư: PHẦN CHỦNG TỘC
Thứ nhất là Phật Duy vệ. Thứ hai là Phật Thức khí. Thứ ba là Phật Tùy diệp. Ba vị Phật này thuộc dòng dõi vua Sát lợi. Thứ tư là Phật Câu lâu tần. Thứ năm là Phật Câu na hàm mâu ni. Thứ sáu là Phật Ca diếp. Ba vị Phật này đều thuộc dòng dõi bà la môn. Thứ bảy là Phật Thích ca văn của chúng ta hiện nay. Ngài thuộc dòng dõi vua
Sát lợi.
Thứ nhất là Phật Duy vệ. Phụ hoàng tự là Bàn biếu, là vua Sát lợi. Hoàng mẫu tự là Bàn đầu mạt đà. Quốc hiệu cai trị là Sát mạt đề.
Thứ hai là Phật Thức khí. Phụ hoàng tự là A luân na, là vua Sát lợi. Hoàng mẫu tự là Ba la ha việt đề. Quốc hiệu cai trị là A lâu na hòa đề.
Thứ ba là Phật Tùy diệp. Phụ hoàng tự là Tu ba la đề hòa, là vua Sát lợi. Hoàng mẫu tự là Da xá việt đề. Quốc hiệu cai trị là A nậu ưu ma.
Thứ tư là Phật Câu lâu tần. Phụ thân là A chi đạt mâu, thuộc dòng dõi bà la môn. Thân mẫu là Tỳ xá ca. Quốc hiệu cai trị là Luân ha lợi đề na. Quốc vương tên là Tu ha đề.
Thứ năm là Phật Câu na hàm mâu ni. Thân phụ là Da thiểm bát đa, thuộc dòng dõi bà la môn. Thân mẫu là Uất đa la. Quốc hiệu cai trị là Tu ma việt đề. Quốc vương tên là Tu ma.
Thứ sáu là Phật Ca diếp. Thân phụ là A chi đạt da, thuộc dòng dõi bà la môn. Thân mẫu là Đàn na việt đề da. Quốc hiệu cai trị là Ba la tư. Quốc vương tên là Kỳ tùy.
Thứ bảy là Phật Thích ca văn ni của chúng ta hiện nay. Phụ hoàng là Duyệt đầu đàn, thuộc dòng dõi vua Sát lợi. Hoàng mẫu là Ma ha ma da. Quốc hiệu cai trị là Ca duy la vệ. Tiên vương tên là Bàn đề. (Nói một cách tổng quát, gồm có 4 dòng dõi: 1/ là bà la môn. 2/ là sát đế lợi. 3/ là tỳ xá. 4/ là thủ đà. Nhưng hai dòng dõi sau thấp hèn, không phải chỗ thác sinh của bậc chí tôn. Hai dòng dõi đầu cao quý, đúng là nơi thác sinh của bậc chánh giác. Bà la môn đức hạnh thanh cao. Sát đế lợi ân uy vang dội. Luận Trí độ nói: “Theo điều thời thế tôn sùng, Phật sẽ giáng trần hóa độ. Thế nên, Phật Thích ca ra đời trong lúc cường thịnh, mượn dòng dõi hoàng tộc để dương uy. Phật Ca diếp giáng sinh trong buổi thuận hòa, giữ trong sạch để đề cao đạo đức.”)
Thứ năm: PHẦN ĐẠO THỤ
Thứ nhất là Phật Duy vệ, đắc Đạo thành Phật dưới cây Ba đà la.
Thứ hai là Phật Thức khí, đắc Đạo thành Phật dưới cây Phân đồ lợi.
Thứ ba là Phật Tùy diệp, đắc Đạo thành Phật dưới cây Bồ tát la. Thứ tư là Phật Câu lâu tần, đắc Đạo thành Phật dưới cây Tư lợi.
Thứ năm là Phật Câu na hàm mâu ni, đắc Đạo thành Phật dưới cây Ô tạm.
Thứ sáu là Phật Ca diếp, đắc Đạo thành Phật dưới cây Câu loại.
Thứ bảy là Phật Thích ca mâu ni của chúng ta hiện nay, đắc Đạo thành Phật dưới cây A bái đa la.
Than ôi! Kèo vàng cột đỏ, chẳng phải là danh dự của bậc xuất gia; đệm cói, tùng râm, mới thật là thanh qui của kẻ nhập đạo. Sao vậy? Bởi thế tục cho hình hài đáng quý, nên chọn nhà đẹp đẽ nương thân; Đạo lấy gia thất làm mối lụy, nên bỏ phăng đi như cởi dép. Hết thảy những kẻ tước trọng quyền cao, đã có được mấy ai sớm giác ngộ? Như đức bổn sư Điều ngự của chúng ta, xứng đáng gọi là bậc vừa sinh đã biết. Từ khi giáng trần thuyết pháp đến khi thành Đạo nhập diệt, ngài đều ở dưới gốc cây. Đấy là ý chỉ cao cả siêu phàm. Thâm chí, ngài đã cắt tóc rút trâm, bài trừ danh lợi. Tấm gương sáng ấy, há chẳng đáng để chúng sinh dốc lòng ngưỡng mộ noi theo?
Thứ sáu: PHẦN THÂN QUANG
Như kinh Quán Phật tam muội nói: “Thân Phật Tỳ bà thi cao sáu mươi do tuần, vòng hào quang trên đầu lớn một trăm hai mươi do tuần. Thân Phật Thi khí cao bốn mươi do tuần, vòng hào quang trên đầu lớn 45 do tuần, hào quang trên thân lớn một trăm do tuần. Thân Phật Tỳ xá bà cao ba mươi hai do tuần, vòng hào quang trên đầu lớn bốn mươi hai do tuần, hào quang trên thân lớn 62 do tuần. Thân Phật Câu lâu tôn cao hai mươi lăm do tuần, vòng hào quang trên đầu lớn ba mươi hai do tuần, hào quang trên thân lớn năm mươi do tuần. Thân Phật Câu na hàm mâu ni cao hai mươi lăm do tuần, vòng hào quang trên đầu lớn ba mươi do tuần, hào quang trên thân lớn bốn mươi do tuần. Thân Phật Ca diếp cao mười sáu trượng, vòng hào quang trên đầu lớn hai mươi do tuần. Thân Phật Thích ca mâu ni cao 1, 6 trượng, vòng hào quang trên đầu lớn bảy thước. Thân của bảy vị Phật đều có màu vàng tía. (Kính xét rằng pháp thân của chư Phật đều như nhau, không có sự hơn kém. Chỉ vì tùy theo căn cơ dị biệt của chúng sinh, nên mới thấy sự hiện hóa không giống nhau. Thế nên đức Phật Thích ca mâu ni hiện ra sắc vàng tía, nhưng cả ngìn Tỳ kheo đều thấy thành màu đỏ, còn mười sáu vị tín sĩ lại thấy thành sắc xám tro. Tự những vị ấy nhận thức khác biệt, chính chư Phật vẫn thường nhất thể mà thôi. Theo đó mà suy luận, mới gọi là không sai lầm.) Theo kinh Di lặc hạ sinh nói, thân của ngài cao nghìn thước, vòng hào quang trên đầu lớn hai mươi trượng.
Thú bảy: PHẦN HỘI SỐ
Thứ nhất là Phật Duy vệ, trước sau mở ba pháp hội thuyết pháp. Pháp hội giảng kinh đầu tiên có mười vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán. Pháp hội giảng kinh thứ hai có chín vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán. Pháp hội thứ ba có tám vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán.
Thứ hai là Phật Thức khí, cũng mở ba pháp hội thuyết pháp. Pháp hội giảng kinh đầu tiên có chín vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán. Pháp hội giảng kinh thứ hai có tám vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán. Pháp hội giảng kinh thứ ba có bảy vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán.
Thứ ba là Phật Tùy diệp, mở ra hai pháp hội thuyết pháp. Pháp hội giảng kinh đầu tiên có bảy vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán. Pháp hội giảng kinh thứ hai có sáu vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán.
Thứ năm là Phật Câu na hàm mâu ni, mở một pháp hội giảng kinh, có ba vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán.
Thứ sáu là Phật Ca diếp, mở một pháp hội giảng kinh, có hai vạn Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán.
Thứ bảy là Phật Thích ca mâu ni của chúng ta, mở một pháp hội giảng kinh, có một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ kheo, đều chứng được quả A la hán.
Thuật rằng:
Điều ghi chép bảy vị Phật thuyết pháp độ sinh nhiều ít trên đây là căn cứ theo giáo lý Tiểu thừa. Khi đức Như lai vừa thành Phật, trước tiên ngài cứu độ các kẻ ngoại đạo bỏ tà theo chánh. Ấy là từ các đệ tử Thanh văn trở thành đệ tử thân cận, nên mới hạn chế trong số lượng ít ỏi này. Nếu căn cứ suốt một đời thuyết pháp của đức Như lai, ngài đã cứu độ chúng sinh khắp Ba thừa đắc Đạo, số lượng sẽ vô lượng vô biên. Thế nên, pháp sư Huyền Trang đã nói trong sách Đại Đường Tây vức ký rằng: “Suốt đời thuyết pháp của đức Như lai, tổng quát có thể chia thành ba thời kỳ:
Trong thời kỳ thứ nhất, ngài giảng giải Pháp hữu tướng cho các vị Thanh văn, đả phá chấp kiến của hàng ngũ ngoại đạo, khiến họ được ngộ Đạo.
Trong thời kỳ thứ hai, ngài giảng giải Pháp vô tướng cho các vị bồ tát Tiểu thừa, đả phá chấp kiến Thanh văn, khiến họ ngộ được Pháp vô tướng của Đại thừa.
Trong thời kỳ thứ ba, ngài giảng giải cùng lúc Pháp hữu tướng vô tướng cho các vị bồ tát Đại thừa, đả phá luôn chấp kiến Pháp hữu tướng vô tướng, khiến họ ngộ được Viên giáo cứu cánh của Trung đạo.
Trong suốt ba thời kỳ này, ngài đã triệt để tùy cơ hóa độ, nhiều đến vô biên. Đôi khi, lần lượt bên cạnh các đệ tử của Ba thừa, có những kẻ nghe Pháp đắc Đạo, cũng nhiều hằng hà sa số. Không thể lấy một chữ nào ước lượng, một nghĩa nào quan niệm được.”
Thứ tám: PHẦN ĐỆ TỬ
Theo kinh Trường A hàm nói: “Phật Tỳ bà thi có hai đệ tử: một tên là Khiên trà, hai tên là Chí sa. Phật Thi khí có hai đệ tử: một tên là A tỳ phù, hai tên là Tam bà bà. Phật Tỳ xá phù có hai đệ tử: một tên là Phù du, hai tên là Uất đa ma. Phật Câu lưu tần có hai đệ tử: một tên là Tát ni, hai tên là Tỳ lâu. Phật Câu na hàm có hai đệ tử: một tên là Ưu ba tiển đa, hai tên là Uất đa lâu. Phật Ca diếp có hai đệ tử: một tên là Đề xá, hai tên là Bà la bà. Ta nay có hai đệ tử: một tên là Xá lợi phất, hai tên là Đại Mục kiền liên (sự liệt kê danh xưng trên đây đều chép hai vị. Aáy là căn cứ từ vị thứ nhất trong hàng ngũ đệ tử, nên mới có lối bàn luận khác biệt như thế).
Phật Tỳ bà thi có đệ tử chấp sự tên là Vô ưu. Phật Thi khí có đệ tử chấp sự tên là Nhẫn hành. Phật Tỳ xá bà có đệ tử chấp sự tên là Tịch diệt. Phật Câu lưu tôn có đệ tử chấp sự tên là Thiện giác. Phật Câu na hàm có đệ tử chấp sự tên là An hòa. Phật Ca diếp có đệ tử chấp sự tên là Thiện hữu. Nay ta có đệ tử chấp sự tên A nan.
Phật Tỳ bà thi có con tên là Phương ưng. Phật Thi khí có con tên
là Vô lượng. Phật Tỳ xá bà có con tên là Diệu giác. Phật Câu lưu tôn có con tên là Thượng thắng. Phật Câu na hàm có con tên là Đạo sư. Phật Ca diếp có con tên là Tiến quân. Nay ta có con tên là La hầu la.”
Thứ chín: PHẦN CỬU CẬN
Theo kinh Bồ tát bản hạnh nói: “Sau khi Phật Tỳ bà thi nhập diệt, Chánh pháp của ngài còn tồn tại được hai vạn năm. sau khi Phật Thần văn nhập diệt, Chánh pháp của ngài còn tồn tại được sáu vạn năm (các kinh khác gọi là Phật Thi khí). Sau khi Phật Câu lưu tôn đà nhập diệt, Chánh pháp của ngài còn tồn tại được năm trăm năm. Sau khi Phật Câu na hàm mâu ni nhập diệt, Chánh pháp của ngài còn tồn tại được hai mươi chín ngày. Sau khi Phật Ca diếp nhập diệt, Chánh pháp của ngài còn tồn tại được bảy ngày. Sau khi Phật Thích ca nhập diệt, Chánh pháp của ngài còn tồn tại được năm trăm năm. thời kỳ Tượng giáo cũng còn tồn tại được năm trăm năm (theo luận Thiện kiến nói, Chánh pháp tồn tại được một ngàn năm).
Bộ thứ 2: NHÂN DUYÊN
Gồm có 3 phần: Thuật ý, Dẫn chứng, Nghiệp nhân. Thứ nhất PHẦN THUẬT Ý
Than ôi! Nghìn Phật phóng quang chiếu giám, soi đường dẫn dắt vạn loài. Bởi vậy, Thánh nhân đưa phúc để khuyến thiện, chỉ họa để răn ác. Tiểu nhân bảo thiện vô ích nên chẳng chịu làm; cho ác vô hại nên chẳng chịu chừa bỏ. Như thế, lời họa phúc trở thành phù hoa không thực tế; câu bâng quơ vô bổ được chấp nhận, tin bừa. Khiến cho các bậc đại Thánh chí nhân phải xót xa nỗi ngu mê lầm lạc ấy, cùng phát nguyện xiển dương Lục độ, tiếp dẫn Bốn loài; loan truyền Nhị đế, giáo hóa Ba cõi. Do đó, Nghìn Phật đã nương theo vô lượng từ bi, chọn lựa duyên cơ để giáng sinh vào Hiền kiếp vậy*.
Thứ hai PHẦN DẪN CHỨNG
Theo kinh Ngũ tiên nhân nói: “Vào vô số kiếp xa xưa, có các vị tiên ẩn cư trong rừng rậm. Trong đó, bốn vị làm chủ, một vị chuyên lo phục dịch, chưa từng sai sót. Một hôm, mãi đi hái quả múc nước quá xa, lỡ về không kịp, đã quá giờ ngọ. Bốn vị kia bị mất bữa ăn, nỗi giận không nguôi, cho là đáng niệm ác chú trừng phạt. Vị tiên ấy mắc phải và chết, rồi sinh làm người. Có vị Phạm chí giỏi tướng thuật, đoán người ấy sẽ làm vua. Quả nhiên, về sau người ấy làm vua. Phật bảo, nhà vua ấy chính là ta. Bốn vị tiên là Phật Câu lưu tần, Phật Câu na hàm mâu ni và Phật Ca diếp. Còn vị Phạm chí, chính là Đề đạt.”
Lại nữa, luận Trí độ nói: “Lúc kiếp sắp hết, tất cả đều không. Chúng sinh nhờ vào phước lực, khi gió mười phương thổi đến, cùng nhau đối phó nâng đỡ, mới có thể giữ lại được Thủy luân vĩ đại. Bấy giờ, có một người nghìn đầu, hai nghìn tay chân, gọi là Trời Vi nữu. Từ trong rốn của Trời này phóng ra hoa sen nghìn cánh, sắc vàng đẹp đẽ, quý báu. Hào quang của hoa sen ấy hết sức chói lọi, như vạn ánh mặt trời Cùng Chiếu sáng. Trong hoa sen ấy có người ngồi kiết già phu tọa. Người ấy lại có vô lượng hào quang, gọi là vua Phạm Thiên. Trong tâm vua ấy sinh ra 8 chữ. 8 chữ ấy sinh ra trời đất mọi người. Vua Phạm Thiên này ngồi trên hoa sen. Thế nên, chư Phật tùy theo thế tục, nói là ngồi trên hoa sen quý, thuyết pháp Lục độ Ba la mật.”
Lại nữa, kinh Đại bi nói: “Phật bảo A nan, tại sao gọi là Hiền kiếp? Tại vì khi kiếp mới thành, tất cả Tam thiên đại thiên thế giới này đều chỉ là một Thủy luân. Bấy giờ, Trời Tĩnh Cư dùng Thiên nhãn quan sát thế giới này. Chỉ thấy là một Thủy luân Vĩ đại. Thấy có nghìn cành hoa sen. Tất cả đều tên là Hoa sen nghìn cánh. Sắc vàng, hào quang vàng chói lọi khắp nơi. Hương thơm xong lên ngào ngạt, thật đáng ham thích. Trời Tịnh Cư thấy cảnh tượng này, sinh lòng hoan hỷ, tán thán: “Thật là hiếm có! Như thế, trong kiếp này phải có nghìn Phật xuất thế.” Vì nhân duyên ấy, bèn gọi kiếp này là Hiền kiếp. Sau khi ta nhập diệt, sẽ có chín trăm chín mươi sáu vị Phật xuất thế. Đứng đầu là Phật Câu lưu tôn. Ta là vị Phật thứ tư. Kế tiếp là Phật Di lặc sẽ thay thế vào vị trí của ta, cho đến vị Phật cuối cùng là Lô già. Cứ thế, lần lượt xuất thế. Oâng cần phải biết điều này (các kinh khác gọi vị Phật cuối cùng là Lâu chí).”
Thứ ba PHẦN NGHIỆP NHÂN
Theo kinh Thiên Phật nhân duyên nói: “Bấy giờ, Phật bước ra khỏi thạch thất ở núi Kỳ xà quật tại thành Vương xa, hỏi A nan rằng: “Hiện nay, các Thanh văn và Bồ tát đều giảng giải luận gì thế?” A nan bạch Phật rằng: “Thưa đức Thế tôn, các vị ấy đều tự nói ve nhân duyên kiếp trước.” Lúc ấy, Bồ tát Bạt đà bà la bạch Phật rằng: “Vào ngày hôm nay, tôi muốn tham vấn đôi điều, xin đức Thế tôn giải nghĩa dùm cho.” Khi Bồ tát ấy nói lời này, có 8bốn nghìn Bồ tát đều cởi tràng anh lạc rắc lên Phật để cúng dường. Những hạt anh lạc kết trên đỉnh đầu Phật, cao lớn như núi Tu di, trang trọng hiển hách đáng xem. Có nghìn Hóa Phật ngồi trong hang núi. Bấy giờ, các Bồ tát bạch Phật rằng: “Thưa đức Thế tôn, nghìn Phật trong Hiền kiếp này, vào thời quá khứ, đã vun trồng công đức gì, khiến cho thường sinh một chỗ, cùng ở một nhà, trong một kiếp, lần lượt đắc Đạo Bồ đề, hóa độ chúng sinh?” Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các Bồ tát rằng: “Ta sẽ giảng giải rõ cho các ông. Nay các ông biết rằng, vào trăm nghìn vạn ức vô lượng số kiếp của thời quá khứ, thế giới này tên là Đại Trang nghiêm. Kiếp tên là Đại bảo, có vị Phật tên là Bảo ĐăngDiệm vương. Phật ấy thọ nửa kiếp. Chánh pháp hóa độ tồn tại trong một kiếp. Thời kỳ Tượng giáo tồn tại trong hai kiếp. Trong thời Tượng giáo ấy, có một đại vương tên là Quang Đức, đem Thập thiện giáo hóa nhân dân như một vị Chuyển luân vương. Bấy giờ, đại vương ấy dạy cho nhân dân trì tụng luận Tỳ đà. Khi ấy, trong học đường có nghìn đồng tử tuổi đều mười lăm, thông minh, biết rộng. Nghe các Tỳ kheo tụng Phật pháp tăng, có một đồng tử tên là Liên Hoa Đức bạch Tỳ kheo Thiện Xưng rằng: “Sao gọi là Phật Pháp Tăng?” Tỳ kheo ấy đáp rằng:
“Ba la mật đầy đủ, Thanh tịnh giác trí tuệ.
Tâm thù thắng thành tựu
Nên danh hiệu là Phật
Tính thanh tịnh vô nhiễm, Lìa xa khỏi thế gian. Không màng đời Ngũ uẩn, Thường trụ, gọi là Pháp. Thân tâm thường vô vi, Bỏ hẳn bốn cách ăn.
Là phước điền cho đời.
Vì thế, gọi là Tăng.”
Khi nghìn đồng tử nghe xong tên Tam bảo, đều cầm hương hoa đi theo Tỳ kheo vào tháp lễ bái. Thấy được tượng Phật, đầu và tứ chi cuối mọp xuống đất. Ngay trước tượng Phật, tất cả cùng phát lời thề nguyện lớn lao, bày tỏ tâm A nậu Bồ đề. Vào vô lượng kiếp sau này, chắc chắn sẽ thành Phật, như đức Thế tôn hôm nay. Nghìn đồng tử ấy, tùy theo tuổi thọ ngắn dài, khi lâm chung, nhờ vào nhân duyên nghe tên Tam bảo, trừ bỏ nghiệp quả sinh tử trong năm mươi mốt kiếp. Sau khi mạng chung, sinh vào Phạm thế. tự nhớ lại tiền kiếp đã từng nghe tên Tam bảo, đều sinh lên Trời. Khi ấy, cả nghìn Phạm vương cưỡi cung điện, mang đủ bảy loại hoa quý đến tháp cúng dường tượng Phật. bấy giờ, tất cả, dù khác miệng nhưng cùng chung tiếng, nói kệ rằng: “Rạng rỡ tên Tam bảo, Lâu nay ở cõi lành.
Nghe tên, trừ được ác Và sinh vào Phạm thế.
Hôm nay cúi đầy lạy,
Quy y bậc giải thoát.”
Nói xong bài kệ này, tất cả đều trở về Phạm thế. Bạt đà bà la! Nay ông nên biết rằng vị đại vương đem Thập thiện dạy dân thời bấy giờ đã thành Phật từ lâu. Chính là Phật Tỳ bà thi. Tỳ kheo Thiện Xưng là Phật Thi khí. Nghìn đồng tử ấy, chẳng phải người lạ. Chính là Phật Câu lưu tần cho đến Phật cuối cùng là Lâu chí hiện nay. Bạt đà bà la! Nay ông nên biết rằng ta cùng nghìn Bồ tát trong Hiền kiếp, đã từng theo vị Phật ấy, nghe tên tam bảo, mới phát tâm A nậu Bồ đề. Nhân duyên là như thế.
Phật bảo Bồ tát Bạt đà bà la rằng, vào vô lượng vô số kiếp của thời quá khứ, thế giới Ta bà này có một nước lớn tên là Ba la nại, quốc vương tên là Phạm Đức, thường dùng pháp thiện giáo hóa nhân dân, đem nước giao phó cho con, xuất gia học đạo, thành Bích chi Phật. Phóng thân vào giữa hư không, hóa ra mười tám biến thân. Khi ấy, nghìn Phạm vương lấy vạt áo đựng đầy hoa đẹp, đến rừng Ưu đàm cúng dường Bích chi Phật ấy và bạch rằng: “Xin ngài thuyết pháp cho chúng tôi.” Bấy giờ, Bích chi Phật phóng thân vào giữa hư không, hóa ra mười tám biến thân, duỗi tay giương chân. Trong đó, có một Phạm vương tên là Tuệ Kiến, nói với các Phạm vương khác rằng: “Ta thấy Bích chi Phật này chỉ nhờ giữ gìn Ngũ giới. Ta sẽ giữ 8 giới, thực hành Thập thiện, quán các duyên khởi. Đem thiện căn này hồi hướng về A nậu Bồ đề rất cao xa vi diệu. Nguyện sẽ thành Phật, hơn hẳn Bích chi Phật trăm nghìn vạn ức lần! Sau khi nghìn Phạm vương mạng chung, liền sinh làm nghìn Chuyển luân vương trong nghìn quốc độ của thế giới Ta bà, thọ được tám vạn bốn nghìn tuổi. Khi sắp mệnh chung, trong núi Tuyết có một vị Bà la môn thông minh biết rộng, sống thọ nửa kiếp, từng nghe kinh đời trước nói, vào thời quá khứ, có vị Phật tên là Chiên đàn Trang Nghiêm. Vị Phật ấy thuyết pháp Bố thí Ba la mật rất cao xa vi diệu, đến nỗi không còn thấy bố thí và được bố thí, tâm hạnh đều bình đẳng như nhau. Khi nghe chuyện ấy xong, vị Bà la môn xuống núi Tuyết, tìm đến nghìn Chuyển luân vương tán thán diễn thuyết phép bố thí này. Tất cả đều đem đất nước giao phó cho các thái tử, xuất gia cầu đạo. Lên núi Tuyết, lập thảo am, tìm Đạo vô thượng. Được quả Ngũ thông, phi hành tự tại giữa hư không. Sống thọ một kiếp.
Bấy giờ, trong núi Tuyết có con Dạ xoa thật lớn, thân cao bốn nghìn dặm. Nanh sắc bén, mọc chởm lên, dài tám mươi dặm. Mặt lớn mười hai dặm. Mắt toé máu, sáng rực như đồng sôi. Tay trái cầm kiếm, tay phải cầm chĩa, đứng trước các Chuyển luân vương, cất cao tiếng bảo: “Nay ta đói khát, không có thức ăn. Xin các đại vương thương xót, bố thí cho chút ít.” Khi ấy, nghìn Chuyển luân vương bảo Dạ xoa rằng: “Chúng tôi thề nguyện bố thí mọi thứ!” Tất cả đều lấy nước rửa tay cho Dạ xoa, trao cho trái cây của tiên rồi bảo ăn đi. Dạ xoa giật lấy, giận dữ ném xuống đất và bảo rằng: “Dạ xoa cha ta ăn tinh khí của người. La sát mẹ ta chuyên ăn tim, uống máu nóng của người. Nay ta đói quá, chỉ cần ăn tim uống máu. Đâu cần đến thứ quả này!” Khi ấy, nghìn Chuyển luân vương nói với Dạ xoa: “Cái khó bỏ nhất, chính là bản thân. Thế nên, hôm nay chúng ta không thể đem tim ra bố thí được.” Lúc ấy, Dạ xoa liền nói kệ rằng:
“Xem tim không có thật, Do Tứ đại hợp thành. Tất cả đều bỏ được,
Mới đúng hạnh Bồ tát!”
Bấy giờ, trong núi Tuyết có một vị Bà la môn tên là Lao độ bạt đề, bạch Dạ xoa rằng: “Kính xin đại sư thuyết pháp dùm cho. Nay tôi không chút nuối tiếc tim và máu của mình.” Nói xong, liền cởi áo mõng, trãi làm tòa giảng, mời Dạ xoa ngồi lên. Dạ xoa lập tức nói kệ: “Muốn cầu Đạo vô vi,
Đừng tiếc thân và tim.
Cắt đứt cho chúng sinh.
Chịu đựng nín như đất.
Cũng không thấy người nhận. Cầu Pháp không ân hận, Không nuối tiếc chút gì. Gấp như chữa cháy đầu, Cứu giúp người đói khát
Mới đúng hạnh Bồ tát!”
Khi Lao độ bạt đề nghe xong bài kệ này, thân tâm đều hoan hỷ, liền lấy kiếm bén rạch bụng lộ trái tim ra. Bấy giờ, thổ thần từ dưới đất vọt lên, bạch Lao độ bạt đề rằng: “Xin đại tiên thương xót bọn tôi và các thần núi non cây cối, đừng vì một con quỷ dữ, xả bỏ bản thân.” Laođộ bạt đề bảo các vị thần ấy rằng: “Thân này như lửa chớp, Vừa loé đã tắt ngay.
Như âm vang tiếng gọi, Gọi xong, chẳng đáp lời.
Sức Tứ đại Ngũ uẩn,
Luân chuyển chẳng dừng lâu. Trong nghìn vạn ức năm, Chưa từng chết vì Pháp . Nên ta nay vì Pháp, Đem tim, máu bố thí.
Xin đừng ngăn cản ta, Trở ngại Tuệ vô thượng. Với công bố thí này,
Thề nguyện thành Phật đạo.
Sau khi được thành Phật,
Trước hết, độ các ngài.”
Nói xong bài kệ, Lao độ bạt đề liền nằm xuống trước mặt Dạ xoa, lấy kiếm đâm cổ, bố thí máu cho Dạ xoa. Rồi lại lập tức mổ lớn bụng, móc trái tim đưa cho. Bấy giờ, trời đất rung chuyển mạnh, mặt trời mất hẳn ánh sáng. Không có mây nhưng sấm vẫn nổ rền. Có 5 con Dạ xoa từ bốn phương chạy đến, tranh nhau chia xé, giành giựt ngấu nghiến. Sau khi đã ăn no nê, liền cất tiếng rú lớn, nhảy vọt lên giữa không trung, bảo nghìn Chuyển luân vương rằng: “Mấy ai có thể bố thí như Lao độ bạt đề? Với công đức bố thí ấy, thật đáng thành Phật!” Bấy giờ, nghìn Chuyển luân vương kinh hoảng thụt lùi, không còn ước muốn thành Đạo Bồ đề, sinh lòng hối hận, đều muốn về nước. Khi ấy năm con Dạ xoa liền nói kệ rằng:
“Không giết là mầm Phật. Từ tâm là thuốc hay.
Đại từ thường an ổn, Không còn già, chết nữa. Tất cả các sinh mạng, Giết chóc đều độc hại. Thế nên, các Bồ tát Dạy ta đừng sát sinh. Nếu các ông sợ chết,
Luôn luôn đừng sát sinh.
Tại sao lại về nước, Bỏ tĩnh, tìm náo loạn?
Khi nghìn Chuyển luân vương nghe xong bài kệ này bèn cùng nhau đứng lặng thinh. Phật bảo Bạt đà bà la: “Nay ông nên biết rằng vị Bà la môn thứ nhất tán thán phép Bố thí Ba la mật chính là Phật Định Quang Minh vương của thời quá khứ. Lao độ bạt đề chính là Phật Nhiên Đăng của thời quá khứ. Còn nghìn Chuyển luân vương, dù đã xuất gia cầu đạo, gặp Phật Nhiên Đăng thực hành các phép khổ hạnh, lòng sinh ra hối hận, nên phải đọa vào Đại địa ngục trong một kiếp. Tuy thế, nhờ vào nguyện lực của tâm Bồ đề kiên cố, nên lửa đỏ không thể đốt cháy được. Từ đó về sau, còn gặp Bồ tát Đăng Minh vương thuyết pháp giúp cho, thoát khỏi địa ngục. Bồ tát tán thán công đức giải thoát lớn lao của nghìn Phật thời quá khứ và xưng tụng danh hiệu Phật Trang Nghiêm cho đến Phật Tự Tại vương. Khi nghìn Chuyển luân vương nghe xong danh hiệu nghìn Phật, hết sức hoan hỷ, cùng thành tâm kính lễ. Nhờ nhân duyên này, siêu thoát được tất cả mọi tội lỗi sống chết trong chín ức triệu vô lượng vô số kiếp. Bạt đà bà la! Ông nên biết rằng, nghìn Chuyển luân vương bấy giờ, chẳng phải người lạ, chính là nghìn Phật trong Hiền kiếp của chúng ta đấy!”
Bộ thứ 3: CHỦNG TÍNH
Gồm có 4 phần: Thuật ý, Vương tộc, Chủng tính, Cầu hôn.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý Kính xét rằng:
Vua Bạch Tĩnh* kế thừa tiên tổ, xuất phát từ vua Ý sư ma. Thánh chúa nối nhau, muôn đời xán lạn. Bởi thế, đức Thích ca mới mượn tạm để thị hiện giáng sinh. Tiên tổ càng được hiển vinh, cháu con càng thêm rực rỡ. Do đó, ngài đã nhập vào kim thân một trượng sáu ở nước Ca tỳ, hiển lộ nghi dung đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, thống lãnh giáo hóa ba ngàn thế giới lớn lao. Thương xót chúng sinh bị 4 Sông phiền cuốn lôi trôi nổi, quyết ra tay chóng thuyền từ Lục độ cứu vớt đắm chìm.
Thứ hai: PHẦN VƯƠNG TỘC
Theo kinh Trường A hàm nói: “Khi trời đất mới vừa thành lập, do ăn vị đất mà biến hóa thành người. Nhân có tranh cãi nổi lên, mọi người bàn bạc lập nên người làm chủ để phân xử. Cùng nhau chọn lựa một người có dòng dõi đáng tôn kính nhất, phong làm quốc vương để cai trị nhân dân. Đấy là vị vua tổ tiên của dòng họ Thích ca (trong thiên Kiếp lượng trước đây, có nói đầy đủ).
Lại nữa, theo kinh Lâu thán nói rằng: “Về sau, có nhà vua khác cai trị không bằng vua trước, tuổi thọ liền giảm xuống. Từ sống đến chín vạn tuổi, lần lượt giảm xuống còn một vạn tuổi, thậm chí còn một trăm tuổi.” Từ đầu kiếp, có vua tên là Tướng Khổng Lồ đến nay, theo tính tóan tổng quát của luật Tứ phần, gồm có tám mươi bốn ngàn hai trăm năm mươi ba vị vua xuất thế. Trong số đó, có 10 vị đại Thánh Chuyển luân vương làm vua thiên hạ. Ngoài các vị vua này, không thể liệt kê đầy đủ. Nay sẽ liệt kê tên thật tổ tiên bảy đời của đức Như lai, theo luật Ngũ phần, một cách cụ thể như sau: thời quá khứ, có vị vua tên là
Uất ma vương (luật Tứ phần gọi là Ý sư ma). Con thứ của vua này có
4 tên: 1/ là Chiếu Mục (kinh Trường A hàm gọi là Diện Quang), 2/ là Thông Mục (các kinh khác gọi là Thực Chúng), 3/ là Điều Tượng (các kinh gọi là Lộ Chỉ), 4/ là Ni Lâu (các kinh gọi là Trang Nghiêm). Vua Ni lâu có con tên là Ô đầu la. Vua Ô đầu la có con tên là Cù đầu la. Vua Cù đầu la có con tên là Thi hưu la. Vua Thi hưu la có bốn người con: thứ nhất tên là Tịnh Phạn, thứ hai tên là Bạch phạn, thứ ba tên là Hộc Phạn, thứ tư tên là Cam Lộ Phạn. Nếu theo kinh Trường A hàm và luật Tứ phần thì đều nói rằng: “Vua Sư Tử Giáp có bốn người con: thứ nhất là vua Tịnh Phạn, có hai người con (một là Bồ tát Thích ca, hai là Nan đà). Thứ hai là vua Bạch Phạn, có hai người con (một là Điều đạt, hai là A nan). Thứ ba tên là vua Hộc Phạn, có hai người con (một là Ma ha nam, hai là A na luật). Thứ tư là vua Cam Lộ Phạn, có hai người con (một là Ta bà, hai là Bạt đề)”. Theo luận Trí độ nói: “Vua Sư Tử Giáp có một người con gái tên là Cam Lộ Vị. Cam Lộ Vị có con trai tên là Thi bà la.” Theo kinh Tạp A hàm nói: “Con trai người cô của đức Thế tôn tên là Để sa, làm Tỳ kheo.” Theo luận Phân biệt công đức nói: “A nan có người em gái xuất gia làm Tỳ kheo ni (không nói tên), hiềm giận Ca diếp mắng A nan làm trò trẻ con.” Lại nữa, kinh Đại phương tiện nói: “Từ đầu kiếp đến nay, dòng họ đích truyền của vua Bạch Tĩnh đời đời nối ngôi làm Chuyển luân vương. Hai đời gần đây không còn làm Chuyển luân vương nữa, mà làm vua cõi Diêm phù đề.” Lại nữa, kinh Ưu bà tắc giới nói: “Ta phát tâm vào đầu thời Phật Thích ca, mãn Tăng kỳ thứ nhất vào thời Phật Bảo Đỉnh, mãn Tăng kỳ thứ hai vào thời Phật Nhiên đăng và mãn Tăng kỳ thứ ba vào thời Phật Ca diếp.”
Thứ ba: PHẦN CHỦNG TÍNH
Như kinh Thập nhị du nói: “Vào vô lượng thời gian xa xưa, có
một Bồ tát làm quốc vương. Cha mẹ mất sớm, nhường đất nước cho em, bỏ ngôi vua đi tìm Đạo. Từ xa, thấy một vị Bà la môn họ Cù đàm, nên xin đi theo học Đạo. Vị bà la môn nói: “Phải cởi hoàng bào, ăn mặc như ta và mang họ Cù đàm.” Từ đó, Bồ tát mang họ Cù đàm, vào tận rừng sâu, ăn quả uống nước, ngồi Thiền, quán Đạo. Nhân đi khất thực, Bồ tát bèn trở về nước. Quan dân cả nước không ai hay biết, gọi là Tiểu Cù đàm. Bồ tát cất tinh xá ở ngoài thành để ngồi một mình nhập định. Bấy giờ, có năm trăm tên giặc lớn vào cướp của ở trong cung, chạy về theo đường bên cạnh tịnh xá. Sáng mai. Quan quân đi bắt giặc, tìm thấy dấu vết dưới tinh xá. Vì thế, bắt luôn Bồ tát, trước sau đều ghép vào tội cướp bóc. Lấy cây xâu vào mình, dựng lên làm nêu, máu chảy xuống đất. Vị Đại Cù đàm dùng Thiên nhãn xem thấy, liền vận dụng thần thông bay đến hỏi rằng: “Ông làm tội nặng gì, đến nỗi như thế? Oâng lại chẳng có con cháu, biết lấy ai nối dõi?” Bồ tát trả lời: “Mạng sống chỉ còn giây lát, nói gì đến chuyện cháu con!” Nhà vua sai bọn tay chân tả hữu lấy cung nõ bắn chết. Đại Cù đàm đau đớn khóc lóc, bỏ xác vào quan tài khâm liệm. Nhặt máu đọng trên đất, lấy bùn vo lại, đựng vào hai bình khác nhau, mang về đặt lại trong tinh xá (máu bên trái đặt vào bình bên trái, máu bên phải cũng làm y như thế). Đại Cù đàm nói rằng: “Nếu tâm chí của đạo nhân này thành khẩn, thiên thần sẽ biến máu thành người!” Mười tháng sau, máu bên trái biến thành nam, máu bên phải biến thành nữ. Từ đó bèn gọi là họ Cù đàm, hay một tên nữa là Xá di (Xá di là danh hiệu của quý tộc ở phương Tây). Máu hóa thành người là chuyện đời trước. Sợ văn từ rườm rà, nên không thể nói đủ ngọn nguồn.
Lại nữa, kinh Bồ tát bản hạnh nói: “Trước vua Cam Giá, còn có vua khác tên là Đại Mao Thảo, đem ngôi báu trao cho các đại thần. Mọi người vây quanh đưa vua ra khỏi thành, cắt tóc cạo râu, mặc áo nhà tu. Sau khi xuất gia, nhà vua giữ giới thanh tịnh, chuyên tâm dũng mãnh, thành tựu được quả Tứ Thiền, đầy đủ năm phép thân thông, trở thành vua tiên, có tuổi thọ hết sức lâu dài. Về sau, đến khi suy yếu, thịt rút lưng còm, dù có chống gậy, cũng không thể đi xa. Bấy giờ vua tiên có các đệ tử muốn đi lại đó đây để xin đồ ăn thức uống, bèn lấy cỏ mềm sắp lớp trong lồng rồi đặt vua tiên vào, xong đem treo lên cành cây. Họ làm như thế, vì sợ rắn rít thú dữ đến xâm phạm vua tiên. Sau khi các đệ tử đều đi khất thực, có một thợ săn đi qua vùng núi ấy, xa xa nhìn thấy vua tiên, cho là chim trắng*, lập tức bắn vào. Vua tiên bị thương nặng, có hai giọt máu rơi xuống đất và chết ngay. Khi các đệ tử đi khất thực về, thấy vua tiên đã bị bắn chết, lại thấy có hai giọt máu in trên mặt đất, liền hạ lồng, đặt vua tiên nằm xuống, gom góp củi lửa thiêu xác, thâu thập xương cốt làm tháp. Lại dùng đủ loại hương hoa quý báu cúng dường, tôn kính tán thán tháp ấy. Mọi chuyện xếp đặt đều yên. Bấy giờ, trên mặt đất có hai giọt máu liền mọc lên hai chồi mía, cao lớn dần dần. Đến mùa mía chín, mặt trời nung nấu nứt ra. Một cây lộ ra một đồng nam, cây kia lộ ra một đồng nữ, đoan trang khả ái, trên đời có một không hai. Khi ấy, các đệ tử bèn nghĩ rằng, thuở vua tiên còn sống, không có con cái, thì hai đồng tử này chính là dòng dõi của vua tiên. Liền đem chăm sóc nuôi dưỡng và báo tin cho triều đình. Các đại thần triệu một vị Đại Bà la môn đến nhờ bói giúp và đặt tên cho. Vị ấy nói rằng: “Đồng nam này do mặt trời nung nấu cây mía chín sinh ra, nên đặ tên thứ nhất là Thiện Sinh. Lại do từ cây mía sinh ra, nên đặt tên thứ hai là Cam Giá Sinh. Hơn nữa, do mặt trời nung nấu cây mía mà sinh ra, nên cũng đặt tên là Nhật Chủng. Nhân duyên của đồng nữ cũng thế, nên đặt tên là Thiện Hiền, lại đặt thêm tên Thủy Ba. Bấy giờ, các đại thần nghinh đón đồng tử do giống mía sinh ra còn đang niên thiếu ấy về làm lễ quán đỉnh, lập lên làm vua. Khi đồng nữ Thiện Hiền đến tuổi trưởng thành, liền lập làm vương phi thứ nhất cho nhà vua ấy.”
Thứ tư: PHẦN CẦU HÔN
Bấy giờ, cách thành Ca tỳ la không xa, lại có một thành khác tên là Thiên Tý. Trong thành ấy có một trưởng giả thuộc dòng dõi họ Thích cao sang tên là Thiện Giác. Châu báu chất chứa, của cải dồi dào, uy đức đầy đủ, muốn gì được nấy, không hề thiếu thốn. Cửa nhà lộng lẫy như cung điện của vua Tỳ sa môn, không khác chút nào. Trưởng giả ấy sinh ra tám người con gái: thứ nhất là Vi Ý, thứ hai là Vô Tỷ Ý, thứ ba là Đại Ý, thứ tư là Vô Biên Ý, thứ năm là Phát Ý, thứ sáu là Hắc Ngưu, thứ bảy là Sấu Ngưu và thứ tám là Ma ha ba xà ba đề (đời Tuỳ dịch là Đại Tuệ hay cũng gọi là Phạm Thiên). Trong số đó, Phạm Thiên này tuổi tác nhỏ nhất. Ngày mới ra đời, được các vị Bà la môn giỏi tướng thuật xem giúp, bảo rằng: “nếu cô gái này lấy chồng sinh con trai, chắc chắn sẽ làm Chuyển luân Thánh vương cai trị thiên hạ. Thất bảo có sẳn, con cháu đầy đủ. Không cần dùng đến hình phạt trị dân. Khi các cô gái của trưởng giả lớn lên, sắp sửa lấy chồng, vua Bạch Tĩnh nghe đồn trong nước có nhà họ Thích hết sức giàu có, sinh được 8 cô gái đoan trang hiếm có, đến nỗi các thầy tướng đưa ra lời tiên đoán sẽ sinh quý tử. Nghe được tin này, nhà vua liền bảo: “Nay ta phải cưới cô gái ấy làm vương phi để con cháu của Cam Giá Chuyển luân vương ta không bị đoạn tuyệt.” Nhà vua liền phái sứ giả đến nhà trưởng giả Thiện Giác hỏi cưới Đại Tuệ về làm vương phi. Trưởng giả nói với sứ giả: “Sứ giả nhân từ! Xin về hỏi giúp nhà vua rằng ta có tám đứa con gái. Lớn nhất là Vi Ý, nhỏ nhất là Đại Tuệ. Tại sao nhà vua lại hỏi cưới đứa nhỏ nhất? Xin nhà vua hãy tạm thời chờ đợi đến khi ta đã gã xong bảy đứa kia. Bấy giờ sẽ gả Đại Tuệ về làm vương phi.” Nhà vua lại sai sứ giả đến nói với trưởng giả rằng: “Nay ta không đợi ông lần lượt gả xong bảy cô gái lớn, rồi mới cưới Đại Tuệ về làm vương phi. Tất cả tám cô gái con ông, ta đều cưới hết!” Thích trưởng giả nhờ báo lại với nhà vua: “Nếu được như thế, xin tuân lệnh nhà vua, tùy tiện đón về.” Bấy giờ, vua Tịnh Phạn liền sai sứ giả đến nghinh đón tám cô gái cùng lúc về cung. Xong xuôi, nhà vua thu nạp hai cô làm vương phi: cô thứ nhất là Vi Ý và cô thứ tám là Đại Tuệ. Sáu cô còn lại, nhà vua đem ban cho ba người em. Mỗi người lấy hai cô làm vợ. Khi vua Tịnh Phạn cưới xong hai chị em Vi Ý về cung, liền mặc tình vui chơi, hưởng thụ hoan lạc và cai trị bốn phương theo phép Chuyển luân vương.”
Lại nữa, kinh Bồ tát bản hạnh nói: “Bấy giờ, vua Cam Giá có vương phi thứ hai đẹp đẽ đoan trang, sinh được bốn người con: thứ nhất là Cự Diện, thứ hai là Kim Sắc, thứ ba là Tượng Chúng và thứ tư là Biệt Thành. Vương phi thứ nhất chỉ sinh được một con là Trường Thọ. Đoan chính đáng yêu, nhưng tướng mạo không thể làm vua. Vương phi Thiện Hiền suy nghĩ thế này: “Vua Cam Giá có bốn người con là các anh em Cự Diện đều hùng dũng. Nay ta chỉ có đứa con này, tuy rất đoan trang hiếm có, nhưng tướng mạo không thể làm vua. Ta phải làm cách gì để đứa con ta có thể được nối ngôi vua.” Rồi lại suy nghĩ tiếp rằng: “Nhà vua Cam Giá nay ở bên ta, vô cùng yêu quý, nặng lòng say mê, tình ý phóng dật. Nay ta nên tận dụng mọi lối trang điểm của đàn bà, khiến nhà vua càng sinh thêm lòng say đắm ta. Khi ấy, trong chốn phòng the, ta sẽ năn nỉ thỉnh cầu.” Suy nghĩ xong xuôi, vương phi trang điểm thân mình vô cùng lộng lẫy, rồi đến với nhà vua. Thấy vương phi như thế, nhà vua càng thêm yêu quý, tâm thần phiêu dật. Biết được nhà vua đã thật sự say mê, hai người cùng ngủ. Vương phi tâu rằng: “Xin đại vương biết cho, nay thiếp xin đại vương chấp thuận cho một nguyện vọng.” Nhà vua nói: “Vương phi! Chìu theo ý nàng mong ước, ta sẽ chấp thuận!” Bấy giờ, vương phi hỏi lại nhà vua: “Nếu đại vương đã chấp thuận, xin đừng hối tiếc đổi thay.” Nhà vua trả lời: “Nhất quyết chấp thuận ý nàng. Nếu sau này hối tiếc, đầu ta sẽ bị vỡ thành bảy mảnh!” Khi ấy vương phi mới tâu rằng: “Thưa đại vương, xin hãy đuổi bốn người con của ngài là các anh em Cự Diện ra khỏi đất nước rồi phong cho con ruột của thiếp là Trường Thọ được làm vua.” Bấy giờ, vua Cam Giá nói với vương phi rằng: “Bốn đứa con ta không phạm lỗi gì. Trong đất nước có điềm gì không lành mà không cho anh em bọn chúng được ở?” Vương phi tâu lại: “Đại vương đã thề rằng nếu có ân hận, đầu ngài sẽ vỡ làm bảy!” Nhà vua bèn bảo vương phi: “Thôi thôi! Ta sẽ giữ lời. Chấp thuận nguyện vọng của nàng!” Sau khi nhà vua đã trải qua đêm ấy với vương phi, đến sáng hôm sau, liền triệu tập bốn người con đến dạy rằng: “Bốn đứa con nghe đây! Hôm nay phải ra khỏi đất nước của ta, không được ở nữa. Hãy đi đến nước khác thật xa xôi.” Khi ấy, bốn người con đều quỳ xuống, chắp tay tâu với vua cha rằng: “Xin đại vương biết cho, bốn anh em chúng con không gây tội ác, không phạm lỗi lầm. Tại sao phụ vương lại đuỗi chúng con ra khỏi đất nước?” Nhà vua phán: “Ta vẫn biết rằng các con thật sự không có lỗi lầm. Đây không phải là ý của ta muốn xua đuổi các con. Chính là ý của vương phi Thiện Hiền cầu xin mà ta không thể nào làm trái được, nên phải đuổi các con thôi!” Bấy giờ, mẹ ruột của bốn người con đều xin đi theo. Nhà vua thông báo: “Tùy ý các nàng.” Quyến thuộc, gia thần của các vương phi và dân chúng đều tâu với nhà vua: “Nay đại vương đuổi bốn người con này ra khỏi đất nước, bọn thần cũng xin phép được đi theo.” Nhà vua phán: “Tùy ý các người.” Khi ấy, nhà vua dạy các con rằng: “Từ nay về sau, nếu muốn kết hôn, không được chọn lấy các dòng họ khác ở ngoài. Phải chọn lấy trong gia tộc. Đừng để dòng dõi Cam Giá bị đoạn tuyệt.” Sau khi đã nhận lời chỉ dạy của phụ vương, tất cả bốn người con đều dẫn mẹ ruột, bà con, của cải, lạc đà, xe cộ lập tức đi về phương Bắc, đến dưới chân núi Tuyết, tạm dừng nghỉ ngơi. Có một con sông lớn tên là Bà kỳ la thế, vượt qua sông ấy, lên đỉnh núi Tuyết. Qua nhiều gian lao mõi mệt, phải dừng lại nghỉ ngơi rất lâu. Thấy giang sơn rộng rãi bằng phẳng, không có chổ gò đống gồ ghề. Chỉ mọc toàn cỏ mềm xanh mướt. Quang cảnh yên tĩnh đáng yêu. Cây cối hoa quả sum sê tươi tốt. Các người con ngắm xong, cùng bảo nhau: “Có thể xây dựng thành trì ở đây để khai hoá.” Sau khi đã an cư xong xuôi, các người con nhớ đến lời phụ vương, tìm kiếm vợ khắp trong gia tộc không có, đều chọn lấy dì và các chị em để làm vợ chồng. Một là theo đúng lời phụ vương răn dạy, hai là sợ dòng họ Thích bị pha trộn tạp chủng. Bấy giờ, nhà vua Nhật Chủng Cam Giá triệu vị Đại Bà la môn quốc sư thứ nhất đến bảo rằng: “Đại Bà la môn! Nay bốn hoàng tử của ta ở đâu?” Quốc sư trả lời: “Xin đại vương biết cho, bốn hoàng tử của ngài đều ra khỏi nước, đi về phương Bắc, thậm chí đã có con cái đàng hoàng.” Khi ấy, nhà vua thấy mình rất thương yêu các hoàng tử. Lòng rất trông gặp, hoan hỷ nói rằng: “Các hoàng tử ấy biết lập thiết lập quốc kế, xây dựng dân sinh. Thế nên cho phép các hoàng tử ấy dựng nên dòng họ Thích ca. Vì dòng họ Thích ca ở dưới bóng mát của cây lớn có cành lá sum sê, nên gọi là Xa di kỳ da. Vì xây dựng căn bản ở chổ cư trú của vị tiên Ca tỳ la, do thành trì đặt ra tên, nên gọi là Ca tỳ la bà tô đô.” Sau khi ba hoàng tử con vua Cam Giá đã mất, chỉ còn lại một hoàng tử tên là Ni câu la (đời Tùy dịch là Biệt Thành).”
Kinh Trường A hàm nói: “Cư trú dưới rừng cây thẳng, còn gọi là rừng Thích. Nhân rừng lấy làm họ.” Lại nữa, phụ vương nghe tin các con đoan chính, phán rằng: “Các hoàng tử ấy đúng là con cháu của họ Thích!”
Bộ thứ 4: GIÁNG THAI
Gồm có 6 phần: Thuật ý, Hiện suy, Quan cơ, Trình tường, Giáng thai, Tưởng đạo.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Than ôi! Thành khẩn trong tâm thì Chí giác hiển lộ, đạm bạc ngoài hình thì Pháp thân cận kề. Thế nên, bổn sư Năng Nhân tùy cơ giáng thế. thương nhà lửa bốc cháy phừng phừng, xót sông dục sương giăng mờ mịt. Nương cung điện phụ vương Bạch Tĩnh, đầu thai vào phu nhân Ma da. Phóng hào quang rực rỡ sắc vàng, phá phiền não vô minh tăm tối. Chịu đựng trong Ba chướng nặng nề, chỉ đãy xác điểm trang không thật, ra khỏi bốn cửa thành cao lớn, sợ mây nổi biến hóa vô thường.
Thứ hai: PHẦN HIỆN SUY
Như kinh Nhân quả nói: “Bấy giờ, Bồ tát Thiện Tuệ công đức đầy đủ, lên vị Thập địa, tại Nhất sinh bổ xứ, gần Nhất thiết chủng trí, sinh vào Trời Đâu suất, tên là Thánh thiện, thống lãnh chư Thiên, diễn thuyết công hạnh Nhất sinh bổ xứ. Đồng thời thị hiện đủ mọi hóa thân, tùy duyên thuyếp pháp cho chúng sinh ở các quốc độ khắp mười phương. Thời cơ sắp đến, sẽ giáng trần thành Phật, liền quan sát năm hiện tượng: một là quan sát cơ duyên chúng sinh đã chín hay chưa. Hai là quan sát thời cơ đã đến hay chưa. Ba là quan sát các quốc độ, quốc độ nào ở giữa. Bốn là quan sát các chủng tộc, chủng tộc nào tôn quý, hùng cường. Năm là quan sát các nhân duyên quá khứ, ai chân chính nhất, xứng đáng làm cha mẹ. Sau khi đã quan sát năm hiện tượng này xong, sẽ lập tức hạ sinh. Lúc ấy, Bồ tát không thể làm lợi ích rộng rãi cho chư Thiên và chúng sinh, liền hiện đủ năm tướng suy, khiến cho các Thiên tử đều biết rõ ràng thời cơ Bồ tát hạ sinh thành Phật: một là mắt của Bồ tát nhấp nháy. Hai là hoa trên đầu khô héo. Ba là áo dính bụi bặm. Bốn là nách đẫm mồ hôi. Năm là không thích ngồi yên chỗ. Chư Thiên thấy Bồ tát có năm tướng lạ này, lòng hết sức hoảng sợ, đến nỗi lỗ chân lông xuất huyết như mưa, cùng bảo nhau: “Không bao lâu nữa, Bồ tát sẽ bỏ rơi chúng ta.” Bấy giờ, Bồ tát lại hiện ra năm điềm lành: một là phóng ra hào quang lớn chiếu sáng khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Hai là mặt đất có mười tám hiện tượng chấn động. Núi Tu di, các biển lớn, các Thiên cung đều bị lung lay. Ba là nhà cửa của các loài ma quỷ đều bị che lấp, không hiện ra. Bốn là mặt trời, mặt trăng và các tinh tú không còn sáng láng. Năm là tất cả tám loài trong thiên hạ đều bị rúng động, không thể dằn lại được. Chư Thiên ấy thấy Bồ tát hiện đủ năm tướng suy, ngoài ra còn hiện đủ năm điềm lành hy hữu như thế, đều tụ họp lại bên Bồ tát, dập đầu sát chân hành lễ và bạch rằng: “Tôn giả! Hôm nay, chúng tôi thấy đủ các tướng, toàn thân đều rúng động, không thể an lòng. Xin tôn giả giải thích nhân duyên này cho chúng tôi.” Bồ tát liền đáp rằng: “Các thiện nam tử! Phải biết rằng các hành đều vô thường. Chẳng bao lâu nữa, ta sẽ rời bỏ Thiên cung này, hạ sinh xuống cõi Diêm phù đề. Khi chư Thiên nghe xong lời này, lòng rất thảm sầu, khắp mình ứ huyết, mê man đầy đất, hết sức than vãn vô thường. Lúc ấy, có một Thiên tử nói kệ rằng:
“Bồ tát ở chốn này,
Mở pháp nhãn dùm ta.
Hôm nay lìa xa ta, Như mù mất hướng đạo.
Lại như muốn qua sông, Bỗng nhiên mất cầu, thuyền. Cũng giống trẻ mất cha, Lại mất cả mẹ hiền. Chúng tôi cũng như thế, Mất hẳn nơi nương tựa.
Chìm trong dòng sống chết.
Biết được chỗ nào ra! Chúng tôi trong đêm tối,
Bị tên độc bắn nhằm,
Lại mất vua thầy thuốc,
Còn ai cứu chúng tôi!
Nằm rũ giường vô minh, Chìm lỉm biển ái dục, Mất hẳn lời ngài dạy.
Thấy đâu ngày thoát ra!” Bấy giờ, Bồ tát đáp kệ rằng:
“Ta ở đây không lâu,
Sẽ xuống Diêm phù đề, Tại nước Ca tỳ la,
Trong cung vua Bạch Tĩnh. Từ cha mẹ, thân thích,
Bỏ ngôi Chuyển luân vương, Xuất gia đi tìm đạo,
Thành Nhất thiết chủng trí.
Dựng nên cờ chánh pháp,
Tát cạn biển phiền não,
Đóng kín cửa đường ác, Mở rộng lối Bát chánh. Làm lợi Trời và người, Nhiều không thể tính được.
Vì nhân duyên như thế,
Chớ nên sinh ưu sầu!”
Hơn nữa, luận Trí độ có câu hỏi: “Tại sao Bồ tát lại sinh lên Trời Đâu suất, không sinh cao hơn, không sinh thấp hơn. Vốn là người có phước đức lớn lao phải tự do sinh hạ bất cứ cõi nào? Đáp: “Có người bảo, vì tạo nghiệp chín, nên phải sinh ở cõi giữa. Vã lại, nếu sinh xuống cõi thấp thì kết tập dơ uế dày dặn. Sinh lên cõi cao thì kết tập sắc sảo lanh lợi. Trên Trời Đâu suất, không dày dặn, không lanh lợi, trí tuệ an ổn. Hôn nữa, khi Phật xuất thế, không muốn thái quá. Nếu sinh xuống cõi thấp, chúng sinh có thọ mạng ngắn ngủi, sẽ chết trước khi Phật xuất thế. nếu sinh lên cõi cao, tuổi thọ quá dài, sẽ vượt quá thời gian Phật xuất thế. trời Đâu suất ở giữa các cõi Trời Lục Dục và Đại Phạm, trên ba dưới ba. Từ Trời ấy hạ sinh vào nước ở giữa. Nửa đêm giáng sinh. Nửa đêm ra khỏi nước Ca tỳ la. Thực hành Trung đạo. Thuyết pháp cho chúng sinh. Nửa đêm nhập Niết bàn vô dư. Vì thích Trung pháp nên sinh vào cõi Trời ở giữa.”
Thứ ba: PHẦN QUAN CƠ
Nếu Bồ tát sắp đầu thai, sẽ dùng đến bốn loại quan sát thế gian:
một là quan sát thời cơ . Hai là quan sát đất nước. Ba là quan sát chủng tộc. Bốn là quan sát người sinh.
Thứ nhất là quan sát thời cơ. Thới cơ có tám lọai. Sau khi Phật xuất thế, thời cơ thứ nhất là khi chúng sinh thọ tám vạn bốn nghìn tuổi cho đến thời cơ thứ tám là khi chúng sinh thọ hơn một trăm tuổi. Bồ tát suy nghĩ thế này: “Khi chúng sinh thọ một trăm tuổi là đến thời cơ Phật xuất thế.” Đó gọi là quan sát thời cơ.
Thứ hai là quan sát đất nước. Chư Phật thường sinh ra tại nước ở giữa. Ở đây dồi dào của cải báu vật. Đất đai thanh tịnh.
Thứ ba là quan sát chủng tộc. Chư Phật sinh ra trong hai chủng tộc như Sát lợi hay Bà la môn. Vì chủng tộc Sát lợi có thế lực lớn lao và Bà la môn có trí tuệ uyên bác. Tùy theo thời thế đòi hỏi, Phật sẽ sinh hạ vào một trong hai chủng tộc ấy.
Thứ tư là quan sát người sinh. Bậc làm mẹ nào có thể cưu mang được Bồ tát có sức đại lực sĩ, cũng nư có thể tự hộ trì tĩnh giới.
Sau khi quan sát như thế xong, chỉ có hoàng hậu của nhà vua Tịnh Phạn tại nước Ca tỳ la ở giữa là có thể cưu mang được Bồ tát. Suy nghĩ xong, từ Thiên cung Đâu suất, không mất chánh niệm, Bồ tát giáng nhập vào mẫu thai.
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, trong Thiên chúng ở Trời Đâu suất có một Thiên tử tên là Kim Đoàn, từ xưa đến nay, đã từng mấy lần xuống cõi Diêm phù đề. Bồ tát hộ xứ tên là Hộ Minh biết được, bảo Thiên tử Kim đoàn rằng: “Thiện tử Kim Đoàn! Ông đã mấy lầ xuống cõi Diêm phù đề, ông hẳn biết rõ các thị thành làng xóm, các chủng tộc hoàng gia ở đó. Vậy một vị Bồ tát bổ xứ nên sinh vào nhà nào?” Thiên tử Kim Đoàn đáp rằng: “Tôn giả! Ta biết rất rõ. Tôn giả hãy nghe kỹ! Hôm nay ta sẽ nói ra đây.” Hộ Minh nói rằng: “Hay quá!” Kim Đoàn bảo: “Trong ba ngàn đại thiên thế giới này, có một Bồ đề đạo tràng trong lãnh thổ nước Ma già đà của cõi Diêm phù đề ấy, là nơi ngày xưa chư Phật đã thành Đạo. Như thế, nếu cứ lần lượt đi quan sát khắp các vương quốc khác trong thiên hạ, sợ sẽ không vừa ý Bồ tát.” Kim Đoàn lại nói thêm lời này: “Trong hết thảy các quốc độ của cõi Diêm phù đề này, khắp các xóm làng, khắp các quốc vương, khắp các thành thị, khắp các quý tộc cai trị trong mọi thành trì, nhưng họ đều tạo đủ lớp lớp nghiệp ác chồng chất. Ta đã vì Tôn giả đi quan sát từ trước đến nay, sinh ra vô lượng nhọc nhằn khổ sở, đến nỗi tâm mê ý loạn, không thể tiếp tục quan sát các nước khác. tựu trung, chỉ có một dòng dõi từ trước đến nay, lập nghiệp thuận hòa với dân chúng. Đời đời làm Chuyển luân vương, cho đến con cháu của nhà vua Cam Giá gần đây cũng tiếp tục nối ngôi tại Ca tỳ la bà tô đô ấy, phát xuất từ họ Thích. Nhà vua tên là Sư Tử Giáp. Con của ngài tên là vua Thâu đầu đàn, có uy danh vang dội khắp cả Trời, người. Tôn giả có thể làm con của nhà vua ấy.” Bồ tát Hộ Minh đáp lời Thiên tử Kim Đoàn rằng: “Hay lắm! Hay lắm! Thiên tử Kim Đoàn! Ông đã quan sát kỹ lưỡng dòng dõi của các hoàng gia. Ta cũng nghĩ sẽ sinh ra trong hoàng gia ấy. Nay ta đã thấu triệt lời ông nói. Ông Kim Đoàn nên biết cho, ta quyết định làm con của hoàng gia ấy. Kim Đoàn! Ngày xưa, gia đình được một Bồ tát Nhất Sinh bổ xứ đầu thai phải có đầy đủ sáu mươi loại công đức.
Ấy là những công đức nào?
1. Nhà ấy xưa nay thuộc dòng dõi tốt lành trong sạch.
2. Tất cả các Thánh thần thường xem xét nhà ấy.
3. Nhà ấy không làm tất cả mọi việc ác.
4. Người được nhà ấy sinh ra đều trong sạch.
5. Dòng dõi nhà ấy chính thống, không bị lai tạp.
6. Con cháu nhà ấy nối dõi chính thống, không bị gián đoạn.
7. Nhà ấy xưa nay không mất dòng dõi đế vương.
8. Tất cả các vua được nhà ấy sinh ra đều vun trồng sâu sắc thiện căn từ thưở xa xưa.
9. Người sinh ra ở nhà ấy thường được các Thánh thần khen ngợi.
10. Người nhà ấy sinh ra có đủ uy đức lớn lao.
11. Nhà ấy có nhiều phụ nữ đoan chánh.
12. Nhà ấy có nhiều thanh niên dồi dào trí tuệ.
13. Người được nhà ấy sinh ra có tâm tính hoà thuận.
14. Người được nhà ấy sinh ra không đùa cợt.
15. Người nhà ấy sinh ra không sợ chuyện gì.
16. Người nhà ấy sinh ra không từng hèn nhát.
17. Người nhà ấy sinh ra thông minh đa trí.
18. Người nhà ấy sinh ra biết nhiều nghề thủ công.
19. Người nhà ấy sinh ra không có tội lỗi.
20. Người được nhà ấy sinh ra không chịu làm cẩu thả các nghề thủ công của thế gian, cũng không chịu tham lam của cải để mưu sinh. 21. Người được nhà ấy sinh ra thường thích giao du với bạn bè.
22. Người được nhà ấy sinh ra không sát hại các loài côn trùng,
thú vật để nuôi thân.
23. Dòng dõi nhà ấy thường biết ơn nghĩa.
24. Dòng dõi nhà ấy biết tu khổ hạnh.
25. Người được nhà ấy sinh ra không bị lay chuyển theo người.
26. Người được nhà ấy sinh ra không từng nuôi lòng thù hận.
27. Người được nhà ấy sinh ra không chứa chất ngu si.
28. Người nhà ấy sinh ra không sợ sệt vâng dạ người khác.
29. Người nhà ấy sinh ra sợ giết hại người.
30. Người nhà ấy sinh ra không có tội vạ.
31. Người nhà ấy sinh ra khất thực được nhiều.
32. Người đến nhà ấy khất thực không để về không.
33. Nhà ấy cứng rắn, không thể khuất phục.
34. Phép tắc nhà ấy thường vượt cao hơn quy định.
35. Nhà ấy thường thích bố thí cho chúng sinh.
36. Nhà ấy siêng năng xây đắp nhân lành quả tốt.
37. Người được nhà ấy sinh ra hùng dũng trên đời.
38. Người nhà ấy sinh ra thường cúng dường các tiên Thánh.
39. Người nhà ấy sinh ra thường cúng dường thần linh.
40. Người nhà ấy sinh ra thường cúng dường chư Thiên.
41. Người nhà ấy sinh ra thường cúng dường các anh hùng.
42. Nhà ấy nhiều đời không gây thù oán.
43. Thanh danh nhà ấy vang dậy mười phương.
44. Tổ tông nhà ấy đều cao sang nhất.
45. Người nhà ấy sinh ra từ thượng cổ đến nay đều thuộc dòng dõi Phạm Thiên.
46. Người nhà ấy sinh ra đều thuộc về hạng cao nhất trong dòng dõi Phạm Thiên.
47. Người nhà ấy sinh ra có địa vị của dòng dõi Chuyển luân Thánh vương.
48. Người nhà ấy sinh ra có chủng tộc của bậc đại uy đức.
49. Người nhà ấy sinh ra có vô số thân thích bao bọc chung quanh.
50. Tất cả quyến thuộc của người nhà ấy sinh ra đều không thể bị phá hoại.
51. Tất cả quyến thuộc của người nhà ấy sinh ra hơn hết mọi người.
52. Người nhà ấy sinh ra đều hiếu thảo với mẹ.
53. Người nhà ấy sinh ra đều hiếu thảo với cha.
54. Người nhà ấy sinh ra đều cúng dường tất cả các Sa. môn.
55. Người nhà ấy sinh ra đều cúng dường tất cả các Bà. la. môn.
56. Người nhà ấy sinh ra giàu có ngũ cốc, kho đụn đầy ắp.
57. Người nhà ấy sinh ra có nhiều vàng bạc, xa cừ mã não. Tất cả của cải không thiếu thốn chút gì.
58. Người nhà ấy sinh ra có nhiều gia súc, nô tỳ, voi ngựa, bó dê.
Tất cả đều đầy đủ.
59. Người nhà ấy sinh ra chưa từng phục dịch kẻ khác.
60. Người nhà ấy sinh ra đều có đầy đủ mọi sự như thế, không thiếu thốn chút gì trên thế gian.
Phật bảo Thiên tử Kim Đoàn: “Thông thường, khi một Bồ. tát Nhất Sinh bổ xứ đầu thai, người mẹ ấy phải có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, mới có thể cưu mang Bồ. tát. Ấy là những loại tướng tốt nào?
1. Người mẹ ấy được sinh ra chíng đáng.
2. Người mẹ ấy có thân thể, tay chân đầy đủ.
3. Người mẹ ấy có đức hạnh đầy đủ, không thiếu sót.
4. Người mẹ ấy được sinh ra đúng chỗ.
5. Người mẹ ấy có may mắn.
6. Người mẹ ấy thuộc dòng dõi trong sạch.
7. Người mẹ ấy đoan chính không ai sánh nổi.
8. Người mẹ ấy có tên tuổi được khen ngợi.
9. Người mẹ ấy có thân thể hình dung trên dưới đều đặn.
10. Người mẹ ấy chưa từng sinh con.
11. Người mẹ ấy có công đức lớn.
12. Người mẹ ấy thường nghĩ đến chuyện lạc quan.
13. Người mẹ ấy thường thuận tình với mọi việc thiện.
14. Người mẹ ấy không có tà tâm.
15. Người mẹ ấy có thân khẩu ý thuần hậu tự nhiên. 16. Người mẹ ấy có tâm và miệng không sợ điều gì.
17. Người mẹ ấy nghe nhiều thần chú.
18. Người mẹ ấy rất giỏi nữ công.
19. Người mẹ ấy lòng không ton hót, quanh co.
20. Người mẹ ấy lòng không xảo trá.
21. Người mẹ ấy lòng không giận dữ.
22. Người mẹ ấy lòng không ghen ghét.
23. Người mẹ ấy lòng không bủn xỉn. 24. Người mẹ ấy lòng không hấp tấp.
25. Người mẹ ấy lòng khó lay chuyển.
26. Người mẹ ấy thân thể có sắc tướng vô cùng đạo đức.
27. Người mẹ ấy lòng thường nhẫn nhục.
28. Người mẹ ấy lòng thường biết xấu hổ.
29. Người mẹ ấy ít dâm dục, hung hãn, ngu si.
30. Người mẹ ấy không phạm lỗi lầm của phụ nữ.
31. Người mẹ ấy cư xử hoà thuận với chồng.
32. Người mẹ ấy phát xuất ra đầy đủ tất cả mọi đức độ và đạo hạnh.
Người mẹ hội đủ mọi điều kiện như thế mới có thể cưu mang Tối hậu thân của Bồ tát Nhất sinh bổ xứ. Khi sắp đầu thai, Bồ tát phải chọn đúng ngày có sao Quỷ để đầu thai. Trước khi hoài thai Bồ tát Nhất Sinh bổ xứ, người mẹ ấy phải thọ giới Bát quan trai xong, Bồ tát ấy mới đầu thai. Bồ tát Hộ Minh lại nói lời này: “Ta không vì tất cả mọi thứ tiền tài, hoan lạc ngũ dục của thế gian mà xuống thế thọ lãnh thân này, chỉ vì ta muốn làm cho chúng sinh được an lạc, chỉ vì ta thương xót chúng sinh bị khổ não mà thôi.”
Thứ tư: PHẦN TRÌNH TƯỜNG
Theo kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, Bồ tát Hộ Minh đã trải qua mùa Đông, gặp thời tiết đầu Xuân đẹp đẽ. Tất cả muôn hoa của các loài cây cối đều đơm bông. Khí trời trong lành mát mẽ điều hòa. Cỏ non mọc lên, mượt mà mềm mại, óng ả tốt tươi đầy mặt đất. Bồ tát chọn đúng lúc sao Quỷ hội tụ cùng các sao khác, diễn dương các Pháp trọng yếu cho chư Thiên, khiến tất cả đều hoan hỷ. Khi ấy, Trời Tĩnh Cư bảo với tất cả Thiên chúng ở đấy rằng: “Hôm nay, chư Thiên chứng kiến Bồ tát Hộ Minh sắp sửa hạ sinh. Xin đừng phiền não. Tại sao? Vì khi Bồ tát hạ sinh, nhất định sẽ thành tựu A nậu Bồ đề. Sau đó, sẽ trở lại Thiên Cung này để thuyết pháp cho chư Thiên, giống như ngày xưa, Phật Tỳ bà thi cho đến Phật Ca diếp đều đã từ đây ra đi, rồi lại trở về đây thuyết pháp cho chư Thiên như trước, chẳng khác chút gì.”
Bấy giờ, Bồ tát sẽ hạ sinh vào lúc nửa đêm. Đang khi sắp sửa hạ sinh vào đêm ấy, phu nhân Ma da bạch vua Tịnh Phạn rằng: “Xin đại vương biết cho, từ đêm nay, thiếp muốn thọ trì 8 giới cấm thanh tịnh. Aáy là không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dật, không nói dối, không uống rượu, không hai lưỡi, không chửi rủa, không nói lời phi lý. Lại nguyện không tham lam, không giận dữ, không ngu si, không sinh tà kiến. Thiếp phải có chánh kiến. Các giới cấm chay tĩnh của chúng sinh, thiếp phải thọ trì. Từ nay thiếp thường xuyên lưu tâm siêng năng thực hiện, phải phát động từ tâm đối với chúng sinh. Vua Tịnh Phạn phán rằng: “Điều gì nàng ưa thích, cứ tùy ý thực hành.” Thế nên, có bài kệ rằng:
“Vua thấy mẹ Bồ tát, Đang ngồi, kính đứng lên. Như mẹ, như chị em,
Tâm không hề vẩn đục.”
Bấy giờ, Bồ tát giữ vững Chánh niệm, từ Trời Đâu suất, giáng hạ đầu thai vào Đại vương phi thứ nhất của vua Tịnh Phạn, an trụ trong hông phải. Khi ấy vương phi đang nằm ngủ, mơ thấy con voi trắng sáu ngà, đầu màu đỏ, 2 ngà và 4 chân chống xuống đất, lấy vòng vàng đeo vào ngà, cưỡi hư không bay xuống, nhập vào hông phải. Sau khi nằm mơ xong, sáng mai vương phi liền tâu với vua Tịnh Phạn: “Xin đại vương biết cho, thiếp đã nằm mơ như thế. Khi con voi trắng ấy nhập vào hông bên phải của thiếp, thiếp cảm thấy hứng thú xưa nay chưa từng có. Từ nay về sau, thật tình thiếp không cần đến hoan lạc của thế gian nữa. Điềm mộng này, biết nhờ thầy đoán mọâng nào giải đoán cho thiếp đây?” Vua Tịnh Phạn triệu một cung nga nội thị đến phán rằng: “Nhà ngươi hãy mau mau ra ngoài tuyên sắc chỉ, bảo quốc sư Đại Na ma tử gọi đến đây ngay 8 đại bốc sư Bà la môn.” Sứ giả của quốc sư, theo lời sắc, lập tức triệu đến 8 vị Ba la môn. Tám vị này nghe nhà vua kể lại xong, vốn giỏi tướng thuật và rành phép đoán mộng, liền bẩm với nhà vua: “Xin đại vương nghe kỹ, bọn thần sẽ tâu rõ điềm lành của giấc mơ ấy. Theo như bọn thần thấy, các vị thần tiên ngày xưa đã từng ghi chép đầy đủ điềm ấy qua sách vở. Xin nói kệ rằng: “Nếu người mẹ mộng thấy Mặt trời vào hông phải. Mẹ ấy sinh được con Sẽ làm Chuyển luân vương. Nếu người mẹ mộng thấy Mặt trăng vào hông phải. Mẹ ấy sinh được con Đứng đầu trong các vua. Nếu người mẹ mộng thấy, Voi trắng vào hông phải. Mẹ ấy sinh được con
Tôn quý nhất Ba cõi.
Làm lợi cho chúng sinh.
Oán thân đều bình đẳng.
Giải thoát nghìn vạn chúng,
Vượt khỏi biển phiền não.”
Bấy giờ, các vị Bà la môn đoán mộng bạch nhà vua rằng: “Giấc mộng của phu nhân có điềm rất tốt. Hôm nay, xin đại vương nên làm lễ ăn mừng. Phu nhân mang thai, chắc chắn sẽ sinh con Thánh. Vị Thánh ấy về sau sẽ thành Phật, tiếng tăm truyền xa.”Vua Tịnh Phạn nghe các vị bốc sư nói xong bài kệ ấy, lòng rất hoan hỷ, lấy nhiều của báu ban thưởng. Sau khi các vị bốc sư giải đoán giấc mộng của vương phi, bảo là điềm lành, nhà vua bèn mở ra một lễ hội bố thí rộng rãi, lớn lao ở ngoài bốn cửa thành Ca tỳ la, ở đầu các đường lớn, ngõ hẻm, đường xóm có người qua lại. Các nhu cầu ăn uống, tiền bạc, nhà của, súc vật đều được cấp cho. Lại nữa, A tư đà là vị tiên có đủ năm phép thần thông, nghe tin Bồ tát từ Trời Đâu suất giữ chánh niệm xuống đâu thai trong hông phải của phu nhân vua Tịnh Phạn. Khi Bồ tát nhập thai, phóng ra hào quang lớn chiếu khắp tất cả các thế giới trời và người. Sau đó, mặt đất liên tục nổi lên 18 lần chấn động đủ sáu loại. A tư đà chứng kiến được hiện tượng hy hữu ấy, lòng vô cùng kinh hãi, lông tóc đều dựng lên. Không biết nay có nhân duyên, quả báo gì, khiến mặt đất bị chấn động như thế. Vị tiên ấy suy nghĩ giây lát rồi mới bình tâm. Sinh ra hoan hỷ, hớn hở vô cùng, không thể dằn lại được, phải la lớn rằng: “Đại Thánh hy hữu, không thể nghĩ bàn! Thế gian sẽ xuất hiện một bậc vĩ nhân!” Lại nữa, khi Bồ tát mới từ Trời Đâu suất giáng hạ, đầu thai vào hông phải của phu nhân vừa xong, có vị Trời tên là Tốc Vãng phi hành đến các địa ngục cất cao tiếng nói rằng: “Tất cả các người nên biết rằng, hôm nay Bồ tát từ Trời Đâu suất đã giáng hạ đầu thai vào bụng mẹ rồi. Thế nên, các ngươi phải mau mau phát lời thệ nguyện sinh vào nhân gian.” Khi các tội nhân ở địa ngục nghe xong lời này, tất cả chúng sinh từ trước đến nay đã từng vun bón thiện căn, lại tạo thêm nhiều tạp nghiệp, do ác nhiều hơn, nên phải đọa vào địa ngục. Các chúng sinh ấy, mỗi người đều đối mặt nhìn nhau, chán ghét địa ngục. Lại được sáng láng, thân tâm an lạc. Lại được nghe lời vị tiên ấy kêu gọi hãy mau mau sinh lên nhân gian, liền bỏ thân địa ngục, lập tức sinh lên nhân gian. Tất cả chúng sinh khắp ba ngàn đại thiên thế giới, từ trước đến nay, đã từng vun bón thiện căn, đều cùng kéo về đầu thai chung quanh bốn phía thành Ca tỳ la ấy.”
Thứ năm: PHẦN GIÁNG THAI
Như kinh Niết bàn nói: “Khi Bồ tát giáng trần, chư Thiên các cõi
Sắc giới và Dục giới đều đến hầu hạ tiễn đưa, phát thành tiếng nói vĩ đại ca tụng Bồ tát. Do hơi gió của tiếng nói vĩ đại ấy, mặt đất bị chấn động.” Lại nữa, Kinh Niệm Phật Tam muội nói: “Khi Bồ tát sắp sửa giáng nhập vào bào thai của mẹ, tất cả tam thiên đại thiên thế giới đều phát ra sáu loại chấn động.” Lại nữa, kinh Nhân quà nói: “Bấy giờ, Bồ tát sắp sửa giáng nhập vào bào thai của mẹ, bèn cưỡi voi trắng sáu ngà xuất phát từ Thiên cung Đâu suất. Vô lượng Thiên chúng làm nữ nhạc công, đốt nhiều loại hương quý, rắc các loại hoa Trời đẹp đẽ, đi theo Bồ tát đầy chật hư không. Bồ tát phóng ra hào quang lớn lao đến chiếu diệu khắp mười phương, chọn đúng lúc sao sáng vừa mọc vào ngày mồng tám tháng tư liền nhập vào bào thai của mẹ. Bấy giờ, phu nhân Ma da đang nằm mơ, thấy Bồ tát cưỡi voi trắng sáu ngà, từ hư không đi xuống, bước vào hông phải, ngoài mình óng ánh trong suốt như đắp lưu ly. Thân thể phu nhân lâng lâng khoan khoái như uống nước cam lồ. Nhìn lại chính mình, phu nhân như thấy mặt trời mặt trăng cùng chiếu sáng, trong lòng vô cùng hoan hỷ, hớn hở. Cảm thụ như thế rồi mới tỉnh ra, phu nhân thấy lòng lạ kỳ chưa từng có, liền đem tâm trạng ấy tâu rõ cùng vua Bạch Tĩnh. Nghe xong, nhà vua hoan hỷ, hớn hở không thể dằn lòng, liền triệu vị Bà la môn giỏi tướng thuật đến giải đoán, biết được Bồ tát đã đầu thai, hạ sinh xong sẽ thành Phật. công đức làm lợi ích chúng sinh nhiều vô cùng, không thể nói hết. Bấy giờ, chư Thiên trên Trời Đâu suất nghĩ rằng, Bồ tát đã đầu thai vào cung vua Bạch Tĩnh, chúng ta cũng nên hạ sinh xuống nhân gian. Khi Bồ tát thành Phật, chúng ta sẽ làm đệ tử thân cận đầu tiên bên cạnh ngài để nghe thuyết pháp. Suy nghĩ như thế xong, liền lập tức hạ sinh, số lượng đông đến 99 ức Thiên chúng. Thậm chí, từ Trời Tha Hóa Tự Tại cho đến chư Thiên các Trời Tứ Thiên và Sắc giới đều cùng với gia quyến hạ sinh xuống nhân gian, số lượng nhiều không thể tính được. Bồ tát ở trong thai mẹ, đi đứng nằm ngồi không chút khó khăn, không gây khổ sở cho phu nhân mẹ mình. Từ sáng sớm, ở trong bào thai, Bồ tát thuyết pháp đủ loại cho chư Thiên ở Sắc giới. Đến trưa, thuyết pháp cho chư Thiên ở Dục giới. Đến chiều, lại thuyết pháp cho các quỷ thần. Đến lúc canh ba, lại cũng như thế. (Theo kinh Phổ diệu, tuy ở trong thai mẹ chỉ mười tháng, Bồ tát đã khai hóa giáo dục chư Thiên và các chúng sinh thành tựu được hạnh Thanh văn và Bồ tát Đại thừa, nhiều bằng ba mươi sáu năm thuyết pháp.). Kinh Hoa nghiêm nói rằng: “Dù Bồ tát ở trong thai mẹ, nhưng chúng sinh khắp tam thiên đại thiên thế giới đều thấy rõ ngài, như thấy mặt mũi của chính mình trong gương vậy.”
Thứ sáu: PHẦN TƯỞNG ĐẠO
Như kinh Bồ tát xử thai nói: “Phật bảo Bồ tát Hỷ Kiến rằng, ông muốn biết chư Phật trong thời quá khứ đã giải thoát hay không giải tho át các quốc độ chăng? Ông nên biết rằng, trong thời quá khứ, ta đã từng có vô lượng hóa thân không thể tính đếm được, dùng thần thông nhập vào thế giới thấp snh đủ các loại, trong vô lượng vô biên kiếp, thuyết pháp cho các chúng sinh thấp thức, khiến cho các chúng sinh thấp thức ấy tùy theo nguyện vọng, đều được giải thoát. Ta đã vào các chúng sinh hoá sinh, noãn sinh, tùy theo nguyện vọng, đều được giải thoát, lại cũng như trước. Ta lại dùng thần thông hiện vào thế giới tương lai, nhập vào bốn loài. Tất cả đều được giải thóat, lại cũng như trước. Giống như hiện nay, ở trong thai mẹ, ta đang diễn dương các pháp bất thối chuyển và rất hy hữu cho các Bồ tát có phép thần thông ở khắp mười phương. Ta cũng dùng thần thông nhập vào bốn loài trên Thiên giới, bốn loài ở địa ngục, bốn loài trong ngạ quỷ, bốn loài trong súc sinh. Trong bốn loài này, hai loài thai sinh hóa sinh chấm dứt phiền não được nhanh; hai loài thấp sinh hóa sinh chấm dứt phiền não hơi chậm. Bởi vì hai loài thấp sinh hóa sinh bị độn căn, hai loài thai sinh hóa sinh có lợi căn. Phật lại bảo A nan: “Hãy nghe rõ và suy nghĩ thật kỹ! Nay ta sẽ giúp ông phân tích rành mạch hành động hiếm có của bậc đại sĩ.” A nan bạch Phật: “Tôi xin hoan hỷ nghe lời.” Phật bảo A nan: “Về phía Đông nam, cách đây một ức một vạn một nghìn sáu mươi hai hà sa nước, ở đấy có một quốc độ tên là Tư Lạc, đức Phật tên là Hương Diệm hiện đang nhập Niết bàn để lên Thiên cung Đao lợi. Trải qua vô lượng kiếp không thể tính được, ba mươi sáu lần trở lại làm vua Đế thích, ba mươi sáu lần trở lại làm Chuyển luân vương, siêu độ chúng sinh không đọa vào Nhị thừa và các Đường ác. Tại sao thế? Do nhờ vào thần lực của chư Phật cảm hóa giúp cho.” Phật lại bảo A nan: “Như lai có thai tướng hay không có thai tướng?” A nan bạch Phật: “Phật thân không có thai tướng.” Phật bảo A nan: “Nếu Như Lai không có thai tướng, tại sao Như Lai có thể ở trong bào thai mười tháng để thuyết pháp cứu độ chúng sinh?”A nan bạch Phật: “Nếu Như Lai có thai tướng thì cũng sẽ nhập diệt. Nếu Như Lai không có thai tướng thì cũng sẽ nhập diệt.”
Bấy giờ, đức Thế tôn vận dụng thần thông hiện vào trong thân của mẹ Ma da. Nằm ngồi đi đứng tự tại. Lập ra một bảo tòa cao lớn, ngang dọc rộng tám ngàn do tuần. Cầu thang, tầng cấp bằng vàng bạc. Tràng phan, bảo cái bằng lụa phất phới giữa hư không. Ca kỹ đàn hát nhiều không tính nổi. Từ phương Đông, cách thế giới Ta ha này mười tám nghìn nước, các Bồ tát có thần thông đều đến tụ họp. Phương Nam, phương Tây, phương Bắc, tứ duy cũng đều như thế. từ phía dưới, cach đây sáu mươi hai ức nước, các Bồ tát có thần thông cũng đến tụ họp. Từ phía trên, cách đây bảy mươi hai cõi Không, các Bồ tát có thần thông cũng đến tụ họp. Tất cả đều vào trong bào thai. Khi ấy, Bồ tát Văn thù sư lợi bạch Phật rằng: “Các vị Bồ tát này cùng đến đây tụ họp, vì muốn nghe đức Thế tôn diễn dương Chánh pháp vi diệu không thể nghĩ bàn. Hiện nay, đức Thế tôn nhập vào Tam muội nào trong số hằng nghìn ức ức Tam muội như thế, để an trụ trong mẫu thai, diễn dương Chánh pháp không thể nghĩ bàn cho các vị Bồ tát?” Phật bảo Văn thù: “Bấy giờ, ông hãy quan sát từ một phẩm bậc, hai phẩm bậc cho đến mười phẩm bậc. Những Bồ tát Nhất sinh bổ xứ của các phương đều phải an trụ đúng vào phẩm bậc của mình, không được lẫn lộn. Toàn thể đại chúng đều thanh tịnh, không tạp loạn. Thậm chí, các chúng sinh ký sinh trên lá, cành cũng chẳng uế tạp. Không có một chúng sinh uế tạp trên Pháp tọa hôm nay. Vì chúng sinh uế tạp đã rút lui. Tại sao thế? Vì các chúng sinh có lợi căn không còn ở trong vòng sống chết nữa.” Phật lại hỏi Di lặc: “Khi tâm vừa động niệm, trong tâm ấy có bao nhiêu niệm, bao nhiêu thức?” Di lặc đáp rằng: “Trong khoảnh khắc một cái búng tay động niệm ấy, tâm có 32 ức ức niệm. Mỗi niệm thành hình, mỗi hình có thức. Thức và niệm ấy cực kỳ vi tế, không thể quan niệm được. Chỉ có thần lực của chư Phật mới có thể thấu nhập vào thức vi tế ấy để siêu độ chúng sinh. Đấy gọi là thức giáo hóa. Đừng cho là không có thức vậy*.”
*Nguyên văn phần Tưởng đạo này rất uẩn súc. Nhiều chỗ, tác giả đã tóm lược quá sơ sài, thành ra rời rạc lủng củng. Chúng tôi đã đối chiếu toàn thể, nắm lấy đại y, sắp xếp theo lối hành văn và ngữ pháp hiện đại để người đọc dễ dàng nhận thức. Có vài chỗ thêm hay bớt chữ, cốt tạo vẻ nhất quán liền lạc. Có vài thuật ngữ quá chuyên môn đã được dịch hơi rõ hơn. Xin đối chiếu lại nguyên văn.
Bộ thứ 5: XUẤT THAI
Gồm có 8 phần: Thuật ý, Nghinh hậu, Cảm thụy, Đản dựng, Chiêu phúc, Giáng tà, Đồng ứng, Giảo lượng. Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý Kính nghĩ:
Sau khi đức Phật Đỉnh Quang thọ ký, đặt hiệu Năng Nhân, phù hợp huyền cơ, nên ngài đã giáng hạ vào dòng họ Thích. Mầm mống bén rễ trước thuở có hình hài, linh tích tỏ rõ sau khi đã xuống thế. chiếu diệu Trời, người; nối tiếp muôn kiếp. Nguồn gốc căn cơ như thế, sâu xa tuyệt diệu biết bao! Vì vậy, mới sinh, đã đi bảy bước. Mặt đất chấn động sáu lần. Chư Thiên Ngũ Tịnh rải xuống mưa hoa, chín vị long thần vẫy nước tắm rửa. Điềm linh hiện đủ, dấu tốt phô đầy. Xét suốt trăm đời, chưa từng thấy có. Do đó, hoài thai chẳng giống Hoàng đế, Đường Nghiêu; giáng sinh khác hẳn Hạ Vũ, Thương Tiết. Đến như điềm mơ Hắc Đế đầu thai, chứng cớ đầy nhà ánh sáng, dù bảo là tốt, há dám sánh tày! Bên mình một trượng hào quang, giữa mày sợi bạc năm thước. Trước bụng sáng ngời chữ vạn, dưới chân xe Pháp hằng nghìn. Đại khái nói ra, có ba mươi hai tướng tốt. Không thể lấy mặt rồng mũi cọp, mày Nghiêu tám sắc, mắt Thuấn hai tròng, đem ra so sánh với sắc tướng tuyệt tác trang nghiêm của đức Phật, để bình phẩm mức độ cao thấp được.
Thứ hai: PHẦN NGHINH HẬU
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, Bồ tát Thánh mẫu Ma da phu nhân mang thai gần đầy mười tháng, sắp đến ngày sinh. Phụ thân của ngài là trưởng giả Thiện Giác sai người tâu với vua Tịnh Phạn rằng: “Theo như ta biết, con gái ta là Ma da phu nhân mang thai bậc Thánh, uy đức quá lớn lao. Một mai bậc Thánh ra đời xong, con ta số ngắn, chắc chắn sẽ chết sau đó chẳng bao lâu. Vì thế, ta muốn đón con ta về an dưỡng ở Lam tỳ ni để cha con được trọn vẹn vui vầy tìng phụ tử. Xin đại vương đừng đem lòng cản trở, mở rộng tình thương cho con ta được về nhà sinh nở xong xuôi, ta sẽ đưa lại về cung. Vua Tịnh Phạn nghe sứ giả tấu mấy lời này, liền ban sắc chỉ cho các quan tu bổ con đường từ thành Ca tỳ la đến sông Đề bà đa, bày biện đủ loại cờ hoa, các thứ ca nhạc, kẻ hầu ngườiø hạ rất nhiều, không thể tính được, để đưa phu nhân về thăm nhà.”
Thứ ba: PHẦN CẢM THỤY
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Thái tử ở trong thai của mẹ đủ mười tháng, đã đến thời kỳ giáng sinh. Khi ấy có ba mươi hai điềm lành hiện ra báo trước:
1. Cây cối sau vườn tự nhiên ra trái.
2. Trên mặt đất tự nhiên sinh ra hoa sen xanh lớn như vành xe.
3. Cây khô trên mặt đất đều trổ hoa lá.
4. Các thiên thần kéo đến xe lớn trang hoàng bằng bảy loại châu báu.
5. Hai vạn kho báu dưới đất bỗng nhiên nổi lên.
6. Mùi thơm của các loại hương quý tỏa ra khắp gần xa.
7. Trong núi Tuyết xuất hiện năm trăm con sư tử trắng, kéo về đứng la liệt ở các cử thành, nhưng không hung hăng phá phách.
8. năm trăm voi con đứng la liệt trước cung điện.
9. Trời làm mưa móc nhỏ thơm tho khắp bốn phía.
10. Trong cung điện của nhà vua tự nhiên có suối nước, trăm món đồ ăn cung cấp cho những kẻ đói khát.
11. Ngọc nữ của long vương hiện ra nửa hình, đứng giữa không trung.
12. Hằng vạn ngọc nữ của chư Thiên cầm phất trần bằng lông công hiện ra trên tường thành trong cung.
13. Các ngọc nữ của chư Thiên mang hằng vạn bình vàng đựng đầy nước cam lộ, đứng giữu không trung.
14. Hằng vạn ngọc nữ của chư Thiên tay cầm hằng vạn bình vàng đựng đầy nước hoa, đi đứng giữa không trung.
15. Hằng vạn ngọc nữ của chư Thiên tay cầm cờ phướn, lọng quý, đứng hầu.
16. Các ngọc nữ của chư Thiên đứng la liệt giữa không trung, cùng nhau hòa tấu hằng trăm nghìn bản nhạc.
17. Bốn con sông lớn bỗng nhiên trong trẻo, ngừng chảy.
18. Nhật cung, nguyệt cung tự nhiên đứng lại, không di chuyển.
19. Sao Phí xuống chầu, các sao khác cùng tháp tùng hộ vệ.
20. Màn trướng to lớn tự nhiên che phủ khắp cung vua.
21. Ngọc thần Minh Nguyệt treo ở cung điện, ánh sáng chan hòa.
22. Đen đuốc trong cung nhờ thế, không cần thắp lên.
23. Áo, mền trong hòm rương được mắc lên đầy giá.
24. Các chuỗi ngọc quý, tất cả các loại báu vật đều hiện ra.
25. Các loại côn trùng độc dữ đều ẩn núp, chim chóc hiền lành bay lượn hót ca.
26. Các địa ngục đều nghỉ ngơi, không thi hành những hình phạt độc ác.
27. Mặt đất chấn động mạnh, các gò đống đều được san bằng.
28. Ngã tư đường lớn, ngõ hẻm đường con đều ngay ngắn, rải đầy hoa.
29. Các hầm hố sâu đều được lấp bằng.
30. Những kẻ chài lưới, thợ săn hung dữ bỗng nổi từ tâm.
31. Những sản phụ trong nước đều sinh con trai. Trăm loại điếc đui, câm ngọng đều được lành lặn.
32. Tất cả các thần thảo mộc hiện hình một nửa, cúi đầu hành lễ, đứng chầu.
Trên đây là ba mươi hai điềm lành. Đương thời, khắp các bờ cõi Đông Tây, chẳng ai là không thấy kỳ lạ, tán thán, cho là chưa từng có.”
Thứ tư: PHẦN ĐẢN DỰNG
Như kinh Nhân quả nói: “Bồ tát ở trong thai sắp đầy mười tháng, tay chân thân mình và các tướng tốt đều có đủ. Phu nhân thấy nhớ, muốn vào vườn chơi. Nhà vua ra lệnh cho các thể nữ trong cung, hết thảy tám vạn bốn nghìn người, đi theo hần hạ phu nhân Ma da. Ra lệnh tuyển chọn thêm tám vạn bốn nghìn đồng nữ mang hương thơm hoa đẹp cùng vào vườn Lâm tỳ ni. Nhà vua lại ra lệnh cho các mệnh phụ của trăm quan đều tháp tùng theo. Bấy giờ, phu nhân lên xe quý, có các mệnh phụ và thể nữ trước sau dẫn đường đi vào trong vườn. Còn có bát bộ Thiên long cũng đều đi theo đầy chật khắp hư không. Vào ngày mồng tám tháng tư, khi mặt trời vừa lên, phu nhân thấy sau vườn có một cây cổ thụ tên là Vô Ưu, hoa đẹp hương thơm, cành lá sum sê, hết sức tươi tốt, liền đưa tay phải vói lên, có ý muốn bẻ. Khi ấy, từ bên hông phải, Bồ tát dần dần bước ra.”
Kinh Bồ tát xử thai nói: “Phật bảo Di lặc, nên nhớ rằng ông đã thọ ký, sau năm mươi sáu ức bảy nghìn vạn năm nữa, ở dưới gốc cây chúa này, sẽ thành bậc Vô thượng chánh đẳng giác. Ta sinh ra từ hông phải, Di lặc ông lại sinh ra từ đỉnh đầu. Nếu ta thọ một trăm tuổi, Di lặc ông sẽ thọ tám vạn bốn nghìn tuổi. Quốc độ của ta bằng đất, quốc độ của ông bằng vàng. Quốc độ của ta khổ, quốc độ của ông lại vui.”
Lại nữa, kinh Bồ tát bản hạnh nói: “Bấy giờ, Bồ tát thấy mẹ ngài đứng dưới đất, đưa tay vói bẻ cành cây. Từ trong bào thai, ngài giữ đúng chánh niệm, đứng lên trên bảo tọa. Những người mẹ của tất cả chúng sinh khác, khi sắp sinh con, thân thể đều đau đớn, chịu đựng khổ sở vô cùng. Luôn ngồi, luôn đứng, không thể nmào yên. Riêng mẹ của ngài lại vui vẻ, thản nhiên, thân thể cảm thấy khoan khoái. Lúc ấy, phu nhân Ma da đứng dưới đất, vói tay cầm cành cây Ba la xoa rồi lập tức sinh hạ Bồ tát. Đấy là sự kiện hy hữu của Bồ tát, biểu hiện sau khi ngài thành Phật, không hề lao nhọc, có khả năng nhổ phăng tất cả mọi phiền não, chặt đứt tất cả mọi kết tập phiền não, giống như chặt đứt ngọn cây Đa la, cuối cùng không thể mọc lại được. Pháp vô tướng, vô hình, vô tái sinh ấy chính là điềm lành võng sinh trước tiên của đức Như Lai. lại nữa, tất cả chúng sinh do nỗi khổ vì sinh ra hành hạ, dù ở trong bào thai, vẫn di chuyển khắp nơi. Bồ tát không như thế, từ hông phải nhập vào, vẫn ở yên trong hông phải, không hề di chuyển. Lúc muốn sinh ra, lại từ hông phải sinh ra, không bị các nỗi khổ hành hạ. Đấy là sự kiện hy hữu của Bồ tát, biểu hiện sau khi đã thành Phật, trừ tận mọi tái sinh, tu hành Phạm hạnh, mãi mãi không còn sợ hãi, luôn luôn an vui, không còn đau khổ nữa. Lại nữa, khi Bồ tát vừa từ thai mẹ, giữ đúng chánh niệm, theo hông phải hạ sinh, đã phóng hào quang to lớn chiếu diệu khắp nơi. Đây là sự kiện hy hữu của Bồ tát, biểu hiện sau khi đã thành Phật, ngài xé tung màn lưới vô minh tăm tối, bừng phát ra ánh hào quang trong sáng của trí tuệ bao la. Lại nữa, khi Bồ tát vừa từ hông phải sinh ra, thân thể của mẹ Bồ tát vẫn bình an như trước, không hề biến đổi. Đấy là sự kiện hy hữu của Bồ tát, biểu hiện sau khi đã thành Phật, ngài sẽ thực hành Phạm hạnh không hề suy giảm, đầy đủ không thiếu sót. Lại nữa, khi Bồ tát vừa từ thai mẹ sinh ra, không khổ không não, tự tại đứng lên. Tất cả mọi dơ uế đều không ô nhiễm, khác hẳn chúng sinh. Giống như báu vật lưu ly Như Ý, khi được bao bọc bên ngoài bằng áo lụa Ca thy la, cả hai đều không bị dính bẩn. Đấy là sự kiện hy hữu của Bồ tát, biểu hiện khi đã thành Phật, ngài ở trong thế gian, trụ tại thế gian, là Pháp hy hữu của thế gian, nên mọi uế trọc của thế gian không gây ô nhiễm được. Lại nữa, khi Bồ tát vừa từ thai mẹ sinh ra, Trời Đế thích liền lấy áo lụa vi diệu của chư Thiên bọc lấy tay mình, rồi tiến lên phía trước bồng nâng Bồ tát. Đấy là sự kiện hy hữu của Bồ tát, biểu hiện khi đã thành Phật, ngài là vị giáo chủ đầu tiên của thế giới Ta bà. Thiên vương Đại phạm đứng lên hàng đầu xin nghe thuyết pháp. Lại nữa, khi Bồ tát vừa từ hông phải sinh ra, bốn vị đại Thiên vương bồng ẫm Bồ tát, cùng hướng về trước mặt mẹ ngài mà nói rằng: “Hôm nay, phu nhân vĩ đại của thế gian rất đáng hoan hỷ. Phu nhân sinh được con Thánh như thế, chư Thiên còn vui mừng ca tụng, huống chi là người!” Đấy là sự kiện hy hữu của Bồ tát, biểu hiện sau khi đã thành Phật, sẽ có vô lượng Tứ chúng cùng đến bên ngài xin nghe thuyết pháp, vâng theo lời giáo huấn, không trái ý, phản bội. Lại nữa, sau khi Bồ tát đã sinh ra, ngài liền đứng trên mặt đất, ngước nhìn vào hông phải của mẹ, nói lên lời này: “Từ nay về sau, thân này sẽ không bao giờ tái sinh vào hông phải, sẽ không bao giờ nhập vào bào thai của mẹ, sẽ không bao giờ an trụ trong ấy nữa. Đây chính là thân sau cùng của ta, vì ta sẽ thành Phật.” Đấy là sự kiện hy hữu của Bồ tát, biểu hiện sau khi đã thành Phật, miệng ngài sẽ nói lời này: “Trong kiếp này của ta, tất cả đều xong. Phạm hạnh đã lập, hạnh nguyện đã thành, không còn tái sinh.” Aáy chính là điềm lành vãng sinh của đức Như Lai.
Hơn nữa, kinh Niết bàn nói: “Khi Bồ tát mới giáng sinh, ngài đều đi bảy bước khắp mười phương. Bồ tát Ma ni, Bồ tát Phú na và các đại tướng quỷ thần đều cầm tràng phan, lọng quý rung động vô lượng vô biên thế giới. Sắc vàng rực rỡ tràn ngập hư không. Các long vương Nan đà, Bạt nan đà dùng thần thông tắm rửa thân mình Bồ tát. Chư thiên hiện hình nghinh đón lễ bái. Vị tiên A tư đà chắp tay cung kính. Tuổi thanh xuân dứt bỏ dục vọng dễ dàng như nhổ bỏ nước bọt. Không bị dục lạc thế gian mê hoặc. Khi xuất gia tu Đạo lại hâm mộ chốn tịch lặng. Để đả phá tà kiến, ngài đã trải qua sáu năm tu khổ hạnh. Hoàn toàn bình đẳng với chúng sinh, như một không khác. tâm thường nhập định, không hề tán loạn. Toàn thân chỉ thấy sắc tướng trang nghiêm. Mọi chỗ đi qua, gò đống đều bằng. Y phục cách thân bốn tấc, không chạm vào mình. Khi đi nhìn thẳng, không liếc hai bên. Các thứ hái ăn, không mọc lại nữa. ngay chỗ đứng ngồi, cỏ chẳng lung lay. Vì dạy chúng sinh, nên đi thuyết pháp, tâm chẳng kiêu căng.”
Thứ năm: PHẦN CHIÊU PHÚC
Như kinh Nhân quả nói: “Khi thái tử sinh ra, dưới gốc cây Vô ưu cũng mọc lên bảy cành hoa sen bằng thất bảo, lớn như vành xe. Bồ tát liền ngã lên hoa sen, không có người nâng đỡ, tự bước đi bảy bước (Kinh Đại thiện quyền nói, đi bảy bước là để ứng với Thất giác chi), đưa tay lên và nói như sư tử rống: “Trong tất cả Trời người, ta tôn quý nhất, hơn hết tất cả. Kể từ nay, vô lượng sinh tử đều chấm dứt.” Khi thái tử nói xong lời này, bốn Thiên vương liền lấy lụa Trời bọc mình thái tử, bồng đặt trên khay quý. Trời Đế thích cầm lọng quý, Trời Đại phạm cầm phất trần trắng cùng đứng hầu hai bên. Các long vương Nan đà và Ưu ba nan đà từ giữa hư không, phun nước trong lành thành một vòi ấm, một vòi mát, tướilên mình thái tử (Kinh Phổ diệu nói, các Trời Đế thích và Đại Phạm làm mưa bằng các loại hương thơm nổi tiếng. Chín long vương từ trên cao phun nước thơm tho xuống tắm rửa cho Bồ tát. Kinh Thụy ứng bản khởi nói, các Trời Đại Phạm và Đế thích cùng xuống chầu hầu. Bốn Thiên vương nâng mình Bồ tát đặt trên khay vàng. Kinh Tu hành bản khởi nói, hai anh em long vương làm mưa nước ấm xuống bên trái, nước lạnh xuống bên phải. Các Trời đế thích và Đại Phạm lấy áo Trời bọc mình thái tử). Thân thái tử óng ánh sắc vàng, có ba mươi hai tướng tốt, phóng ra hào quang vĩ đại chiếu diệu khắp ba nghìn đại thiên thế giới. Nước Ca duy la vệ nằm giữa ba nghìn mặt trời mặt trăng và một vạn hai nghìn quốc độ.”
Lại nữa, luận Trí độ có câu hỏi rằng: “Tại sao đức Phật có sắc vàng?” Đáp: “Nếu sắt ở bên vàng thì không sáng. Nay đem vàng hiện tại sánh với vàng thời đức Phật còn tại thế thì không sáng bằng. Vàng thời đức Phật còn tại thế sánh với vàng của Diêm phù na thì không sáng bằng. Vàng của Diêm phù na sánh với cát vàng trong đường đi dưới biển lớn của Chuyển luân vương thì không sánh bằng. Cát vàng ấy sánh với Núi vàng thì không sánh bằng. Núi vàng sáng với vàng của núi Tu di thì không sánh bằng. Vàng của núi Tu di sánh với vàng ở chuỗi anh lạc của chư Thiên Tam thập tam thì không sánh bằng. Vàng ở chuỗi anh lạc của chư Thiên Tam thập tam sánh với vàng của Trời Diệm ma thì không sánh bằng. Vàng của Trời Diệm ma sánh với vàng của Trời Đâu suất đà thì không sánh bằng. Vàng của Trời Đâu suất đà sánh với vàng của Trời Hóa tự tại thì không sánh bằng. Vàng của Trời Hóa tự tại sánh với vàng của Trời Tha hóa tự tại thì không sánh bằng. Vàng của Trời Tha hóa tự tại sánh với vàng trên thân Bồ tát thì không sánh bằng. Sắc tuyệt diệu này gọi là tướng sắc vàng.”
Lại nữa, kinh Thụy ứng nói: “Khi thái tử vừa sinh ra, Thiên long bát bộ hiện hình giữa không trung, cử hành các loại nhạc Trời, ca hát ngợi khen, đốt hương rắc hoa, thả áo Trời và chuỗi anh lạc bay xuống tơi bời, nhiều không tính được. Dưới gốc cây Vô ưu còn sinh ra bốn giếng nước tám công đức. Tổng cộng có đến ba mươi bốn điềm lành, không thể nói rõ hết (đại khái giống ba mươi hai tướng tốt đã nói ở trên).
Thứ sáu: PHẦN HÀNG TÀ
Như kinh Thụy ứng nói: Khi thái tử vừa sinh ra, nhà vua lập tức trang bị bốn đạo quân cùng trăm quan đi vào vườn. Thấy thái tử có những điềm lành như thế, nhà vua đâm ra nửa mừng nửa sợ, chắp tau hành lễ các Thiên thần xong, bồng thái tử lên trước, đặt trên bành voi bằng thất bảo, rồi cùng quần thần, thể nữ trở về thành. Có các Thiên thần cử nhạc tháp tùng. Bấy giờ, nhà vua chưa biết tam bảo là gì, bèn đưa thái tử đến đền thờ Phạm Thiên. Thái tử vùa vào, Phạm Thiên lập tức hiện hình đứng lên khỏi bảo tọa, sụp lạy dưới chân và nói với nhà vua rằng: “Xin đại vương biết cho, nay thái tử là bậc chí tôn trong Trời người, tất cả Thiên thần đều kính lễ. Đại vương há chẳng biết điều này, tại sao còn đem ngài đến đây hành lễ? Vua Bạch Tịnh và quần thần cảm thán chuyện hy hữu này, liền đưa thái tử ra khỏi đền thờ Phạm Thiên, trở về hậu cung.”
Kinh Phổ diệu nói: “Khi thái tử đến đền thờ Phạm Thiên, có nói bài kệ rằng:
“Vừa sinh động Ba nghìn.
Thích, Phạm, Tu luân, thần, Nhật nguyệt, bốn Thiên vương Đều đến cúi đầu lạy. Có thần nào hơn ta, Sao đem ta đến đó?
Hơn Trời, Trời của Trời.
Không Trời nào sánh được. Tùy cơ xuống thế gian, Điềm báo, người hân hoan. Nghi lễ nhiều ngần ấy,
Hơn Thánh, Trời của Trời.”
Bấy giờ, các Trời Đế thích, Phạm Thiên và bốn Thiên vương đều rời bảo tọa, chọn giờ cùng hiện xuống, cung kính quỳ mọp hành lễ dưới chân Bồ tát. Trong không khí trang nghiêm lặng phắt, hằng trăm nghìn Thiên chúng đều cất cao tiếng ca tụng, hới hở vui mừng chưa từng có. Trời đất rung chuyển, mưa hoa đủ loại bay đầy. Hằng trăm nghìn ca công tự nhiên cử nhạc. Chư Thiên xuất hiện nguyên hình, hành lễ dưới chân Bồ tát rồi tiến lên phía trước và ca tụng rằng: “Tu di sánh hạt cải, Vượt xa hẳn Trời rồng. Nhật nguyệt lạy đến mệt, Vì kính tuệ và đức.
Tam thiên đều quy y. Hạt cải sánh Tu di,
Vũng trâu sánh biển cả.
Chí tôn vượt nhật nguyệt. Nếu kính bậc chí tôn, Phước quả không tính xiết. Tất cả, được an ổn,
Phước đức nhiều vô lượng.”
Thứ bảy: PHẦN ĐỒNG ỨNG
Như kinh Thụy ứng nói: “Lúc bấy giờ, những người thuộc dòng họ Thích, trong ngày ấy, cũng sinh được năm trăm con trai.”Kinh Tu hành bản hạnh nói: “tám vạn bốn nghìn trưởng giả trong nước đều sinh được con trai. tám vạn bốn nghìn ngựa nái trong chuồng đều sinh ngựa non. Có điều rất kỳ lạ, tất cả đều toàn lông trắng, bờm đều đeo ngọc, nên được gọi là ngựa đặc biệt.” Lại nữa, kinh Thụy ứng bản hạnh nói: “Người hầu tên Xa nặc, ngựa cưỡi tên Kiền trắc. Bấy giờ, trong chuồng của nhà vua, voi sinh voi trắng, ngựa sinh ngựa bạch, bò dê sinh bò con, dê con. Số lượng mỗi loài lên đến năm trăm con. Những đầy tớ trong nhà các hoàng tử đều sinh được năm trăm đầy tớ nhỏ. Bấy giờ, trong cung có năm trăm kho tàng lâu nay chôn giấu, bỗng nhiên hiện ra. Có đám thương gia theo đường biển đi tìm mua báu vật trở về, cùng đem ngọc quý dâng lên nhà vua. Thấy những điềm lành xuất hiện dồn dập như thế, nên nhà vua đặt tên cho thái tử là Tất đạt. Khi ấy, tám hoàng tử khác đều sinh thái tử như vua Tịnh Phạn. Tất cả rất vui mừng, cùng nhau đặt tên thật đẹp.” Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Nước Ca duy la duyệt gồm có tám thành, tổng cộng có chín trăm vạn gia đình. Điều đạt sinh ngày mồng bảy tháng tư. Đức Phật sinh ngày mồng tám tháng tư. Nan đà, em ngài, sinh ngày mồng chín tháng tư. A nan sinh ngày mồng mười tháng bốn. Điều đạt cao một trượng năm thước bốn tấc. Đức Phật cao một trượng sáu thước. Nan đà cao một trượng năm thước bốn tấc. A nan cao một trượng năm thước ba tấc. Các tôn nhân cao một trượng bốn thước. Những người khác ở trong nước đều cao một trượng ba thước. Ngoại thích của Bồ tát ở cách thành tám trăm dặm, thuộc họ Cù đàm, làm vua chư hầu cai trị một trăm vạn gia đình, gọi là vua một ức dân. Gia đình phu nhân của Bồ tát thuộc họ Cù đàm. Trưởng giả nhạc phụ tên là Thủy Quang. Nhạc mẫu tên là Nguyệt Nữ. Gia đình trưởng giả ở trong thành kế bên. Khi sinh con gái, trời sắp về chiều, ánh nắng chiếu nghiêng vào nhà, sáng rực lên, nên đặt tên là Cù di (cô gái sáng). Cù di là phu nhân thứ nhất của Bồ tát. Phu nhân thứ hai của Bồ tát họ La vân, tên Na duy đàn. Phụ thân là trưởng giả Di thí. Phu nhân thứ ba của Bồ tát tên là Lộc Dã. Phụ thân là trưởng giả Thích. Vì Bồ tát có ba phu nhân nên vua cha cho lập ra ba biệt điện. Mỗi biệt điện có hai vạn thể nữ. Tổng cộng có sáu vạn thể nữ. Bồ tát sẽ làm Thánh vương chuyển luân nên mới có sáu vạn thể nữ như thế.”*
Thứ tám: PHẦN GIÁO LƯỢNG
Như luận Du già nói: “Có bốn loại nhập thai: 1/ là chánh tri để nhập vào. Không chánh tri an trụ rồi sinh ra. 2/ là chánh tri nhập vào an trụ. Không chánh tri để sinh ra. 3/ là đều có thể chánh tri. 4/ là đều không chánh tri. Loại thứ nhất chỉ cho Chuyển luân vương. Loại thứ hai chỉ cho Độc giác. Loại thứ ba chỉ cho Bồ tát. Loại thứ tư chỉ cho các chúng sinh khác.” Luận Thật tính có bài kệ rằng: “Từ Trời xuống nhập thai, Sinh ra nhờ cha mẹ.
Tại gia là trẻ con,
Học tập mọi kiến thức.
Nô đùa và đi chơi.
Xuất gia tu khổ hạnh,
Theo học các ngoại đạo.
Ràng phục các ma vương. Thành Phật, chuyển pháp luân, Chỉ Đạo nhập Niết bàn.
Các chúng sinh bạc phước,
Làm sao gặp Như Lai!”
Kinh Thụy ứng nói: “Thái tử sinh vào đêm mồng tám tháng tư, vào lúc sao sáng.” Lại nữa, kinh Phật sở hạnh tán nói: “Vào ngày mồng tám tháng ba, Bồ tát từ hông phải sinh ra.”Kinh Quá khứ hiện tại nhânquả nói: “Vào ngày mồng tám tháng hai, phu nhân vào vườn Lâm tỳ ni, thấy hoa Vô ưu, vói tay mặt lên hái, Bồ tát liền từ hông phải sinh ra.” Nay vì nhiều đời xa cách, người dịch lớp trước lớp sau. Nếu chỉ xem qua kinh điển, khó lòng biện luận đúng sai. Nếu chịu khảo cứu thêm sách vở thế gian, hình như cũng có chỗ đáng chú ý. Sách Xuân thu nói: “Năm thứ bảy dưới đời Lỗ Trang Công, tức là năm thứ mười một dưới đời vua Trang Vương, vào ngày tân hơi tháng tư, hằng tinh không xuất hiện, có vẫn thạch như mưa.” Nếu kiểm chứng các kinh điển và sách vở thế gian ấy thì tháng tư là chín xác nhất.
Bộ thứ sáu: THỊ DƯỠNG
Gồm có ba phần: Thuật ý, Dưỡng dục, Thiện trưng. Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Than ôi! Thần lực do tịch lặng tỏ thông; viên giác nhờ lắng trong soi sáng. Đại đao tuyệt diệt trong thân xác uế dơ; chân lý chấm dứt giữa cõi sinh diệt. Nếu bảo thức, hình đã tuyệt diệt, sao còn sinh hạ xuống cung vua? Sinh diệt đã chấm dứt, há đặt bày chở che nuôi dưỡng? Chẳng qua bậc đại Thánh giáng sinh, cũng chỉ tại lợi sinh hoằng pháp. Do cầu liền hiện, tối mấy cũng soi. Huyền cơ hóa độ muôn đường, diệu dụng thuyết pháp vô hạn. Hoặc mượn tọa Thiền ngộ Đạo, hoặc nhờ tuệ giác khai thông, hoặc hiện hài nhi nâng đỡ, hoặc hiện bú mớm dưỡng nuôi. Nhân duyên giác ngộ rất nhiều, không thể tóm lược làm một. Đấy chính là khả năng dạy vật, phép thuật cứu thế vậy.
Thứ hai: PHẦN DƯỠNG DỤC
Theo kinh Phật bản hạnh nói: “Khi thái tử vừa sinh ra được bảy ngày, mẹ ngài liền qua đời. Trước đó, có bốc sư đoán số mạng của phu nhân Ma da chỉ còn bảy ngày nữa, nên đến đó, phu nhân đã qua đời. Dù sao, vào thời ấy, thường có phép bói toán như thế. Tại sao thái tử vừa sinh ra được bảy ngày thì mẹ ngài lại đột ngột qua đời? Vì mẹ ngài thấy ngài sẽ xuất gia lúc còn nhỏ tuổi, lòng dạ tan nát nên phải qua đời. Hơn nữa, luận sư của phái Tát bà đa nói: “Mẹ thấy sinh con thân thể đoan trang hiếm có như thế, lòng vô cùng hoan hỷ, không kiềm chế nổi nên liền qua đời, sau đó, vãng sinh lên Trời Đao lợi.” Khi vua Tịnh Phạn thấy phu nhân đã qua đời, bèn triệu tập dòng họ Thích đến đông đủ và phán rằng: “Gia quyến các khanh đều là quốc thích. Nay thái tử mất mẹ vừa lúc chào đời. Gửi gắm bú mớm, ta biết giao phó cho ai dạy dỗ nuôi dưỡng cho được sống còn? Ai biết thương yêu thái tử như chính con ruột?” Bấy giờ, có năm trăm người vợ mới cưới của dòng họ Thích lần lượt tâu rằng: “Thiếp có thể nuôi dưỡng. Thiếp có thể săn sóc.” Dòng họ Thích nói với đám vợ trẻ ấy rằng: “Tất cả các ngươi đều còn quá trẻ trung, ham mê sắc dục. Không thể nuôi nấng đúng giờ, thương yêu đúng cách. Chỉ có quốc thích Ma ha ba xà ba đề này là dì ruột của thái tử, mới có thể nuôi dưỡng thái tử mà thôi.” Lúc đó, vua Tịnh Phạn bèn đem thái tử giao phó cho dì ấy và phán rằng: “Lại đây, phu nhân! Hãy lo nuôi dưỡng, hãy lo che chở thái tử này đây cho chóng lớn khôn. Đúng giờ tắm rửa.” Nhà vua lại chọn lựa riêng ba mươi hai thể nữ phụ giúp vào việc nuôi dưỡng thái tử. Tám thể nữ lo bồng ẳm. Tám thể nữ lo tắm rửa. Tám thể nữ lo bú mớm. Tám thể nữ lo chơi đùa. Đến đây, Ma ha ba xà ba đề tâu vua Tịnh Phạn rằng: “Xin kính tuân theo, không dám sai trái.”
Thứ ba: PHẦN THIỆN TRƯNG
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Từ khi thái tử chào đời đến nay, trong hoàng gia của vua Tịnh Phạn ngày ngày sinh sôi nhiều thêm các thứ tiền của, vàng bạc, châu báu, gia súc hai chân và bốn chân không thiếu chút gì. Nên có bài kệ rằng:
“Ngũ cốc và tiền của, Bạc vàng và y phục, Dù sắm hay không sắm, Tự nhiên đều đầy đủ.
Con thơ và mẹ hiền, Sữa tươi đều phong phú.
Mẹ nào lỡ thiếu sữa,
Bỗng nhiên đều dư dả.”
Bấy giờ, những điều thù oán trong lòng vua Tịnh Phạn bỗng nhiên đều được hóa giải bình thường và dân dần sinh ra tình cảm thân thương nhân hậu. Mưa gió thuận hòa, không có thiên tai và các xáo trộn quấy phá. Mùa màng trồng ít thu nhiều. Nhân dân sống theo vương pháp, làm đủ mọi chuyện bố thí tạo nên công đức. Không ai ngang ngạnh, tất cả đều rất hân hoan. Cảnh tượng giống ở trên Trời, không sai một nét. Ấy là nhờ vào uy đức của thái tử khiến mọi sự đều được thành tựu tốt lành, như bài kệ sau đây có nói:
“Nhân dân nghe lời dạy,
Không tiếc, cũng không kiết.
Ai nấy theo vương pháp. Lòng từ không hiếu sát. Đói khát đã được thoát, Ăn uống đều no đủ.
Tất cả rất vui mừng,
Giống trên Trời hưởng lạc.”
Lại nữa, kinh Phổ diệu nói: “Khi Bồ tát vừa sinh được bảy ngày, mẹ ngài liền mệnh chung, hưởng phước báo trên Trời Đao lợi. Vừa lên Trời ấy, có năm vạn Phạm Thiên mang bình quý, hai vạn thê tử của các Phạm ma cầm dải lụa quý đứng hầu mẹ ngài.” Lại nữa, kinh Thụy ứng bản khởi nói: “Bồ tát đã biết phước đức của mẹ ngài, không nỡ để mẹ ngài hành lễ, nên khi biết mẹ ngài sắp mệnh chung, ngài liền ra đời.” Lại nữa, kinh Đại thiện quyền nói: “Khi Bồ tát vừa sinh ra được bảy ngày, mẹ ngài liền mệnh chung, hưởng phước báo trên Trời. Chuyện ấy không phải là lỗi của ngài.” Lại nữa, kinh Nhân quả nói: “Dì ruột của thái tử là Ma ha ba xà ba đề nuôi dưỡng thái tử tận tình không khác mẹ ruột.”
Bộ thứ 7: CHIÊM TƯỚNG
Gồm có 8 phần: Thuật ý, Sắc chiêm, Trình cung, Hiện tướng, Nghiệp nhân, Đồng dị, Giáo lượng, Bách phúc.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Xét rằng: Bậc chí Thánh không kể địa phương, tùy nhân duyên ẩn hiện. Vận thần thông chiếu giám, đáp ứng tiếng kêu cầu. Tuy tịch lặng điềm nhiên, nhưng cảm thông vi diệu. Do đó, giáng thần từ Đâu suất vương cung; thị hiện xuống Ca tỳ la vệ. Nối nghiệp Chuyển luân gia thế; kế thừa Thánh đạo uy danh. Nước giữa Ba nghìn, khác xa Lạc ấp; hoàng triều tám vạn, vượt quá non Kê. Hoàng gia nổi tiếng đương thời, sử sách rành chép rõ. Dẫu Lữ Vọng làm tướng giúp Văn Vương, đời bảo biết người, hoặc A tư đà trên núi Hương xem tướng đức bổn sư, cũng không thể ví ngang ngửa. Nếu đem so sánh phẩm chất hơn thua, sẽ thấy hai đường cao thấp khác hẳn.
Thứ hai: PHẦN SẮC CHIÊM
Như kinh Thụy ứng nói: “Bấy giờ, vua Bạch Tịnh ra lịnh tìm năm trăm tướng sư thông thái đến xem tướng cho thái tử. Các tướng sư tâu rằng: “ Thái tử của nhà vua đây là thần nhãn của thế gian, giống như vàng ròng, có đủ có tướng tốt hết sức trong sáng. Nếu xuất gia, sẽ thành một bậc Nhất thiết chủng trí. Nếu ở thế gian, sẽ là một vị Thánh vương chuyển luân thống lãnh thiên hạ vào bậc nhất.” Họ lại tâu thêm: “Trên núi Hương, có một vị Phạm tiên tên A tư đà, chứng được đầu đủ năm phép thần thông, có khả năng giải đoán giúp nhà vua mọi điều nghi hoặc.” Nhà vua suy nghĩ, núi Hương đường sá xa xôi hiểm trở, người không lên tới, làm sao có thể mời về đây? Khi nhà vua vừa động niệm, tiên nhân A tư đà đã biết được, liền cưỡi hư không bay đến xem tướng giúp cho. Nhà vua thấy xong, vui mừng không nói nên lời, cùng phu nhân bồng thái tử bước ra, sửa soạn hành lễ. Tiên nhân xin nhà vua dừng lại: “Đây là bậc chí tôn trong tam giới, sao lại có thể bắt phải hành lễ ta?” Bấy giờ, tiên nhân đứng thẳng lên, chắp tay lạy dưới chân thái tử. Nhà vua và phu nhân liền bảo: “Xin nhờ ngài xem tướng thật kỹ cho thái tử.” Tiên nhân xem xong, bổng dưng khóc lóc thảm thương, không thể nào nguôi. Nhà vua và phu nhân thấy thế, toàn thân run rẩy, vô cùng buồn rầu. Tâm thần chao đảo như sóng lớn nhồi chiếc thuyền con, bèn hỏi rằng: “Con ta có điềm gì không tốt, đến nỗi phải khóc lóc như thế?” Tiên nhân đáp rằng: “Tướng mạo của thái tử cực tốt, không có gì xấu cả. Riêng ta chỉ ân hận nay đã sống đến một trăm hai mươi tuổi, nay mai sẽ chết, được sinh vào Trời Vô tưởng, không kịp thấy đức Phật ra đời hành đạo, không được nghe lời ngài thuyết pháp, nên phải đau buồn. Nếu có người được đầy đủ ba mươi hai tướng tốt như thế, nhưng không trúng cách và lại không được tươi sáng, chắc chắn người ấy sẽ trở thành một Thánh vương Chuyển luân. Nay ta xem thái tử con của đại vương, các tướng tốt đều trúng cách và lại hết sức tươi sáng. Do đó, nhất định ngài sẽ thành Chánh giác.” Tiên nhân nói xong, liền xin từ biệt ra về.”
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Thưa đại vương, hôm nay ta tự thở than tuổi tác già nua, sức lực suy yếu, sợ không thể thấy được ngày ấy, mất điều lợi lớn lao. Thế nên, ta đâm ra đau thương buồn tủi. Thái tử hoàn toàn chẳng có điềm gì không tốt cả. Xin nói bài kệ cho đại vương:
“Tự hận sao ta ngang trái quá, Không gặp được lúc ngài đắc Đạo. Sống phí một đời không nghe gì, Há chẳng phải ta mất lợi lớn? Nay ta tuổi già, trí chín chắn, Cái chết sắp đến, chẳng còn xa.
Nghĩ đến cuối đời còn được gặp,
Vì thế, nửa mừng, nửa lo sợ. Đại vương họ Thích đang hưng thịnh, Sinh được thái tử rất phúc đức. Tất cả khổ sở trên thế gian,
Ngài đều làm cho được an lạc.”
Thứ ba: PHẦN TRÌNH CUNG
Theo kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, phu nhân Ma da bồng hài nhi đến nơi xong, lấy tay ôm đầu hài nhi xoay về phía tiên nhân, như muốn đảnh lễ dưới chân tiên nhân. Khi ấy, nhờ uy đức của mình, thân hình hài nhi tự xoay hai chân về phía tiên nhân. Thấy thế, vua Tịnh Phạn cùng đỡ tiếp để xoay đầu hài nhi kính đảnh lễ tiên nhân. Nhờ uy đức của mình, hai chân hài nhi lại tự xoay về phía tiên nhân. Khi vua Tịnh Phạn lại xoay đầu hài nhi về phía tiên nhân, hai chân hài nhi vẫn tự xoay về phía tiên nhân như trước. Cứ thế đến ba lần. Từ xa, A tư đà đã trông thấy mọi chuyện. Khi ấy, hài nhi phóng hào quang chiếu diệu cả trời đất. Hài nhi uy nghi, đoan trang, khả ái, sắc óng ánh như vàng ròng. Đầu như tán quý, mũi thẳng và tròn, tay dài buông xuống. Các ngón tay, chân đều bằng nhau, không chút so le, trang nghiêm đầy đủ. A tư đà rời chỗ đứng lên, bạch với nhà vua: “Xin đại vương đừng bắt đầu của hài nhi phải đảnh lễ ta. Tại sao? Vì đầu ấy không thể đảnh lễ dưới chân ta được. Trái lại, ta phải đảnh lễ dưới chân của đầu ấy.” Rồi tiên nhân lại cất tiếng lên rằng: “Hy hữu, hy hữu! Vĩ nhân đã ra đời! Ta từng nghe nói ở trên Trời, chính là hài nhi này. Thật đúng không sai.” Tiên nhân A tư đà liền sửa lại y phục, bày vai bên phải, quỳ chân phải xuống đất, giang hai tay bồng lấy hài nhi đặt lên đỉnh đầu và đi về chỗ ngồi. Ngồi xuống xong, lại bồng hài nhi đặt lên hai gối.”
Thứ tư: PHẦN HIỆN TƯỚNG
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, vua Tịnh Phạn lại hỏi tiên nhân: “Đại sư! Ý ta muốn bắt con ta luôn luôn ở bên ta thì phải làm sao? Vã lại, con ta còn nhỏ dại, ta không muốn phải xa ta.” A tư đà tâu lại rằng: “Thưa đại vương, thật tình ta không thể nói ra phương cách ngăn cản ấy được.” Vua Tịnh Phạn liền nói: “Đại sư hãy nghe đây! Dù sao ta cũng phải tìm đủ mọi cách khiến con ta, từ nay cho đến lúc trưởng thành, không thể xa rời ta một giây lát để xuất gia.” Tiên nhân A tư đà liền hỏi nhà vua: “Thưa đại vương, hôm nay vì lẽ gì, ngài lại nói ra lời này?” Lúc ấy, vua Tịnh Phạn bèn trả lời: “Xin tôn sư biết cho, tất cả các tướng sư trong nước đều bảo với ta rằng, nếu hài nhi này ở lại thế gian thì sẽ làm một Thánh vương chuyển luân. Do đó, ta mới nói như thế.” A tư đà liền tâu rằng: “Xin đại vương biết cho, tất cả các tướng sư ấy đều nói dối cả. Tại sao? Vì tất cả các tướng tốt ấy không phải là tướng của Thánh vương chuyển luân. Hài nhi này có đến hằng trăm tướng tốt và tám mươi tướng đẹp phụ bên mình, độc đáo lạ lùng, rõ ràng tươi sáng. Tất cả đều hiện ra đầy đủ. Nhà vua hỏi tiên nhân: “Đại sư! Đâu là tám mươi tướng đẹp phụ bên mình hài nhi?” Bấy giờ A tư đà mới trình bày rõ ràng với nhà vua: “tám mươi loại tướng ấy là: *
1. Không thể thấy được đỉnh đầu.
2. Xương đầu rắn chắc.
3. Trán rộng, thẳng và vuông.
4. Mày cao và dài, giống như trăng mới nhú.
5. Mắt to và dài.
6. Mũi cao, tròn, thẳng và không thấy lỗ.
7. Tai dày, lớn, dài và có trái tai rủ xuống.
8. Thân thể tráng kiện như lực sĩ.
9. Thân thể không bị hủy hoại.
10. Đốt xương bền cứng.
11. Toàn thân xoay chuyển như voi chúa.
12. Thân có hào quang.
13. Thân thẳng đều.
14. Thường trẻ, không già.
15. Thân thường tươi mát.
16. Thân tự bảo vệ, không cần người khác.
17. Thân thể tròn trịa.
18. Tri thức đầy đủ.
19. tác phong đầy đủ.
20. Uy đức đồn xa.
21. Không nhìn trộm người khác.
22. Đứng vững vàng, không lắt lay.
23. Khuôn mặt vừa vặn, không lớn, không dài.
24. Mặt rộng và bằng.
25. Mặt tròn như vầng trăng đầy.
26. Không có vẻ tiều tụy.
27. Đi đứng uy nghi như voi chúa.
28. Dáng dấp hiên ngang như sư tử chúa.
29. Bước chân khoan thai như thiên nga chúa.
30. Đầu tròn như quả Ma. đà. na. 31. Sắc thân sáng sủa, hòa nhã.
32. Lòng bàn chân đầy đặn.
33. Móng tay đỏ như lá đồng.
34. Dấu chân in xuống đất khi bước đi.
35. Chỉ trên ngón tay trang nghiêm.
36. Chỉ trên ngón tay rõ ràng, không lờ mờ.
37. Chỉ trên bàn tay thẳng và rõ.
38. Chỉ trên bàn tay dài.
39. Chỉ trên bàn tay không đứt đoạn.
40. Chân tay vừa ý.
41. Chân tay trắng hồng như búp sen.
42. Thất khiếu có đầy đủ.
43. Không đi chậm lại đằng sau.
44. Không đi nhanh quá đằng trước.
45. Đi đứng ngay ngắn, yên ổn.
46. Rốn dày, sâu, giống như rắn quấn về bên phải.
47. Sắc tay xanh hồng như cổ chim công.
48. Sắc lông bóng sáng.
49. Lông trên mình mọc xoay về phía phải.
50. Miệng tỏa mùi thơm tuyệt diệu, lông cũng như thế.
51. Sắc môi hồng tươi như quả Tần. bà.
52. Môi thắm vừa phải. 53. Lưỡi mỏng.
54. Luôn luôn lạc quan.
55. Vui vẻ, hòa thuận nói chuyện với mọi người.
56. Ở đâu cũng nói lời tốt đẹp.
57. Nếu gặp người, nói ra trước.
58. Tiếng nói vừa phải, vui vẻ với người khác. 59. Chọn lời thích hợp thuyết pháp cho người. 60. Thuyết pháp không vấp váp, nhầm lời.
61. Đối xử với chúng sinh bình đẳng như nhau.
62. Quan sát trước, hành động sau.
63. Phát ra một lời đáp lại nhiều người.
64. Thuyết pháp có đầu đuôi mạch lạc.
65. Không chúng sinh nào thấy được chỗ kín.
66. Người ngắm nhìn sắc tướng không biết chán.
67. Có đầy đủ mọi âm sắc.
68. Toát ra vẻ hiền từ.
69. Kẻ ngang ngạnh trông thấy đều thần phục.
70. Tiếng nói trong trẻo.
71. Thân hình không nghiêng ngửa.
72. Thân thể to lớn.
73. Thân thể cao ráo.
74. Thân không ô nhiễm.
75. Hào quang phát ra đầy mình, dài một trượng.
76. Hào quang chiếu sáng khi đi.
77. Thân thanh tịnh.
78. Hào quang tươi sáng như ánh ngọc trai xanh.
79. Chân tay no tròn.
80. Tay chân có chữ vạn.”
Theo kinh Phật thuyết bảo nữ nói: “Liền đó, Bảo nữ hỏa đức Thế tôn: “Nay Như Lai có đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân. Không biết ngài đã làm công đức nào trong tiền kiếp, khiến cho các tướng ấy hiển hiện khắp trên thân như thế?” Phật bảo: “Trong tiền kiếp, ta đã tạo vô lượng công đức, gom góp lại mới có các tướng ấy hiện ra khắp trên thân. Nay ta đem kể sơ qua:
1. Như Lai có tướng “chân đứng vững vàng” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã kiên trì khuyến khích, giúp đỡ không sờn lòng và không che giấu công đức của người khác.
2. Như Lai có tướng “chân tay có bánh xe pháp” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã thực hành nhiều loại bố thí.
3. Như Lai có tướng “chỉ tay thường xuyên mịn, dài và đẹp” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã đặc biệt thuyết pháp cứu hộ chúng sinh thoát khỏi đau khổ.
4. Như Lai có tướng “chân tay sinh màng lưới bao bọc liền lạc” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã không phá hoại gia đình của kẻ khác.
5. Như Lai có tướng “chân tay mềm mại uyển chuyển” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã từng ban ơn bố thí các loài y phục mỏng nhẹ.
6. Như Lai có tướng “Bảy hợp đầy đặn” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã bố thí rộng rãi cho các kẻ khốn cùng.
7. Như Lai có tướng “đầu gối rất thẳng, không có đốt khớp hất đá như loài nai” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã thọ trì kinh điển không sai lầm.
8. Như Lai có tướng “chỗ kín giấu vào trong” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã giữ gìn cẩn thận bản thân, lìa xa sắc dục.
9. Như Lai có tướng “hai má đầy đặn như sư tử chúa” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã tu hành đầy đủ các nghiệp thanh tịnh.
10. Như Lai có tướng “chữ vạn hiện ra thường xuyên trước ngực” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã trừ bỏ các hành động ô trọc, không tốt đẹp.
11. Như Lai có tướng “thân thể tay chân hoàn toàn đầy đủ” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã bố thí lòng dũng cảm và biết an ủi người khác.
12. Như Lai có tướng “hai tay dài quá gối” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã ra tay giúp đỡ người khác khi có chuyện không may xảy ra.
13. Như Lai có tướng “thân thể toàn hảo không tì vết” của bậc đại nhân là do tiền kiếp phụng hành thập thiện không ngừng.
14. Như Lai có tướng “trí não sâu xa đầy đủ” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã bố thí nhiều loại thuốc men và săn sóc trị liệu cho người có bệnh.
15. Như Lai có tướng hiên ngang như sư tử chúa xuất hiện của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã vun trồng đầy đủ các cội rễ đạo đức.
16. Như Lai có tướng “đầy đủ 40 cái răng trắng muốt” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã đối xử với chúng sinh hết sức nhân từ, tận tụy.
17. Như Lai có tướng “các răng không thưa thớt” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã can gián, hòa giải mọi tranh cãi của người khác.
18. Như Lai có tướng “nhiều răng cấm” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã đem những vật đẹp đẽ yêu thích của mình bố thí cho người khác.
19. Như Lai có tướng “tóc và lông mày trong sáng đẹp đẽ” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã biết giữ gìn cẩn thận thân khẩu ý của mình.
20. Như Lai có tướng lưỡi rộng dài của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã nói năng rất thành thật để phòng ngừa tội lỗi của khẩn nghiệp.
21. Như Lai có tướng “tinh tiến” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã đem vô lượng phước đức cúng dường cứu cánh Niết. bàn, đem từ tâm nhân ái đáp ứng nguyện vọng cầu xin được che chở của chúng sinh.
22. Như Lai có tướng “Phạm thanh trìu mến” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã nói năng ôn hòa, cẩn thận ngôn từ đối với chúng sinh, khiến cho vô lượng chúng sinh nghe lời đều được vui vẻ.
23. Như Lai có tướng “đồng tử màu xanh tía” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã xem xét chúng sinh bằng đôi mặt hiền hòa.
24. Như Lai có tướng “mắt như trăng mới nhú” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã không có tính thô bạo, lòng thường nhu mì.
25. Như Lai có tướng “lông bạc trong mày” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã ân cần ca tụng các đức hạnh của lối sống tịch lặng.
26. Như Lai có tướng “bướu thịt trên đầu” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã cung kính Thánh hiền, tôn trọng trưởng lão.
27. Như Lai có tướng “cơ thể mềm mại” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã đem lòng gom góp cất giữ các kinh điển.
28. Như Lai có tướng “thân hình óng ánh sắc vàng tía” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã bố thí rất nhiều giường nệm.
29. Như Lai có tướng “thân thể đều mọc lông” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã biết xa lìa chỗ tụ hội náo nhiệt.
30. Như Lai có tướng “đầu lông xoay về bên phải” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã tôn kính sư trưởng, nhận lời chỉ giáo của bạn tốt và cúi đầu xin nghe theo.
31. Như Lai có tướng “tóc trên đầu toàn màu xanh hoe” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã thương xót chúng sinh, không dùng dao gậy sát hại.
32. Như Lai có tướng “thân hình ngay ngắn cân đối, không cong queo” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã đem thân mình khuyên răn giáo hóa chúng sinh có chánh định.
33. Như Lai có tướng “xương sống như các móc sắt lớn rất uy lực, vòi vọi uy đức” của bậc đại nhân là do tiền kiếp đã xây đắp hình tượng, tu bổ chùa hư. Khuyên nhủ kẻ ly tán đoàn tụ lại, trấn an kẻ khiếp sợ có lòng dũng mãnh và hoà giải kẻ tranh kiện.
Bảo nữ! Nhà ngươi nên biết, vào thời quá khứ, ta đã phụng hành vô lượng vô số điều đạo đức căn bản như thế, nên mới có thể thành tựu được ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân.” *
Về tướng tốt thứ hai mươi hai, luận Tân bà sa nhận định rằng: “Tướng Phạm thanh của Như Lai, nghĩa là trong cổ của đức Phật có nhiều loại tốt đẹp lớn lao có khả năng phát thành các Phạm âm hòa nhã, vui vẻ như tiếng chim Yết la tần ca. Lại có khả năng phát ra tiếng sấm động thâm trầm xa thẳms như tiếng trống của Đế thích. Các âm thanh ấy có đủ tám công đức: 1/ Thâm trầm xa thẳm. 2/ Êm ái. 3/ Rõ ràng. 4/ Vui tai. 5/ là thấm nhập vào lòng. 6/ Sinh vui. 7/ Dễ hiểu. 8/ Không chán.” Luận Đại trí độ nói: “Tướng tốt Phạm thanh của Như Lai cũng giống như năm loại âm thanh của Thiên vương Đại Phạm từ miệng phát ra: 1/ Rất thâm trầm như tiếng sấm. 2/ Trong trẻo vang dội đi xa, người nghe đều vui vẻ. 3/ là thấm nhập vào lòng sinh ra yêu kính. 4/ Dễ nghe dễ hiểu. 5/ là rất thích nghe, không chán. Các vị Bồ tát cũng có năm loại âm thanh như thế từ miệng phát ra, giống như tiếng chim Ca lăng tần già đáng yêu, giống như tiếng trống của chư Thiên thâm trầm, xa thẳm.”
Lại nữa, luận Tân bà sa có câu hỏi rằng: “Tướng nghĩa là gì? Đáp: “Tiêu biểu là tướng. Rất tốt đẹp là tướng. Điềm lành là tướng.” Hỏi: “Tại sao tướng của đại nhân chỉ có ba mươi hai loại? Liệu không thêm không bớt chăng?” Hiếp tôn giả trả lời rằng: “Nếu thêm lên hay bớt xuống thì chỉ sinh ra nghi ngờ và trái với quy cách của tướng. khi nói có ba mươi hai tướng thì thế gian đều chấp nhận. Vì đấy là ý nghĩa tốt lành, không thể tăng giảm. Nếu có đủ ba mươi hai tướng trang sức trên thân của đức Phật thì đấy là điều tốt đẹp nhất, không có gì sánh bằng ở giữa thế gian. Nếu giảm xuống thì sẽ thiếu sót. Nếu tăng lên thì sẽ tạp nhạp, đều không tốt đẹp. Như thế, chỉ có ba mươi hai tướng của đại nhân mà thôi.”
Lại nữa, Luận Trí độ có câu hỏi rằng: “Về ba mươi hai tướng, trong ba nghiệp, do nghiệp nào tạo nên. Không phải do thân và khẩu nghiệp. Vì ý nghiệp lanh lợi. Lại nữa, trong sáu thức, do ý thức tạo nên, không phải là do năm thức kia. Vì năm thức kia không có khả năng phân biệt.” Hỏi: “ba mươi hai tướng ấy được tạo thành trong bao lâu?” Đáp: “Chậm nhất là trong một trăm kiếp, nhanh nhứt là trong chín mươi mốt kiếp. Bồ tát Thích ca Mâu ni tạo thành ba mươi hai tướng tốt trong chín mươi mốt kiếp tu hành. Như trong kinh nói: “Vào thời quá khứ xa xưa, có một đức Phật tên là Phất sa. Bấy giờ, có hai vị Bồ tát: một vị tên là Thích ca Mâu ni, một vị tên là Di lặc. Đức Phật Phất sa muốn biết tâm của Bồ tát Thích ca Mâu ni đã thuần thục chưa, liền quan sát và biết rằng tâm của Bồ tát này chưa thuần thục, trong tâm các đệ tử của Bồ tát này đều thuần thục cả. Bồ tát Di lặc thì tâm đã thuần thục, nhưng tâm của các đệ tử vẫn chưa được thuần thục. Khi ấy, đức Phật suy nghĩ thế này: “Tâm của một người có thể cảm hóa dễ dàng nhanh chóng. Tâm của nhiều người rất khó sửa trị cấp tốc được.” Suy nghĩ xonh rồi, đức Phật muốn làm cho Bồ tát Thích ca mau chóng thành Phật, liền lên núi Tuyết, vào trong động báu, nhập Hỏa Thiền định. Bấy giờ, Bồ tát Thích ca đang làm tiên nhân ngoại đạo, lên núi hái thuốc. Thấy đức Phật nhập định, phóng hào quang to lớn, sinh lòng hoan hỷ kính tin, bèn nhón một chân đứng lên, chắp tay hướng về đức Phật ấy, dốc lòng quán tưởng suốt bảy ngày đêm, mắt không hề chớp. Bồ tát làm một bài kệ ca tụng đức Phật ấy rằng:
“Trên trời dưới thế không ai bằng đức Phật.
Các thế giới mười phương cũng không sánh kịp.
Ta đã thấy hết chúng sinh trong thế giới,
Suốt bảy ngày đêm trôi qua, xem kỹ, mắt Bồ tát vẫn không hề nhấp nháy. Ngài đã vượt qua chín kiếp và trong chín mươi mốt kiếp nữa, cuối cùng chứng được A nậu bồ đề. Bồ tatù Thích ca đã quý tâm hơn lời, nếu ngài đã dùng nhiều bài kệ để ca tụng đức Phật Phất sa thì tâm của ngài có lẽ đã bị tán loạn. Thế nên, suốt bảy ngày đêm, ngài chỉ dùng một bài kệ duy nhất để ca tụng đức Phật ấy.” Hỏi: “Vì sao tâm của Bồ tát Thích ca không thuần thục mà tâm của đệ tử lại thuần thục? Tâm của Bồ tát Di lặc thuần thục mà tâm của đệ tử lại không thuần thục?” Đáp: “Vì tâm lợi tha của Bồ tát Thích ca nhiều mà tâm tự lợi ít. Tâm tự lợi của Bồ tát Di lặc nhiều mà tâm lợi tha ít.”
Thứ năm: PHẦN NGHIỆP NHÂN
Như kinh Đắc vô cấu nữ nói: “Phật bảo, nếu Bồ tát hoàn thành 4 pháp, sẽ được ba mươi hai tướng tốt. Là bốn pháp nào?1/ Đem vàng rải lên Phật hoặc rải lên chùa. 2/ Thường đem dầu thơm xức lên tháp Phật. 3/ Bố thí đủ loại ca nhạc. 4/ Cùng gia quyến cúng dường các hòa thượng và A xà lê. Bấy giờ, đức Thế tôn bèn nói kệ rằng:
“Đem vàng rải lên chùa, Dầu thơm xức tháp Phật, Bố thí hương hoa, nhạc, Thành kính cúng dường tăng. Làm bốn pháp như thế,
Sẽ được ba hai tướng,
Đoan trang rất kỳ diệu,
Đầy đủ các công đức.”
Nếu Bồ tát hoàn thành bốn pháp, sẽ được tám mươi tướng đẹp phụ. Là bốn pháp nào? 1/ Đem đủ loại pháp phục đẹp đẽ trang sức pháp tọa. 2/ Cúng dường tha nhân không mõi mệt. 3/ Không gây náo động ở pháp đàn. 4/ Dạy dỗ chúng sinh tu hành Bồ đề. Bấy giờ, đức Thế tôn bèn nói kệ rằng:
“Pháp phục tô điểm pháp tọa,
Cúng dường người không mõi mệt,
Dạy người tu đạo Bồ đề, Sẽ được tám mươi tướng phụ. Vì các Bồ tát biết tu
Bốn loại công đức như thế,
Nên vào tất cả mọi lúc,
Được tám mươi tướng trang nghiêm.”
Thứ sáu: PHẦN ĐỒNG DỊ
Như luận Tân bà sa có câu hỏi: “tám mươi tướng đẹp phụ nằm ở chỗ nào? Đáp: “Nằm giữa các tướng tốt, xoay chuyển theo các tướng tốt, trang sức thân Phật trở thành tốt đẹp vô cùng.” Hỏi: “Tướng tốt và tướng đẹp phụ không cản trở nhau chăng?” Đáp: “Không phải thế, tướng tốt và tướng đẹp phụ lại cùng phát huy cho nhau, như hoa trong rừng tô điểm cây cỏ thêm rực rỡ. Thân Phật cũng thế, hai loại tướng ấy cùng phát huy, tô điểm thêm vào, cũng như các loại châu báu trang sức chen lẫn giữa Núi vàng vậy.” Hỏi: “ba mươi hai tướng tốt của Bồ tát và các tướng tốt của Chuyển luân vương có gì khác biệt chăng?” Đáp: “Bồ tát có bốn sự kiện hơn hẳn: 1/ Rực rỡ hơn. 2/ Rõ ràng hơn. 3/ Đầy đủ hơn. 4/ Đúng chỗ hơn. Ngoài ra, còn có năm sự kiện hơn hẳn khác: 1/ Đúng chỗ hơn. 2/ Rất trang nghiêm. 3/ Dấu vết sâu hơn. 4/ Tùy thuận thắng trí. 5/ Tùy thuận ly nhiễm.”
Thứ bảy: PHẦN GIÁO LƯỢNG
Kinh Phật a tỳ đàm nói: “Gom tất cả công đức của chúng sinh trong một nghìn hằng sa thế giới mới thành được một lỗ chân lông của Phật. Cứ thế, tạo thành công đức một lỗ chân lông của Phật. Gom tất cả công đức của các lỗ chân lông khắp trên mình Phật mới thành được một tướng đẹp phu. Cứ thế, tạo thành công đức của tám mươi tướng đẹp phụ, tăng lên trăm lần, mới thành được một tướng tốt trên mình Phật. Cứ thế, tạo thành công đức của ba mươi hai tướng tốt, tăng lên nghìn lần, mới thành được một tướng tốt lông mày bạc trên trán của Phật. Gom công đức của một ngàn tướng tốt lông mày bạc, tăng lên trăm lần, mới thành được một tướng tốt bướu thịt trên đầu của Phật mà tất cả người Trời đều không thể thấy được. Cứ thế, gom tất cả vô lượng công đức thanh tịnh mới thành được thân của Phật. Thế nên, Phật xứng đáng là bậc chí tôn trong tất cả Trời người vậy.”
Thứ tám: PHẦN BÁCH PHÚC
Theo kinh Ưu bà tắc giới nói: “Phật bảo, nếu Bồ tát tu dưỡng mỗi một tướng tốt, sẽ được hằng trăm phước đức vây bọc giúp chung quanh. Nếu tu dưỡng năm mươi tướng tốt, sẽ được năm mươi tư tâm vây bọc đầy đủ giúp chung quanh. Như thế gọi là trăm loại phước đức. Thiện nam tử! Tất cả phước đức của thế gian không bằng công đức một lỗ chân lông của Như Lai. Tất cả công đức các lỗ chân lông của Như Lai không bằng công đức một tướng đẹp phụ. Gom góp công đức tám mươi tướng đẹp phụ không bằng một công đức một tướng tốt. Tất cả công đức các tướng tốt không bằng công đức của tướng lông mày bạc. Công đức của tướng lông mày bạc lại không bằng công đức của đỉnh tướng bướu thịt không thể thấy được. Thế nên, Như Lai đã thành tựu đầy đủ vô lượng công đức. ba mươi hai tướng tốt này chính là quả báo đại bi.”
Lại nữa, luận Tân bà sa có câu hỏi rằng: “Theo khế kinh nói, mỗi một tướng tốt của đức Phật đều có hằng trăm phước đức điểm tô. Vây trăm phúc là gì?” Đáp: “Ở đây, trăm tư duy gọi là trăm phúc. Trăm tư duy là gì? Nghĩa là khi Bồ tát tạo nghiệp tu dưỡng mạnh mẽ hoàn hảo một tướng tốt, trước tiên phải phát khởi năm mươi tư duy tu sửa bản thân cho trong sạch điều hòa. Kế đến, phát khởi một tư duy dìu dắt tướng ấy. Sau đó lại phát khởi năm mươi tư duy làm cho thành tựu tướng ấy. Giống như người nông phu trước tiên sửa sang ruộng đất, kế đến gieo trồng. Sau đó, dùng phân bón nước nôi vun tưới. Tướng cũng thế, nếu được tu dưỡng mạnh mẽ hoàn hảo, sẽ được trăm phúc điểm tô. Cho đến nghiệp quả của đỉnh tướng bướu thịt không thể thấy được, lại cũng như thế. Do đó mới nói rằng mỗi mộv tướng tốt của đức Phật đều có trăm phúc điểm tô.”
Hỏi: “năm mươi tư duy là gì?” Đáp: “Trong Thập nghiệp đạo, mỗi nghiệp đạo đều có năm tư duy. Như nghiệp đạo ly sát có năm tư duy: 1/ Tư duy lìa sát. 2/ Tư duy khuyến khích dẫn dắt. 3/ Tư duy ca tụng. 4/ Tư duy tán thán. 5/ Tư duy hồi hướng. Nghĩa là do đem công đức hướng về cứu cánh Bồ đề. Cho đến chánh kiến lại cũng như thế. Đấy gọi là năm mươi tư duy.”
Có người nói: “Trong Thập nghiệp đạo, mỗi nghiệp đạo đều phát khởi 5 bậc tư duy tốt đẹp: thấp, vừa, cao, cao hơn và cao nhất. Giống các lối Thiền định của ngoại đạo.”Có người nói: “Trong Thập nghiệp đạo, mỗi nghiệp đạo phát khởi năm tư duy: 1/ Thanh tịnh gia hành. 2/ Thanh tịnh căn bản. 3/ Thanh tịnh hậu khởi. 4/ Không tìm làm hại. 5/ Nghĩ đến nhiếp thụ.” Có người nói: “Noi theo một tướng của đức Phật, phát khởi năm mươi sát na chưa từng nhiễm tư duy rồiliên tục chuyển hóa.”
Hỏi: “Trong trăm phúc này, mỗi một phúc lượng là gì?” Có người nói: “Nếu có thể thọ được nghiệp quả làm Chuyển luân vương thì ngự trị tự tại ở bốn Châu lớn để chuyển hóa. Đó là một phúc lượng.” Có người nói: “Nếu có thể thọ được nghiệp quả làm Đế thích thì tự tại giữa hai Thiên chúng để chuyển hóa. Đó là một phúc lượng.” Có người nói: “Nếu có thể thọ được nghiệp quả làm Thiên vương ở Trời Tha hóa tự tại thì tự tại giữa tất cả Thiên chúng ở Dục giới để chuyển hóa. Đó là một phúc lượng.” Có người nói: “Nếu có thể thọ được nghiệp quả làm Thiên vương Đại Phạm thì tự tại ở cõi Sơ Thiền và Thiên chúng của Dục giới để chuyển hóa. Đó là một phúc lượng.” Có người nói: “Khi Thiên vương Đại Phạm là vua của thế giới Ta bà đến cầu xin đức Phật thuyết pháp là một phúc lượng.” Hỏi: “Khi Thiên vương ấy đến cầu xin đức Phật đem công đức thuyết pháp thì Dục giới còn mang tính trung hòa, không bị che lấp, không thiện không ác, sao gọi là phúc lượng được?” Có người nói: “Khi sửa sọan đến cầu xin đức Phật thuyết pháp, Thiên vương ấy đang ở tại Phạm thế. Trước hết, suy nghĩ thế này: “Ta phải đến cầu xin đức Phật thuyết pháp để tạo lợi ích lớn lao cho các chúng sinh.” Bấy giờ, đã có thể gọi là phúc lượng của Thiên vương ấy rồi.” Điều này không hợp lý. Tại sao? Vì cho rằng khi chưa tạo nghiệp thì đã thành tựu phúc lượng ấy rồi, nên mới nói như thế. thật ra, khi Thiên vương ấy đến cầu xin đức Phật thuyết pháp xong, liền trở về Phạm cung. Sau đó, khi đức Phật thuyết pháp, địa thần loan báo trước tiên. Cứ thuyết pháp, âm thanh dội đến Phạm Cung. Pham vương nghe xong, hoan hỷ mừng thầm, phát tâm thanh tịnh, kính xin tán thán. Bấy giờ, mới thực sự thành tựu được phước lượng ấy.” Có người nói: “Khi thế giới sắp thành, tất cả chúng sinh thọ được nghiệp lự mạnh mẽ của Đại thiên thế giới. Đó là một phúc lượng.” Có người nói: “Trừ các Bồ tát gần đạt Phật địa, tất cả các chúng sinh khác có khả năng thọ được nghiệp quả phú lạc, đó là một phúc lượng.” Có người nói: “Trong mỗi một phúc lượng ở đây, phải dùng thí dụ mới lộ rõ ý nghĩa. Thí dụ như tất cả chúng sinh đều bị mù loà. Nếu có một chúng sinh dùng phương tiện lớn lao khiến cho họ đều được mở mắt thấy đường thì phước đức của chúng sinh ấy là mốt phúc lượng. Lại nữa, giả thiết tất cả chúng sinh đều uống độc dược, mê man sắp chết. Nếu có một chúng sinh ra tay giải độc, khiến cho họ đều được tỉnh táo thì phước đức của chúng sinh ấy là một phúc lượng. Lại nữa, giả thiết tất cả chúng sinh đều bị bắt trói, sắp sửa mất mạng. Nếu có một chúng sinh ra tay giải thoát, khiến cho họ đều được sống còn thì phước đức của chúng sinh ấy sẽ là một phúc lượng. Lại nữa, giả thiết tất cả chúng sinh đều phá giới phá kiến. Nếu có một chúng sinh ra tay đồng thời làm cho giới, kiến đều phục hồi đầy đủ thì phước đức của chúng sinh ấy cũng là một phúc lượng.” Bình luận rằng: “Những điều nói trên đều rất trong sáng và thích ứng, ca tụng phúc lượng của Bồ tát, nhưng đều không đúng với sự thật. Ý nghĩa đúng nhất là khi Bồ tát tạo nên mỗi một phước lượng thì sẽ vô lượng vô biên. Vì Bồ tát đã tích tụ đầy đủ xong các pháp ba la mật suốt ba Đại kiếp vô số lượng, đã phát khởi hạnh nguyện hết sức lớn lao mà chỉ có đức Phật mới có khả năng biết được. Những chúng sinh khác không tài nào ước đoán nổi. Nói như thế, mỗi một phúc lượng lớn lao đều có đầy đủ trăm phúc điểm tô. Từ một tướng tốt cho đến ba mươi hai tướng tốt đều có đầy đủ trăm phúc điểm tô như thế cả. Nhờ có ba mươi hai tướng tốt đầy đủ trăm phúc và tám mươi tướng đẹp phụ điểm tô pháp thân, nên đức Phật thật xứng đáng là bậc chí tôn chí thắng khắp cả trên Trời dưới thế vậy.”*
*Phần Bách phúc mà tác giả rút từ luận Tân bà sa rất súc tích và uyên thâm. Chúng tôi đã cố gắng rất nhiều khi chuyển dịch sang Việt ngữ, nhưng còn vài chỗ chưa mấy rõ ràng và ít danh từ chuyên khoa khó giải thích trong bài dịch. Vì tác giả viết cho những người rành Phật học. Xin tham khảo thêm Phật Quang Đại Từ điển quyển 3 trang 2498, 2499 mục Bách phúc trang nghiêm.
Bộ thứ 8: DU HỌC
Gồm có 4 phần: Thuật ý, Triệu sư, Giác lực, Giáo lượng.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý Trộm nghe:
Đức Nhất Thiết Chủng Trí, hiệu là Tất đạt đa, xuất hiện từ đầu ba Đại kiếp, độc tôn vào cuối trăm đời sau. Tóm trọn pháp giới để làm thành trí; thu hết vũ trụ để tạo nên hình. Bởi thế, hình hiện hữu khắp nơi, tầm vĩ đại vượt ngoài quy củ; trí tạo ra tất cả, mức hành động dứt khỏi nghĩ suy. Không thể đem chuyện nhân gian ước lượng, há được phép lấy nơi chốn luận bàn? Nếu muốn mở tung nhận thức cho đám ngu mê, c62n phải đề cao linh tích của bậc đại Thánh. Đôi khi ở trong hàng ngọai đạo, đôi khi mang lấy lốt ấu thơ. Tùy cơ ứng hiện giữa đồng loại để dạy dỗ phàm phu, đi cạnh khác giới nhằm hóa độ muôn vật. Như thế mới xứng là vô thượng sĩ, gọi là Trời của Trời. Bởi do ngu trí làu thông, Thánh phàm khó đoán. Đạo đức cao cả không thể nghĩ suy, công lao vĩ đại chẳng ai sánh nổi!
Thứ hai: PHẦN TRIỆU SƯ
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Khi vua Tịnh Phạn biết thái tử con mình đã lên 8 tuổi (kinh Nhân quả nói lên 7 tuổi), liền triệu tập tể tướng, quần thần đến và phán rằng: “ Các khanh nên biết, nay trong lãnh thổ của chúng ta, ai là người có tài năng giỏi nhất có thể làm thầy dạy dỗ cho thái tử?” Các quan tâu rằng: “Xin đại vương biết cho, nay có Tỳ xa bà mật đa la rất tinh thông các bộ luận cao siêu nhất. Vị ại sư này có thể dạy dỗ thái tử được.” Nhà vua triệu đại sư đến và phán rằng: “Tôn giả đại sư có thể dạy cho thái tử của ta tất cả các môn khoa học và triết lý chăng?” Bấy giờ Mật đa tâu rằng: “Thưa đại vương, thần xin tuân mệnh. Hôm nay, thần cảm thấy rất vui mừng.” Nhà vua bèn ra lệnh cho năm trăm đồng tử dòng họ Thích hộ vệ bốn bên. Ngoài ra, còn có vô số đồng nam đồng nữ theo hầu thái tử đến trường học.
Khi nhìn thấy thái tử từ xa, do uy đức của ngài, đại sư không thể dằn nổi, phải đứng lên kỏi chỗ, quỳ mọp đảnh lễ dưới chân ngài. Hành lễ xong, đại sư đứng lên, nhìn quanh bốn phía và cảm thấy rất xấu hỗ. Bấy giờ, từ giữa hư không, có một Thiên tử tên là Tĩnh Diệu, cùng vô lượng vô biên Thiên chúng cao cấp nhất giáng hạ từ Thiên cung Đâu suất để thường xuyên hộ trì thái tử. Thiên tử ẩn mình giữa hư không và nói kệ rằng:
“Các khoa học thế gian Và các môn triết lý,
Vị này đều biết rành Và dạy được người khác. Đó là vị giỏi nhất, Vì thương xót chúng sinh, Từ xưa đã thường đến.
Nay lại theo thầy học!
Tất cả trí xuất thế,
Chân lý và sức mạnh,
Nhân duyên sinh các pháp, Sinh ra rồi diệt vong, Nhất niệm biết tất cả.
Pháp hữu tướng, vô tướng,
Còn chứng biết được hết,
Huống chi là chữ nghĩa!”
Khi Thiên tử nói xong bài kệ này, liền lấy hoa rải lên mình thái tử rồi trở về Thiên cung.
Bấy giờ, thái tử bắt đầu đi học. Ngài lấy loại trầm hương tốt nhất từ đầu bò thần làm bìa tập. Dùng toàn thất bảo trang trí chung quanh bìa và chọn các mùi hương tự nhiên và đặc biệt xức lên sau bìa rồi mang đến chỗ của giáo thọ Tỳ xa mật đa la và nói rằng: “Tôn giả đại sư định dạy cho ta sách gì đây? Có sách của Phạm Thiên diễn giảng. Sách của đại tiên Khư lô sắt tra. Sách của tiên nhân Phú sa ca la diễn giảng. Sách A ca la (về toán học). Sách Mộng già la (điềm lành). Sách Da mị ni (nước Đại Tần). Sách Ương cù lê. Sách Da na ni ca (lạc đà). Sách Ta già la (nuôi bò cái). Sách Ba la bà ni (cây lá). Sách Ba lưu sa (lời rủa). Sách Phụ dữ. Sách Tỳ đa trà. Sách Đà tỳ trà quốc (Nam Thiên Trúc). Sách Chi la để (hình người). Sách Độ kỳ sai na bà đa. SáchTỳ da mị xa la (tạp loại). Sách A đà la đa (vườn chim bên núi). Sách Tây cù da ni. Sách Kha sa. Sách Chi na quốc (Đại Đường). Sách Ma na (khoa đẩu văn). Sách Mạt trà xoa la. Sách Tỳ đa tất để (thước). Sách Phú số ba (hoa). Sách Đề bà (Trời). Sách Na già (rồng). Sách Dạ xoa. Sách Càn thát bà (thần âm nhạc). Sách A tu la. Sách Ca lâu la (chim Kim sí). Sách Khẩn na la (Phi nhân). Sách Ma hầu la già (rắn lớn).Sách Di già già ca (tiếng thú). Sách Ca ca lâu đa (tiếng chim). Sách Phù ma đề bà (Địa cư Thiên). Sách An đa lê xoa đề bà (Xử không Thiên). Sách Tước đa la cầu lô (phía Bắc núi Tu di). Sách Bô lâu bà tỳ đề ha (phía Đông núi Tu di). Sách Ô sai bà (đưa lên). Sách Nị sai bà (ném). Sách Ta già la. Sách Bạt xà la (kim cương). Sách Lê già ba la để lê già (đi lại). Sách Tỳ khí đa (quỷ ăn đồ thừa). Sách A nậu phù đa (chưa từng có). Sách xa ta đa la bạt đa. Sách Già na na bạt đa (cùng chuyển). Sách Ưu sai ba bạt đa. Sách Ni sai ba bạt đa. Sách Ba đà lê khư (chân). Sách Tỳ câu đa la ba đà na địa (câu từ 2 tăng lên). Sách Da bà đà thâu đa la 9tăng 10 câu trở lên). Sách Mạt trà bà sẩn ni (trung lưu). Sách Lê sa da bà đa ba xỉ tỳ đa (các khổ hạnh trên núi). Sách Đà la ni tỳ xoa lê (xem đất). Sách Già già na tỳ lê xoa ni (xem hư không). Sách Tát bồ sa địa ni sơn đà (mục lục tất cả dược thảo). Sách Sa la tăng già hà ni (tổng lãm). Sách Tát bà lâu đa (tất cả các loại âm thanh).* Nghĩa của sáu mươi bốn quyển sách này trong bảy văn có cho chú thích và có chỗ không, nhiều lời chú thích không rõ ràng lắm, nên không thể cho vào. Đáng tiếc là những từ điển chuyên môn ngày nay cũng ít thấy giải nghĩa. Chờ các người về sau tra cứu lại thôi.
Khi thái tử kể xong những tên sách này, lại hỏi giáo thọ Mật đa rằng: “Trong tất cả sáu mươi bốn quyển sách này, không biết tôn giả định dạy cho ta sách nào đây?” Bấy giờ, Đa la nghe thái tử kể tên những sách ấy xong, trong lòng vui mừng thanh thản, giấu kín thẹn thùng, dẹp bỏ lòng kiêu căng ngã mạn, hướng về thái tử và nói kệ rằng: “Hiếm thấy bậc trí tuệ thanh tịnh, Tùy thuận các pháp ở thế gian. Tự mình tinh thông mọi sách luận, Lại chịu đến học hỏi cùng ta. Tên những sách này ta chửa biết, Ngài đã cầm tay đọc làu làu.
Là bậc chí tôn trong trời người,
Nay còn muốn tìm thầy học hỏi.” Thuật rằng: *
Than ôi! Nghiã lý huyền diệu chẳng có âm thanh, nhờ ngôn ngữ để diễn tả ý tưởng; ngôn ngữ đa đoan không có dấu tích, mượn văn tự để ghi chép âm thanh. Thế nên, văn tự là phương tiện diễn tả ngôn ngữ; ngôn ngữ là phương tiện diễn tả nghiã lý. Âm nghiã phải thật xứng hợp, không thể thiên lệch quá độ. Do đó, công dụng của văn tự bao la đầy vũ trụ.
Ngày xưa, có ba nhân vật chính tạo ra văn tự. Lớn nhất là Phạm Thiên, văn tự ấy viết về phía phải. Kế đến là Khư lô, văn tự ấy viết về phía trái. Nhỏ nhất là Thương Hiệt, văn tự ấy viết xuống phía dưới. Phạm Thiên và Khư lô đều ở bên Thiên Trúc. Sử thần Thương Hiệt của Hoàng Đế sống tại Trung Hoa. Phạm Thiên và Khư lô bắt chước phép tắc của Trời Tĩnh Cư; Thương Hiệt mô phỏng văn vẻ dấu chân các loại chim chóc. Dẫu văn tự và thư pháp thật sự khác xa nhau, nhưng mục đích diễn tả nghĩa lý vẫn chỉ là một.
Kính xét lời dạy của tiên hiền, có 64 bộ sách. Lưu truyền chốc lát, biến đổi chi ly. Quỷ rồng 8 bộ, kiểu chữ trăm hình. Tựu trung vẫn chấp nhận Phạm Thiên và Khư lô là văn tự hoàn bị nhất trên thế giới. Vì vậy, các nước bên Thiên Trúc mới gọi là sách Trời và các nước ở Tây phương ghi chép kinh điển đều noi theo Phạm văn ấy. Tuy thế, trong 36 nước, thỉnh thoảng vẫn có chỗ khác biệt. Liệu cũng giống Trung Quốc có các biến thể triện lệ đó chăng?
Xét cổ thể của Thương Hiệt, thấy đã biến đổi qua các đời. Cổ thể chuyển thành trứu. Trứu dời thành triện. Triện đổi thành lệ. Quá trình biến đởi cũng rất nhiều. Đến như 8 thể sinh thêm thì có tiên, rồng, mây, cỏ. Hai mươi bốn lối viết thì có khải, thảo, châm, thù.* Tên gọi vàthể loại tuy nhiều, nhưng công dụng lại càng ít ỏi. Như thế, theo định nghĩa nguyên sơ, thư pháp có đầy đủ 6 lối. Trong đó, hợp thời và nhanh chóng nhất là lối triện. Qua đây, nguồn gốc của thư pháp Trung Quốc và Aán Độ có thể biết được sơ lược.”
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, vua Tịnh Phạn lại triệu tập quần thần, phán rằng: “Ở đâu có thầy giỏi vũ thuật nhất có thể dạy cho thái tử của ta?”Các quan tâu rằng: “Tại đây có người họ Thích tên Thiện Giác và con của ông ấy tên là Sàn đề đề bà (Nhẫn Thiên) có thể dạy cho thái tử võ nghệ và binh pháp. Hai cha con bọn họ biết tất cả hai mươi chín môn kỹ thuật tài giỏi và điêu luyện nhất.” Nhẫn Thiên được triệu đến, tâu với nhà vua rằng: “Thần có thể dạy dỗ thái tử.” Vì thái tử ham thích đi chơi, nhà vua lập ra một vườn lớn tên là Cần Cù để thái tử vào ngao du hay sai xoa bóp. Lúc ấy, năm trăm đình thần thuộc dòng họ Thích đều ra tay lo liệu cho con của họ. Tất cả những tác phẩm cổ điển đem dạy cho thái tử cũng đều được dạy cho con họ học. Lại nữa, người đời chồng chất tháng ngày học tập, đôi khi cũng không thành tựu được. Thái tử và các đồng tử họ Thích chỉ mất bốn năm học tập, tất cả đều đã hoàn thành, thông suốt mọi thứ, thanh thản vô ngại. Nhẫn Thiên thấy thế, làm bài kệ cho thái tử rằng: “Ngài vào tuổi niên thiếu, Đến trường vui học tập. Không mất nhiều công sức, Nháy mắt hiểu ra ngay. Học trong thời gian ngắn, Hơn người học rất lâu.
Tuyệt học thu hoạch được,
Kết quả vượt xa người.”
Bấy giờ, thái tử sinh trưởng giữa chốn vương cung. Khi còn nhỏ bé, rong chơi chưa học. Khi lên tám tuổi, chất vấn giáo thụ, rồi đến học đường theo học bên cạnh hai tôn giả Mật đa và Nhẫn Thiên. Đọc những sách triết lý và tất cả các kỹ thuật binh pháp khác. trải qua bốn năm, đến khi lên mười hai tuổi đã tinh thông các môn học thuật. Sau đó, tuỳ thuận thế gian, cho vui mắt thích tai, có lần thái tử đã đến vườn Cần Cù dạo chơi bắn đùa. những đồng tử họ Thích cũng đều vui chơi ở vườn mình. Khi ấy, có bầy nhạn bay thành hàng giữa không trung. Đồng tử Đề bà đạt đa giương cung lên bắn, trúng được một con. Con nhạn bị bắn phải, mang lấy mũi tên rơi vào vườn của thái tử. Thấy thế, thái tử đưa hai tay nâng nhẹ lên, ngồi xếp bằng và đặt nó lên đùi rồi lấy tay trái lẹ làng giữ lại. Tay phải rút tên và dùng sữ mật băng bó dùm vết thương. Đề bà sai người sang nói với thái tử rằng: “Ta bắn trúng một con nhạn, rơi vào vườn của thái tử, xin thái tử mau mau giao trả, không được giữ lại.” Thái tử bảo người ấy rằng: “Nếu con nhạn chết, ta sẽ trả lại cho ngươi. Nếu nhạn còn sống, không thể trả được!” Nghe xong, Đề bà đạt đa lại sai người ấy sang nói với thái tử: “Dù sống hay chết, đều phải trả lại. Chính tay ta đã bắn trúng trước. Tại sao liều lĩnh giữ lại?” Thái tử đáp rằng: “Ta đã bắt được con nhạn này trứơc, nên phải như thế. vã lại, từ khi ta phát tâm Bồ đề đến nay, ta đều phải giữ gìn tất cả mọi chúng sinh. Huống gì con nhạn nhỏ bé này lại không thuộc về ta chăng?” Vì chuyện này, hai bên liền nổi lên tranh giành, phải tụ họp các trưởng lão họ Thích khôn ngoan nhờ phân xử. Bấy giờ, có vị Trời Tĩnh Cư biến thành một trưởng lão già cả chen vào đám đông, nói lên rằng: “Người nào có công chăm sóc nhạn thì được giữ lại. Người nào bắn trúng thì phải thả ra.” Các vị trưởng lão họ Thích đều khen phải, liền nói lớn lên rằng: “Phải đấy, phải đấy. Nên theo lời của vị nhân đức này.” Đây là nhân duyên cấu kết thù oán đầu tiên giữa đồng tử Đề bà đạt đa và thái tử.”
Thứ ba: PHẦN GIÁC LỰC
Như kinh Nhân quả nói: “Khi lên mười tuổi, thái tử đấu sức với anh em, nên cùng hàng vạn thân thích sửa soạn ra khỏi thành. Bấy giờ, có một con voi lớn đứng chận trước cửa thành. Không ai dám xong lên. Đề bà đạt đa vung tay đánh mạnh vào đầu, voi liền nhào xuống đất. Nan đà lấy ngón chân gạt văng ra bên đường. Thái tử giơ tay xách voi lên, liệng ra khỏi thành, rồi lấy tay hứng lấy, không cho bị thương. Nhờ thế, voi được sống lại. Mọi người hoan hô chưa từng có, cảm thấy hết sức lạ lùng. Từ bốn phương xa xôi, hằng trăm nghìn vạn ức cùng kéo đến xem. Trong vườn đặt bảy lớp trống vàng, trống bạc, trống thau, trống đồng, trống sắt. Mỗi thứ đều có bảy cái. Đề bà đạt đa ra tay bắn trước, xuyên thủng ba trống vàng. Kế tiếp, Nan đà cũng bắn xuyên ba cái. Thái tử che cung yếu, sai chọn một cây cung tốt của tổ vương cất trong kho, không ai giương nổi. Thái tử đang ngồi, lấy tay gảy dây cung. Tiếng ngân nghe vang dội khắp trong thành. Hằng trăm vạn người xem và các thiên tử giữa hư không đều cất tiếng ca tụng. Thái tử giương cung bắn ra một phát. Mũi tên xuyên qua tất cả bảy lớp trống, ăn xuống đất, nước vọt lên thành suối, rồi lại xuyên qua núi Đại Thiết vi.”
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, Chúa Trời Đế thích cầm mũi tên do thái tử bắn ra, bay về Trời Tam thập tam. Xong xuôi, đặt ra lễ tên trong Trời ấy để kỷ niệm. Thường chọn ngày lành, tụ tập chư Thiên, đem các loại hương hoa cúng dường mũi tên ấy. Đến nay, chư Thiên còn giữ ngày lễ kỷ niệm mũi tên ấy. Lại nữa, thái tử cầm tên bắn ra một phát, xuyên thủng bảy con heo sắt, rồi ăn xuống suối vàng. Chỗ đất do tên ăn xuống, biến thành một miệng giếng. Đến nay, mọi người thường gọi là Giếng tên. Lại nữa, thái tử cùng anh em họ Thích đánh nhau. Tất cả đều té nhào xuống đất nhưng không bị thương. Anh em họ Thích cùng nhau xúm lại đánh thái tử. Thái tử vung tay húc vào. Tất cả đều ngả vật xuống. Bấy giờ, bọn họ Thích và quần chúng đi xem đều cả thấy lạ lùng. Từ giữa hư không, vô lượng Thiên chúng cùng lên tiếng nói kệ rằng:
“Tất cả những lực sĩ hùng mạnh
Trong các thế giới khắp mười phương Đều có sức lực như Điều đạt, Không bằng cọng lông của thái tử. Thánh nhân uy đức sức vô biên, Vừa lấy tay đụng đã té nhào.
Thánh nhân thần lực rất lớn lao, Bọn ngươi sao dám cùng ngài đấu?
Như núi Tu di sừng sững kia,
Thiết vi lớn nhỏ rất kiên cố Và các ngọn núi khắp mười phương, Vừa đụng một cái, nát thành bụi!
Kim cương châu cứng như thép nguội, Cho đến các loại châu báu khác, Thần lực Thánh nhân bóp nát tan.
Huống gì đánh bọn ít sức ấy!”
Khi chư Thiên nói xong bài kệ này, liền lấy đủ loại hoa Trời rải lên mình thái tử và ẩn mình giữa hư không, không chịu xuất hiện. Bấy giờ, vua Tịnh Phạn biết được thái tử của ngài có tài năng xuất chúng, thắng hết tất cả mọi người. Tận mắt chứng kiến, nhà vua vô cùng hớn hở vui mừng, ra lệnh trang sức chuỗi anh lạc cho con voi trắng để thái tử cưỡi vào thành. Khi con voi trắng vừa ra cửa thành, gặp Đề bà từ ngoài đi vào. Thấy vậy, liền chận hỏi: “Voi này dành cho ai? Dắt đi đâu?” Nài voi trả lời: “Dắt ra khỏi thành để thái tử Tất đạt đa cưỡi về đại nội.” Vì ganh tị, Đề bà đạt đa vương tay trái chụp lấy vòi voi, tay phải thộp lấy trán, lật nhào xuống đất, xoay vòng ba lượt. Voi liền chết mất. Xác voi nằm nghẻn cửa thành. Mọi người qua lại không thông thương. đường sá ùn tắc, không thể đi lại được. Đồng tử Nan đà bước đến, hỏi rõ cớ sự, liền lấy tay phải nắm đuôi voi kéo ra khỏi thành được chừng bảy bước. Thái tử lại hỏi: “Ai kéo voi ra khỏi thành?” Mọi người đều đáp: “Chính tay Nan đà.” Thái tử khen: “Hay thay Nan đà. Ra tay giỏi thật!” Thái tử nghĩ rằng: “Hai người ấy tuy biết thể hiện sức lực của họ, nhưng xác con voi này to lớn quá. Sau này, thối rữa, mùi hôi sẽ xong lên khắp thành.” Vì vậy, thái tử lấy tay trái giở voi lên, tay phải đỡ lấy rồi liệng vào giữa không trung, vượt qua bảy lớp tường cao, bảy lớp hào sâu, văng ra khỏi thành khoảng một câu lô xa mới rơi xuống đất, biến thành một hố sâu. Đến nay, mọi người còn truyền tụng và gọi chỗ ấy là Hố voi rơi, chính là nơi này vậy. Bấy giờ, vô số người, đông đến hằng trăm nghìn, cùng nói lớn rằng: “Thật là hy hữu lạ lùng! Chưa từng chứng kiến. Rồi cùng nói kệ rằng:
“Điều đạt quật chết voi trắng xong, Nan đà kéo đi được bảy bước.
Thái tử vung tay liệng giữa trời,
Giống hệt hòn đất văng khỏi thành!”
Kinh Tập nhất thiết phước đức tam muội nói: “Bấy giờ, đại thành Tỳ da ly có một đại lực sĩ tên là Tĩnh Uy Đức luyện tập được sức mạnh lớn lao đến nổi tất cả mọi chúng sinh trong cõi Diêm phù đề đều không thể sánh kịp. Nghe đồn sa môn Cù đàm thành tựu công lực bằng 10 đại lực sĩ, bèn suy nghĩ: “Ta phải đến xem sa môn Cù đàm so với ta như thế nào.” Nghĩ xong, tìm đến chỗ đức Phật. vừa gặp đức Phật, đã cảm thấy hết sức tin yêu. Quỳ lạy dưới chân và chú tâm quan sát. Đức Phật biết hết, nhưng muốn thâu phục đại lực sĩ này, liền bảo Mục liên: “Ông hãy đi lấy mũi tên hồi ta còn làm Bồ tát đã bắn thi cùng anh em quý tộc của dòng họ Thích.” Mục liên bạch Phật: “Tôi không biết nằm ở chỗ nào.” Khi ấy, từ tay phải, đức Phật phóng hào quang lớn chiếu xuyên suốt đến dưới tầng đại kim cương của ba nghìn thế giới, thấy rõ mũi tên găm chặt vào đó. Đức Phật bảo Mục liên: “Ông thấy mũi tên rồi chăng?” Mục liên bạch rằng: “Tôi đã thấy rồi.” Đức Phật bảo Mục liên: “Ông hãy đi lấy mang về đây!” Mục liên lập tức xuống đó lấy về, nhanh như một cái co duỗi cánh tay. Tất cả đại chúng đều chứng kiến Mục liên vừa đi xuống, liền mang mũi tên về cho đức Phật. đức Phật bảo: “Đây chỉ là sức do cha mẹ sinh ra, chưa phải là thần lực. Nếu hồi đó ta dùng đến thần lực, mũi tên này đã xuyên qua vô lượng vô biên thế giới của chư Phật!”
Thứ tư: PHẦN GIẢO LƯỢNG
Như kinh Tập nhất thiết chư công đức tam muội nói: “Đức Phật bảo Mục liên: “Như sức của tất cảThiên tử trong tất cả bốn Thiên vương bằng sức một Thiên vương. Sức mười Thiên vương bằng sức một Thiên tử trong Trời Tam thập tam. Sức của tất cả các Thiên tử trong Trời Tam thập tam bằng sức một Đế thích. Sức mười Đế thích bằng sức một Thiên tử trong Trời Diệm ma. Sức của tất cả các Thiên tử trong Trời Diệm ma bằng sức một Thiên tử trong Trời Đâu suất đà. Sức của tất cả các Thiên tử trong Trời Đâu suất đà bằng sức một Thiên vương trong Trời Đâu suất đà. Sức mười Thiên vương trong Trời Đâu suất đà bằng sức một Thiên tử trong Trời Hóa lạc. Sức của tất cả các Thiên tử trong Trời Hóa lạc bằng sức một Thiên vương trong Trời Hóa lạc. Sức mười Thiên vương trong Trời Hóa lạc bằng sức một Thiên tử trong Trời Tha hóa tự tại. Sức của tất cả các Thiên tử trong Trời Tha hóa tự tại bằng sức một Thiên vương trong Trời Tha hóa tự tại. Sức mười Thiên vương trong Trời Tha hóa tự tại bằng sức của một Thiên tử trong Trời Ma Thiên. Sức của tất cả các Thiên tử trong Trời Ma Thiên bằng sức một Ma vương. Sức mười Ma vương bằng sức nửa lực sĩ. Sức mười lực sĩ bằng sức một đại lực sĩ. Sức mười đại lực sĩ bằng sức một Bồ tát tu hành một trăm kiếp. Sức mười Bồ tát tu hành một trăm kiếp bằng sức một Bồ tát tu hành một ngàn kiếp. Cứ thế mà tính, lần lượt tăng thêm mười lần, cho đến sức của mười Bồ tát tu hành nghìn nghìn nghìn vạn kiếp mới bằng sức một Bồ tát Vô sinh pháp nhẫn. Sức mười Bồ tát Vô sinh pháp nhẫn bằng sức một Bồ tát Thập địa. Sức mười Bồ tát Thập địa bằng sức một Bồ tát Tối hậu thân. Này, Mục liên!Vì Bồ tát thành tựu sức được như thế, nên vừa sinh ra đã đi bảy bước. Thế giới này, nếu Phật không trì giữ lại, thì đã hủy hoại không còn. Tại sao thế? Vì khi Bồ tát sinh ra xong, bước đi bảy bước, thế giới này vốn rộng sáu mươi nghìn do tuần. Khi Bồ tát hạ chân xuống, mặt đất sẽ lún sâu hằng trăm nghìn do tuần. Khi Bồ tát giở chân lên, mặt đất sẽ trồi lên hằng trăm nghìn do tuần. Nhờ Phật giữ lại, khiến thế giới này không bị chấn động hủy hoại, chúng sinh không bị khổ sở. Khi Bồ tát Tối hậu thân vừa sinh ra, đã có đầy đủ sức như thế. giả sử tất cả chúng sinh trong thế giới đều thành tựu đầy đủ sức của Bồ tát sắp thành Đạo Bồ đề, đem bổ túc vào trí lực xứ phi xứ của Như Lai, cũng sẽ không bằng được một phần trong trăm nghìn vạn ức phần. Đến nỗi dùng tóan số thí dụ cũng không tính được. Nếu thành tựu được mười loại sức như thế, mới gọi là Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Giác. Ở đây, chưa nói đến thần lực của Bồ tát. Nếu dùng đến thần lực, có thể đem hằng sa thế giới đặt lên đầu một cọng lông ở ngón chân, hất tung qua vô lượng hằng sa thế giới. Cứ thế hất qua lại, cũng không làm cho chúng sinh khổ sở. Thần lực này không thể đo lường tính tóan nổi. Nếu Như Lai thị hiên đầy đủ thần lực này, hàng ngũ Thanh văn các ông còn chưa đủ sức tin nổi, huống chi các chúng sinh khác?
Khi đại lực sĩ Tĩnh Uy Đức nghe đức Phật nói đến sức do phụ mẫu sinh ra của Bồ tát xong, lòng vô cùng kinh hoàng sảng sốt, đến nỗi tóc lông đều dựng đứng, lấy làm hy hữu lạ lùng. Kiêu căng ngã mạn đều tiêu, xin quy y Tam bảo, phát tâm Vô thượng Bồ đề.”
Bộ thứ 9: NẠP PHI
Gồm có 6 phần: Thuật ý, Quán đỉnh, Cầu hôn, Nghi báng, Thai nạn, Thần dị.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Than ôi! Pháp thân vô tướng, tùy cảm ứng để thị hiện; cơ duyên muôn đường, nên hóa tích cũng rất nhiều. Hoặc lìa dục để học Đạo, hoặc chịu nhẫn để tỏ quyền. Nếu chẳng cho thấy chuyện nạp phi, bọn phàm phu sẽ chê bai không phải là người trần thế. dù cho thấy hưởng thụ ngũ dục, nhưng không vì thế dễ dàng thay đổi tâm niệm sắt son. Do đó, khi dạo qua bốn cửa thành của vương quốc, thấy tám cảnh khổ sinh già bệnh chết, đã than rằng: “Đời người như thế, lây lất sao đành?” Bỏ khổ tìm chân, bắt đầu từ đấy. Vì vậy, kinh Duy ma nói: “Trước bị dục lạc trói buộc nên sau mới xuất gia.”
Thứ hai: PHẦN QUÁN ĐỈNH
Theo kinh Nhân quả nói: “Khi thái tử đã lớn tuổi, phụ vương ban sắc cho các nước rằng, sau ngày mồng tám tháng hai, sẽ làm lễ quán đỉnh cho thái tử. Tất cả hãy đến tập họp dự lễ lập ngôi thái tử. Sắc đã ban hành, quốc vương và quần thần các nước đều tề tựu đúng ngày để tham dự lễ lập thái tử và ban ơn đại xá.”
Luật sư Đạo Tuyên ở chùa Tây Minh tại Trường an, lấy đạo đức soi sáng Tăng già, có tuệ nghiệp siêu việt đại chúng. Tinh thành khổ hạnh đến phút lâm chung. Xưa sớm theo thầy, hơn năm mươi năm đi khắp xa xôi hỏi Đạo. Nuôi chí hộ trì, gặp được điều hay, chăm chút dựng xây tam bảo. Ghi chép phép tắc, được hơn một trăm quyển. Kết tập quy củ, rất có ý chỉ. Đến tháng hai năm Càn Phong thứ hai triều Đại Đường ta, luật sư tinh tiến tĩnh tu trong chùa cũ Tĩnh Nghiệp ở Nam Thạnh cung tại kinh thành. Tuổi tác xế chiều, sức lực suy giảm. Hằng nhớ Tứ sinh, thường mơ Tam hội. May có duyên xưa, gặp gỡ linh cảm, bệnh liền bớt dần. Luật sư dốc chí kiền thành, thọ được ứng nghiệm. Bấy giờ, có các tướng tá của Bốn vị Thiên vương xuống đến cửa phòng. Đi đứng giống người, dẫm chân thành tiếng. Luật sư hỏi ra: “Ai đó?” Đáp lại: “Đệ tử Trương Quỳnh.” Luật sư lại hỏi: “là thí chủ phương nào?” Đáp rằng: “Đệ tử là con thứ 15 của Nam Thiên vương ở cõi Dục giới thứ nhất. Phụ vương có 91 người con anh hùng dũng mãnh, cùng cai quản kinh thành. Thống lãnh các hàng ngũ đạo, đời trên bộ dưới nước, giữ gìn những kẻ xâm phạm biên cương. Tất cả đều thọ trì Phật pháp, coi sóc thiện ác, khiến cho Chánh pháp hưng long, cốt để vun trồng cội đức mai hậu. Theo kinh, đệ tử là con của Thiên vương Tỳ lưu ly ở phương Nam, trong hàng ngũ bốn Thiên vương hộ thế, thương lo toan bảo vệ, không nhận chức ngồi suống. Luật sư lại hỏi: “Thí chủ không chê ta đức bạc, nên mới đến thăm. Tại sao lại đứng ngoài cửa, không vào?” Đáp rằng: “Đệ tử chưa được sư phụ cho phép, nên chẳng dám tuỳ tiện bước vào.” Luật sư bảo: “Xin mời vào ngồi.” Vào xong, hành lễ và khép nép ngồi xuống. Luật sư lại hỏi: “Thí chủ đã dốc lòng tin tưởng Tam bảo và vâng lời Phật dạy, ra sức hộ trì. Hãy đến đây cho ta thấy mặt. Tại sao lại không chịu hiện hình?” Đáp rằng: “Báo thân của đệ tử khác với mọi người. Hào quang cũng khác. Sợ gây kinh hãi. Cùng sư phụ đàm đạo thế này cũng đủ. Cần gì phải hiện hình?” Luật sư lại hỏi: “Từ vào Xuân đến nay, sức lực của bần đạo yếu dần, thuốc thang không công hiệu. Chẳng hay tuổi thọ thế nào?” Đáp rằng: “Tuổi thọ của sư phụ sắp hết, không cần lo liệu thuốc thang.” Luật sư lại hỏi: “Mạng chung ngày nào?” Đáp rằng: “Không thể nói được ngày nào. Chỉ biết tuổi thọ của sư phụ chẳng còn bao lâu. Sẽ sinh vào cõi Trời thứ tư trong quốc độ của đức Phật Di lặc.” Luật sư lại hỏi: “Lấy ai làm bạn?” Đáp rằng: “Người anh thứ ba của đệ tử tên là Trương Dư. Thông minh lanh lợi, hâm mộ Phật pháp. Có sọan kinh Kỳ hoàn đồ hơn một trăm quyển. Nổi tiếng trên Trời cho tới dưới địa ngục. Luật sư nhân đó, bộc bạch nhiệt tâm, xin được chép lại để khai hóa cho Tăng tục. Lại có Thiên nhân Vi Côn là một trong tám hàng đại tướng của Nam Thiên vương. Vị này đứng đầu trong ba mươi hai vị đại tướng của Bốn Thiên vương. Bẩm chất thông tuệ Thánh sinh, sớm lìa ngũ dục. Phạm hạnh thanh tịnh, tu nghiệp trinh thành. Được Phật phó chúc, nuôi chí hộ trì, xiển dương Chánh pháp vào bậc thứ nhất trong cả ba Châu. Vô ngã vô cấu, lo lắng cho tứ chúng; đạt vật đạt Pháp, siêu việt khắp Năm thừa. Thế nên, Tứ hữu lần lượt thoát khỏi suy đồi; tăng tượng hư hao đều được bảo hộ. Luật sư thường nhờ mở lòng giải đáp, các vị góp nhiều ý kiến tinh tường. Tán thán luật sư biên tập Thánh tích, san địng gọn gàng thanh sách để giữ gìn. Nhờ thế, Luật sư vâng theo thần ngữ, gượng bệnh cầm bút. Nghe xong liền chép, gom thành mười quyển. Luật sư lo âu tuổi thọ gần hết, lại sợ Thiên nhân sắp về, chữ nghiã còn vời vợi bao la, nên không màng tâm đến mọi chuyện. Vì vậy, văn tự có chỗ sơ suất, nhưng chỉ cốt đạt được Thánh ý, không cần câu chấp văn vẻ. Những chỗ thiết yếu chưa hiểu chắc chắn, đều được đem hỏi để xóa bỏ hoài nghi, giải tỏa lầm lẫn. Toàn sách gồm ba ngàn tám trăm điều, chia thành mười Thiên: 1/ Nói về nghi thức kết tập. 2/ Nói về kệ tụng của Thiên nữ. 3/ Nói về phó chúc xá lợi. 4/ Nói về phó chúc y bát. 5/ Nói về phó chúc kinh tượng. 6/ Nói về phó chúc Phật khí. 7/ Nói về kết tập trước sau. 8 và 9/ (chưa xong, khuyết mất tên gọi). 10 / Nóivề giữ gìn Thánh tích.
Luật sư đã chính mình thọ nhận linh âm. Vừa phát ra, liền thấy hân hoan. Tai mắt tuy mõi mệt, nhưng tâm thần không hề khổ sở. Chỉ ân hận không biết được sớm, nên văn vẻ chưa được chu toàn. Nay hãy theo lời Thiên nhân diễn giảng, phù hợp với diệu chỉ của Tam tạng thì biên chép vào. Tuy nghe từ miệng chư Thiên, nhưng cũng giống như lời Phật dạy. Bắt đầu từ tháng hai tới tháng sáu, ngày nghỉ đêm truyền, không hề gián đọan. Đến ngày mồng ba tháng mười đầu mùa Đông, sức lực của Luật sư suy kiệt. Tràng phan phất phới, hương tỏa đầy trời. Chư Thiên và Thánh chúng cùng nói: “Từ Trời Đâu suất xuống mời Luật sư.” Luật sư ngồi trang nghiêm, chắp tay nhập định, nhắm mắt thâu thần. khi ấy, có hơn trăm nghìn người đều thấy hương tỏa hoa rơi nghinh đón luật sư bay về Trời. Luật sư vốn là pháp lữ của bần đạo, cùng đến pháp đàn tham học. Tuy hạnh giải có chỗ khác nhau, nhưng vẫn cùng chí hướng trước thuật. Thâu thái kiến thức đều đúng lý đúng sự; trích dẫn kinh sách cốt tóm tắt cương yếu. Lại đem phân thành chương mục rõ ràng, cốt nhầm bảo tồn Chánh pháp, duy trì mục đích lợi tha.
Bấy giờ, bốn Thiên vương bạch luật sư Đạo Tuyên rằng: “Khi sắp nhập Niết bàn, đức Như Lai ở cùng Trời người và đại chúng tại tịnh xá Ngưu đầu phía Nam ao A nậu đạt trên đỉnh núi Hương. Ngài bảo Đại Ca diếp rằng: “Ông hãy cùng Tu bồ đề lên đỉnh núi Tu di thổi kèn pháp lớn triệu tập các Bồ tát thập địa, thanh văn, Phạm Thiên, Đế thích, bốn Thiên vương và chư Phật mười phương cùng về tụ họp tại núi Hương này.” Ca diếp vâng lời, triệu tập đầy đủ đại chúng. Khi ấy, đức Thế tôn ngồi kiết già phu tọa, nhập định Kim cương Ta muội. Mặt đất chấn động mạnh đủ sáu cách. Từ mi bạc phóng hào quang chiếu diệu khắp Đạii thiên thế giới suốt bảy ngày. Toàn thể đại chúng đều thắc mắc, không hiểu nhân duyên. Đức Thế tôn xuất định Tam muội, thanh thản mỉm cười bảo đại chúng: “Trước đây, khi ta mới vượt thành ra khỏi cửa cung, Càn thát bà chúa thống lãnh thuộc hạ cử hành hằng nghìn bản Thiên nhạc, đến đó hỏi ta rằng: “Ngài muốn đi đâu?” Ta đáp: “Ta muốn đi tìm Đạo bồ đề.” Càn thát bà chúa ấy nói: “Ngài nhất định sẽ thành Chánh giác. Ngày xưa, khi đức Phật Câu lưu tôn sắp nhập Niết bàn, đã giao cho tôi một bình vàng. Trong đó có tháp quý đựng bảy ấn báu. Hai ấn vàng và năm ấn bạc. Dặn tôi luôn luôn cất giữ. Khi thái tử Tất đạt thành Chánh giác, tôi sẽ tìm đến tận nơi trao lại cho ngài. Chẳng bao lâu nữa, thái tử Tất đạt sẽ thành Đạo.” Bấy giờ, Thiên vương Đại Phạm và thổ thần Kiên Lao dùng vàng ròng và bạch ngọc xây đàn kim cương lớn, trang hoàng bằng các loại châu báu, ở phía Nam cây Bồ đề. Càn thát bà chúa bạch chư Phật mười phương rằng: “Tôi thấy các đức Phật thời quá khứ, khi mới thành đạo, đều lên đàn kim cương. Lấy nước đựng đầy bình vàng, tưới lên đỉnh đầu của đức Phật để hoàn thành ngôi vị Pháp vương. Nay thấy đức Thích ca mới vừa thành Đạo, cũng nên bước lên đàn kim cương như các đức Phật ngày trước. Tôi nghe dưới bảy lớp biển trong của núi Tu di có nước tám công đức. Ngày xưa, khi chư Phật sắp bước lên ngôi vị Pháp vương, đều bước lên đàn kim cương, lấy nước ấy tưới lên đỉnh đầu. Tôi thân hành đi lấy đem về tưới cho đức Thích ca.” Càn thát bà chúa mở bình lấy tháp đựng ấn ra, rồi đem bình đi lấy nước. Bấy giờ, chư Phật mười phương bảo ta bước lên đàn. Ta liền đi vòng quanh đàn ba lượt. Từ phía Nam bước lên đàn, di chuyển về phía Tây, đến đứng giữa đàn, quay về phía Bắc, trải tọa cụ và lễ chư Phật mười phương. Chư Phật bảo ta ngồi nhập định kim cương Tam muội. Chư Phật lại bảo long vương Bà kiệt rằng: “Ông hãy xuống đáy biển lớn, trên đỉnh núi Tân già la ở bãi nhỏ của Bảo mã vương có động lớn tên là Kim cương tạng. Trong đó có chứa chén Luân vương và chén Pháp vương làm bằng vàng ròng, phía trên gắn thất bảo và bạch ngọc. Khi chư Phật xuất thế, đều lấy một ngàn chén tưới lên đỉnh đầu. Ông hãy đi lấy về đây, không cần lấy chén Luân vương, để đựng nước 8 công đức tưới cho đức Thích ca.” Long vương vâng lời chỉ dạy, đi lấy chén vàng về giao cho chư Phật. xong xuôi, chư Phật bảo Càn thát bà chúa: “Hãy đem nước rót vào chén vàng.” Chư Phật nhận xong, mặt đất chấn động đủ 6 cách. Chư Phật mười phương đều phóng hào quang mây bạc. Trong đó, ca tụng công đức quý báu của chư Phật. Ta xuất khỏi định Tam muội và cũng phóng hào quang mây bạc, hợp với hào quang của chư Phật, tạo thành một tán quý phủ khắp Đại thiên thế giới. Mặt trời, mặt trăng, tinh tú, biển lớn, núi lớn và các nghiệp báo của chúng sinh đều hiện ra trong tán ấy. Trong đó còn có hằng trăm ức quốc độ của chư Phật. Chư Phật bảo ta đứng trên kim đàn. Ta lại lễ chư Phật mười phương. Chư Phật lại bảo long vương Hòa tu lên đỉnh núi Tần già. Ở đó có động chứa các bảo tọa của chư Phật và của Chuyển luân vương đều bằng vàng ròng, giống như Phật tọa ở núi Tu di có chín rồng quấn quanh, Chuyển luân vương tọa có năm rồng quấn quanh, dành cho Pháp vương khi lên ngôi ngồi vào. Bấy giờ, chư Phật lại sai Đại Ma vương và Đại Phạm vương cùng khiêng Phật tọa lên kim đàn. Chư Phật bảo ta ngồi lên. Ta liền nghe lời, ngồi lên. Bấy giờ, chư Phật lấy chén vàng đụng đầy nước tưới lên đỉnh đầu ta. Chư Phật tưới xong, kế đến, bốn Thiên vương, Đế thích, Ma vương, Đại Phạm lần lượt tưới lên. Khi ta được tưới xong, liền chứng quả Tĩnh Tam muội. Vô lượng Phật pháp đồng thời hiện ra. Mặt đất lại chấn động mạnh. Hằng trăm nghìn ma quân đều đến quy hàng. Các Phạm vương mười phương đều cầm nhạc khí Trời tấu bài Phật thành Đạo và trong các nhạc khí ấy phát hào quang và nói pháp Ba la mật. Bấy giờ, Càn thát bà chúa đem bảy ấn báu nói trên giao cho chư Phật. chư Phật nhận xong, ấn vào thất khiếu trên mặt ta và bảo rằng: “Nay ấn vào thất khiếu trên mặt ngài, khiến có đủ Thất giác phần.” Trước tiên, ấn vào diện môn để biết chọn lựa phiền não và trí tuệ. Cứ thế, tai, mắt, mũi, đều được lần lượt ấn lên. Càn tát bà chúa lại lấy ấn vàng giao cho chư Phật. nhận xong, chư Phật lại ấn ba chỗ lên bụng ta. Nhờ phép ấn này, ta chứng được quả Tam không trí, hiểu trọn mọi Phật pháp. Kế tiếp, Càn thát bà chúa lại giao ấn bạc cho chư Phật. Nhận xong, chư Phật lại ấn lên trán và tay chân ta. Khi được ấn xong, ta đã chứng được quả Vô lậu trí, đầy đủ Ngũ phần pháp thân. Chư Phật ấn xong, lại xòe bàn tay óng ánh sắc vàng xoa lên đỉnh đầu ta. Được xoa xong, ta chúng được trăm nghìn phép Tam muội và quả Thiên pháp minh môn. Những quả này, ta đã chứng được từ lâu, nhưng vì các chúng sinh, nên phải thị hiện tướng Đồng luân vương và tướng Hy thụy. Đỉnh đầu và tay chân ta đều phóng hào quang ngũ sắc. Trong mỗi một hào quang có đủ trăm nghìn lầu đài. Các hóa Phật của ta đều ngự trong lầu đài ấy, đều thọ ấn và chứng được quả vị lớn lao như ta. Từ khi thành Đạo đến nay, ta thường giữ bình vàng này, nhưng chưa từng đưa ra cho các ông xem. Hôm nay ta mới đưa ra. Đức Phật lại bảo đại sĩ Phổ Hiền mở bình, bưng bảo tháp ra. Phổ Hiền vâng lời làm xong, liền đến đứng trước đức Thế tôn. Đức Thế tôn đứng lên lễ tháp xong, cửa tháp tự mở ra. Trong đó có 1ba vạn đài bằng trân châu. Mỗi đài có riêng một ấn và kim điệp Tỳ ni. Còn có 1ba vạn đài, trong đó có năm vị Tỳ kheo đang nhập định Diệt tận. Đức Phật bảo Văn thù: “Ông hãy lấy kèn pháp bịt vàng của ta đến chỗ các Tỳ kheo ấy thổi lên bài ta xuất thế và bài xuất định sâu.” Tỳ kheo nghe tiếng nhạc, liền xuất khỏi định, hỏi Văn thù: “Hiện nay, đức Phật nào xuất thế?” đáp rằng: “Chính là đức Phật thứ tư Thích ca trong thời Hiền kiếp.” Tỳ kheo lại nói: “Ta là đại đệ tử thuộc hàng thanh văn của đức Phật Câu lưu tôn. Khi nhập niết bàn, đức Phật ấy bảo ta ở trong tháp này giữ gìn các ấn cho đến khi đức Phật Lâu chí bắt đầu nhập niết bàn.” Bấy giờ, Tỳ kheo đứng lên khỏi chỗ, từ xa đảnh lễ và thỉnh an đức Thế tôn xong, lại bảo Văn thù: “Đức Phật ấy dạy ta, khi đức Phật Thích ca nhập niết bàn, hãy lấy hai mươi ba cái ấn trong số ấn của ta, giao cho đức Phật Thích ca. Vì sau đó, chúng sinh do nghiệp nặng, tà kiến, không giữ gìn giới luật, nên chư Thiên, long thần không ủng hộ nữa. khiến cho tứ chúng chẳng còn uy đức. Ta giữ các ấn này rồi đem giao cho đức Phật Thích ca văn để ấn khắp các giáo pháp còn lại. Ấn vào tứ chúng để đừng phạm giới. Nếu kẻ nào ham tụng kinh điển, ấn vào miệng cho đừng quên. Nếu kẻ nào tu Thiền, làm việc ngay thẳng, đều đem ấn vào. khiến cho mai saui, khi họ mệnh chung, thân xác không bị hủy hoại, đôi khi còn phóng hào quang. Các chúng sinh xấu thấy được điềm lành ấy, đều phát sinh lòng hân hoan tôn kính.” Nói xong lời này, cửa tháp liền tự đóng lại.”
Thứ ba: PHẦN CẦU HÔN
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ thái tử dần sắp trưởng thành. Khi lên mười chín tuổi, vua Tịnh Phạn lập cho thái tử Cung điện 3 mùa: thứ nhất là biệt điện ấm để nghỉ mùa Đông lạnh. Thứ hai là biệt điện mát để nghỉ mùa Hạ nóng. Thứ ba là biệt điện trung hòa để nghỉ mùa Xuân và mùa Thu. Lại xây nhiều hồ đình, trồng hoa quả bốn mùa sau hậu viên. Có nhiều ca kỹ theo giờ hầu hã. Tiện nghi đầy đủ không thể tả hết. Nhà vua còn nhớ khi thái tử mới sinh, tướng sư A tư đà tiên đoán sẽ làm Chuyển luân vương, lại đoán sẽ làm uy vương, lại đoán sẽ xuất gia thành Đạo. Làm sao khiến thái tử không xuất gia để nối ngôi vua? Dòng họ Thích trả lời, nay nên xây gấp biệt điện cho thái tử, sai các thể nữ giúp vui. Nếu thế, thái tử sẽ không lìa bỏ để xuất gia và nói kệ rằng:
“Lời đoán của Tư đà,
Chắc chắn sẽ không sai.
Họ Thích khuyên lập điện,
Mong sẽ chẳng xuất gia.”
Nhà vua lại nói với dòng họ Thích: “Các khanh nên xem xét con nhà ai có thể làm phi cho thái tử?” Bấy giờ, năm trăm người họ Thích ai nấy đều nói: “Con tôi có thể làm phi cho thái tử.” Nhà vua trù liệu, nếu thình lình cưới con của họ, lỡ không xứng đôi, sẽ thành ra phụ bạc. Nhà vua lại suy nghĩ thêm, nếu cho rằng có thể thuyết phục được thái tử, chi bằng dùng các loại châu báu làm đồ trang sức rồi giao cho thái tử ban cho các cô gái được tuyển chọn. Dặn dò quan sát, xem thái tử chú ý đến ai thì sẽ cưới làm phi. Suy nghĩ xong xuôi, nhà vua cho gõ mõ rao khắp thành Ca tỳ rằng: “Từ nay đến ngày mồng bảy, thái tử muốn gặp các cô gái thuộc dòng họ Thích để ban tặng các đồ trang sức làm bằng đủ loại châu báu.” Bấy giờ, tất cả các cô gái trang điểm thân hình lộng lẫy, đến tụ họp ở cửa cung để ra mắt thái tử. Do có uy đức lớn lao, tất cả đều không dám nhìn thẳng thái tử, chỉ nhận bảo vật, cúi đầu bước nhanh qua trước mặt ngài. Cuối cùng, khi đồ trang sức đã hết, có một cô gái thuộc bộ tộc Ba tư tra, tên Da thâu đà la, là con gái của đại thần họ Thích Ma ha na ma, cùng tỳ nữ trước sau đi tới. Trông thấy thái tử từ xa, nàng ngước cao đôi mắt, uyển chuyển bước chân. Trang nghiêm nhìn thẳng, không liếc hai bên, tiến đến nghinh đón thái tử, tự nhiên như đã quen thân, không hề bỡ ngỡ, thưa thái tử rằng: “Xin thái tử ban cho đồ trang sức.” Thái tử đáp: “Nàng đến không kịp. Ta đã đem tăng hết rồi!” Cô gái lại thưa: “Thiếp có lỗi gì, đến nỗi thái tử khinh thường, không ban cho đồ trang sức?” Thái tử đáp lại: “Ta không hề khinh thường nàng. Chỉ vì nàng đến không kịp!” Bấy giờ, chiếc nhẫn đáng gía trăm nghìn đang đeo trên ngón tay cái của thái tử bỗng nhiên rơi ra cho nàng. Da thâu thưa rằng: “Thiếp đến bên thái tử, chỉ đáng được chiếc nhẫn này chăng?” Thái tử đáp rằng: “Những vật ta đang đeo, từ chuỗi anh lạc tự nhiên, nàng được tùy ý lấy đi!” Cô gái lại thưa rằng: “Hôm nay, thiếp nào dám tước đoạt châu báu của thái tử. Thiếp chỉ nên trang điểm thêm cho thái tử mà thôi!” Nói xong, cô gáiliền bỏ ra về, lòng không vui mấy.
Bấy giờ, sau khi đức Thế tôn đã thành Phật xong, tôn giả Ưu đà di bạch đức Phật rằng: “Tại sao đức Như Lai toan cởi hết chuỗi anh lạc vô giá tặng cho Da du đà la, vẫn không làm cho nàng ấy vui lòng?” Đức Phật bảo Ưu đà di: “Hãy chú tâm nghe kỹ, ta sẽ nói rõ.” Ưu đà di thưa rằng: “Xin đức Thế tôn nói giúp.” Đức Phật bảo Ưu đà di: “Ta nhớ lại vào vô lượng kiếp xa xưa, tại thành Ba la nại trong nước Ca thi la có một vị quốc vương tin vào tà kiến, dùng đảo kiến cai trị nhân dân. Nhà vua ấy có hoàng tử mắc tội nhỏ, bị ngài đuổi ra khỏi nước, đến gần một đền thờ Phạm Thiên, cùng phu nhân dừng lại nghỉ ngơi. Lương thực hết nhẵn, hoàng tử đi săn bắt thú rừng để nuôi thân. Gặp con kỳ đà, liền rượt theo giết được. lập tức lột da, bỏ vào nước luộc. Khi sắp chín, lại cạn nước. Hoàng tử bảo phu nhân: “Thịt chưa thật chín, nàng hãy đi lấy nước.” Sau khi phu nhân đi xong, hoàng tử đói quá, không chịu đựng nổi, liền ăn thịt kỳ đà. Ăn hết tất cả, không chưa lại miếng nào. Phu nhân đi lấy nước về, thấy vậy, hỏi hoàng tử: “Thịt kỳ đà đâu rồi?” Hoàng tử trả lời: “Bỗng nhiên kỳ đà sống lại, bỏ chạy mất!” Phu nhân không tin, suy nghĩ thịt đã chín, làm sao có thể chạy được? Chắc chắn chồng ta vì đói quá, đã ăn hết và nói dối đã chạy đi mất. Từ đó, phu nhân nuôi lòng sân hận, không được vui vẻ. Vài năm sau, phụ vương mệnh chung. Quần thần liền nghinh đón hoàng tử về làm lễ quán đỉnh và tôn lên ngôi. Khi đã làm vua, có bao nhiêu châu báu đều đem tặng cho vương phi. Thấy vương phi không vui, nhà vua phán rằng: “Tại sao thần sắc không vui?” Vương phi nói kệ trả lời:
“ Xin đại vương nghe cho, Ngày xưa khi đi săn, Cầm cung dao gì đó, Bắn chết được kỳ đà.
Lột da, nấu sắp chín.
Sai thiếp lấy nước thêm.
Lén ăn không chừa lại,
Nói gạt đã chạy mất!”
Đức Phật bảo Ưu đà di: “Ông nên biết rằng, nhà vua bấy giờ chính là ta. Vương phi ấy chính là Da du đà la. Vì ta đã nói dối, xúc phạm đôi chút, nên bây giờ nàng mới không vui.”
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, đại thần Ma ha na ma thấy tất cả tuyệt nghệ siêu phàm, kiến thức uyên bác của thái tử đều đứng đầu, liền thưa thái tử rằng: “Trước đây, thần đã bảo thái tử không biết nhiều tuyệt nghệ như thế, nên sinh lòng hoài nghi, không chịu gả con gái. Nay thần đã biết rõ, xin thái tử thâu nhận con gái thần về làm phu nhân.” Thái tử bèn chọn ngày lành, có sao tốt, tuyển lựa báu vật làm đồ sính lễ, trần thiết nghi vệ của phụ vương đem đi rước dâu. Da thâu đà la trang điểm nhiều chuỗi anh lạc, lại cùng năm trăm thể nữ theo hầu lên đường. Thái tử nghinh đón về cung, cùng nhau hưởng thụ hoan lạc ngũ dục. Nên có bài kệ rằng:
“Da thâu đà la con đại thần, Tên vang khắp nước, xa gần nghe.
Thái tử chọn ngày lập làm phi, Long trọng đón rước về đại nội.
Thái tử cùng nàng hưởng hạnh phúc, Hoan lạc phóng túng không biết chán.
Giống trên Thiên cung, Kiêu thi ca
Và nàng Xá chi cùng vui chơi.”
Bấy giờ, sau khi đức Thế ton mới vừa thành Đạo, Ưu đà di liền bạch đức Phật rằng: “Tôi chưa hiểu ngày xưa, đức Thế ton cùng nàng Thích nữ Cù đa di có nhân duyên gì, khiến nàng ấy từ chối các chàng trai khác, chỉ chọn đức Như Lai làm chồng và tại sao đem lòng vui thích thật tình?” Đức Phật bèn bảo Ưu đà di rằng: “Ưu đà di! Ông hãy chú tâm nghe kỹ. Nàng Thích nữ Cù đa di ấy, không phải chỉ đời này mới chê những chàng trai dòng họ Thích, và hâm mộ ta đâu. Thật ra, vào đời quá khứ xa xưa, cũng đã như thế. nàng đã không cần các chàng trai ấy mà chỉ chọn ta làm chồng. Ta nhớ lại ngày xưa, dưới núi Tuyết, có vô lượng vô biên loại thú chạy nhảy, cùng theo đuổi nhau, tha hồ ăn thịt. Trong số đó có một con hổ cái vô cùng đoan trang, không con nào sanh kịp. Con hổ ấy có bộ lông láng mướt, được vô biên con thú khác lựa chọn sánh đôi. Mỗi con đều nói: “Nàng thuộc về ta! Nàng thuộc về ta!” Lại có các con thú khác bảo nhau: “Các người hãy chờ đợi, xin đừng giành nhau, xem nàng hổ cái ấy chọn lựa ai để sánh đôi. Chàng thú ấy sẽ là vua của chúng ta.”
Bấy giờ, trong đó có một con bò chúa hướng về hổ cái nói kệ rằng:
“Thế gian đều lấy phân của ta Đem bôi lên đất, cho là sạch.
Vì thế hổ cái rất đoan trang,
Nên chọn ta làm chồng của nàng.” Khi ấy, hổ cái hướng về bò chúa đáp kệ rằng: “Cổ ngươi có yếm rất to lớn, Chỉ dùng kéo xe và kéo cày.
Làm sao đem thân hôi hám ấy,
Mơ tưởng làm chồng của ta được?”
Bấy giờ, lại có một con voi trắng hướng về hổ cái nói kệ rằng:
“Ta là voi chúa ở núi Tuyết. Chiến đấu dùng ta, đều đắc thắng.
Ta vốn có sức oai như thế,
Nàng nay sao chẳng làm vợ ta?”
Khi ấy, hổ cái bèn dùng kệ đáp lại voi chúa rằng: Nếu ngươi nghe thấy sư tử chúa, Vỡ mật, ù tai, hoảng chạy trốn.
Phân giải vung vãi són khắp nơi.
Làm sao đáng mặt chồng ta được?”
Bấy giờ, trong số đó có một con sư tử, vốn là chúa tể của loài thú, hướng về hổ cái nói kệ rằng:
“Nàng hãy nhìn ngắm thân hình ta, Phía trước cao lớn, sau thon thả. Tự do sinh sống ở giữa núi,
Lại biết bảo vệ các loài khác.
Ta chính là vua các loài thú.
Không ai có thể thắng được ta. Nếu thấy mặt ta, hoặc nghe tên, Tất cả muôn thú đều bỏ chạy. Nay ta dũng mãnh đến như thế, Uy thần vĩ đại không thể bàn.
Vì vậy hổ lành nên biết cho, Xứng đáng về làm vợ ta đó.”
Khi ấy, hổ cái hướng về sư tử chúa nói kệ rằng: “Sức lực dũng mãnh và oai hùng, Thân thể hình dung đều đoan chính. Như thế, tôi nay đã có chồng.
Sẳn sàng kính cẩn về hầu hạ.”
Bấy giờ, đức Phật bảo Ưu đà di rằng: “Ưu đà di! Ông nên hiểu rằng sư tử chúa thời bấy giờ chính là ta. Hổ cái ấy chính là Thích nữ Cù đà di hiện nay. Các loài thú ấy nay là năm trăm chàng trai dòng họ Thích. Đương thời, nàng Cù đà di đã chê các loài thú khác, không có ý ưa thích. Nghe bài kệ của ta, liền bằng lòngvề làm vợ. Hiện tại cũng thế, nàng lìa bỏ năm trăm chàng trai dòng họ Thích, chê bai xem thường và chọn lựa ta làm chồng.”
Lại nữa, kinh Nhân quả nói rằng: “Khi thái tử lên mười bảy tuổi, nhà vua triệu tập quần thần để cùng bàn luận tìm nơi cưới hỏi cho thái tử. Có vị Bà la môn họ Thích tên Ma ha na ma sinh được một cô gái tên Da du đà la. Dung nhan đoan chính, thông minh sáng láng, hiền đức hơn người. Do đó, lập làm phu nhân cho thái tử. Thái tử cưới phu nhân xong, tuy thường cùng đi đứng nằm ngồi, nhưng không nhuốm mùi thế tục, chỉ chuyên tu Thiền định.” Lại nữa, kinh Phổ diệu nói: “Khi ấy, các trưởng giả lực sĩ thuộc họ Thích bẩm nhà vua rằng: “Nếu để thái tử làm Phật, sẽ đứt mất dòng dõi Thánh vương.” Nhà vua phán: “Nhà ai có con gái quý xứng đáng lập làm phi cho thái tử thì hãy châm chước lập thử.” Sai thợ giỏi chế tượng vàng có khắc chữ: “Cô gái nào hội đủ tiêu chuẩn đạo đức, lễ nghĩa như lời trẫm bố cáo mới được ứng tuyển.” Nhà vua lại sai hai Phạm chí thân cận đi xem xét khắp nước Ca di vệ, gặp một cô gái đẹp, trong trắng như hoa sen, cao quý như tiên nữ. Ấy là con gái của trưởng lão họ Thích, tên là Câu di. Thấy thái tử có đủ tài năng tuyệt diệu, trưởng lão gã cô gái ấy cho thái tử làm phi. Năm thái tử lên mười bảy tuổi, nhà vua lại lập phi cho thái tử. Tuyển chọn trong số mấy nghìn người, cuối cùng lựa được một cô gái tên là Cừu di. Đoan trang đứng đầu, thông minh lễ nghĩa nổi tiếng. Ấy là cô gái bán hoa từ thời tiền kiếp. Tuy nạp phi đã lâu, nhưng thái tử không hề chung đụng. Cô gái ham muốn, có ý cận kề. Thái tử bảo: “Nàng là phụ nữ, nếu có ô uế, sẽ vấy bẩn áo lót của ta.” Vì thế, cô gái không dám lại gần. Các cô gái đều nghi ngờ thái tử không phải là người nam. Thái tử lấy tay chỉ vào bụng phi, bảo: “Sáu năm sau, nàng sẽ sinh con trai.” Từ đó, phi bèn có thai.” Lại nữa, kinh Ngũ mộng nói: “Thái tử có ba phu nhân. Phu nhân thứ nhất họ Cù đàm, là con gái của trưởng giả họ Thích tên là Thủy Quang. Phu nhân của trưởng giả là Dư Minh, nhà ở gần thành. Khi sinh con gái, trời sắp xế chiều, ánh nắng chiếu sáng khắp nhà, nên đặt tên con là Cù di (cô gái sáng). Đấy là phu nhân thứ nhất của thái tử. Phu nhân thứ hai sinh ra La vân (La hầu la), tên là Da đàn, còn gọi là Da du. Phu thân là trưởng giả Di thí. Phu nhân thứ ba tên là Lộc Dã, phụ thân là Thích trưởng giả. Vì thái tử có ba phu nhân, nên phụ vương cho lập ra Cung điện ba mùa. Mỗi biệt điện có hai vạn thể nữ để làm vui thái tử. Khi thái tử chưa xuất gia thì làm Chuyển luân vương, gọi tên là Già ca việt vương (hoàng đế phi hành). [ Xét các kinh Thụy ứng, Bản khởi, Thiện quyền và luận Trí độ, đều nói rằng La hầu la do phu nhân thứ hai Da du đà la sinh ra. Theo các kinh Ngũ mộng và Thập nhị du, lại nói do phu nhân thứ nhất sinh ra. Phần đầu kinh Thập nhị du vốn không nói như thế và kinh lại thiếu lưu hành. Sợ rằng các vị La hán ở Ấn Độ khi biên tập, chú giải phần đầu, đã tạo thành chuyện này.].
Thứ tư: PHẦN NGHI BÁNG
Như luận Trí độ nói: “Bồ tát có hai phu nhân. Thứ nhất tên là Cù
tỳ da, không sinh con. Thứ hai tên Da du đà la. Khi Bồ tát xuất gia, ban đêm có người nói: “Thái tử đã xuất gia, tại sao lại có thai, làm nhục dòng họ Thích?” Vì vậy, muốn dùng hầm lửa nóng thiêu sống hai mẹ con. Da du uất hận không có chuyện ấy, lập lời thề lớn: “Nếu ta làm bậy, có con trong bụng, xin cho mẹ con ta đều cháy tiêu trong lửa.” Thề xong, lập tức nhảy vào hầm lửa. Liền đó, lửa tắt, mẹ con đều sống. Lửa biến thành hồ sen, mẹ ngồi trên tòa sen. Nhân thế mới biết là thành thật, không gian dối. Về sau sinh con, giống hệt Bồ tát. Vua cha rất mừng, làm viên trăm vị hoan hỷ cúng dường đức Phật. đức Phật biến thành năm trăm Tỳ kheo giống ngài. La hầu cầm viên ấy bỏ đúng vào bát của đức Phật. mới biết là con thật của ngài.” Lại nữa, kinh Đại thiện quyền nói: “Vì nghi ngờ Bồ tát không phải là người nam, nên mới cưới Thích nữ Cù di cho ngài. La vân từ trời biến hóa sinh vào. không phải do cha mẹ hợp lại mà có.” Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, Ma ha ba xà ba đề cùng Thích nữ Da du dắt La hầu la, sắm nhiều đồ cúng và mang các vật dụng đến đền thờ thần Lô đề la ca. Từ tên thần, khu vườn ấy cũng gọi là Lô đề la ca. Đương thời, khi Bồ tát chưa xuất gia, thường đến đây xoa bóp vui chơi. Trong vườn có tảng đá lớn, Bồ tát thường hay ngồi lên. Bấy giờ, Da du đà la đưa La hầu la ngồi nghỉ trên tảng đá ấy. Sau đó, nàng xô tảng đá xuống nước và lập lời thề rằng: “Nay ta lập lời thề thành thật không gian dối rằng, trừ thái tử, ta sẽ không bao giờ cùng người đàn ông khác rong chơi đây đó. Nếu con ta đích xác là huyết thống của thái tử, không chút gian dối, xin cho tảng đá nổi lên trên mặt nước, không chìm.” Bấy giờ, tảng đá ấy theo đúng lời thề của nàng, lập tức nổi lên khỏi mặt nước, giống như tàu lá chuối trôi trên dòng nước, không chìm. Mọi người chúng kiến cảnh tượng ấy xong, cảm thấy lạ lùng hy hữu. Bàn tán reo hò, hớn hở không dứt. Nhảy nhót hát ca, múa ống tay, xoay vạt áo. Cử hành dủ mọi thứ âm nhạc. Lại tổ hức mừng sinh nhật của La hầu la. Khi Da du đà la sinh con, nhằm lúc A tu la La hầu la giơ tay bắt lấy mặt trăng trong giây lát rồi lại buông ra. Vì thế, mới đặt tên là La hầu la. La hầu la đoan trang khả ái. Ai thấy cũng đem lòng thương yêu. Da dẻ trắng muốt, óng ánh sắc vàng. Đầu tròn như cái tán. Mũi cao như chim anh vũ. Hai tay dài buông xuống quá gối. Cơ thể toàn vẹn, không khuyết tật. Các căn có đủ và rất hoàn hảo.”
Thứ năm: PHẦN THAI NẠN
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Sau khi đức Như Lai xuất gia đã sáu năm, La hầu la mới sinh ra. Ngày đức Như Lai về thăm phụ vương, La hầu la vừa lên sáu tuổi.” Hỏi: “Tại sao La hầu la ở trong thai mẹ sáu năm không sinh ra?” Đáp: “Vì ngày xưa, La hầu la làm vua, đem tiên nhân bỏ vào vườn sáu ngày, không thả ra, nên phải ở trong thai mẹ sáu năm.” Hỏi: “Tại sao Da du mẹ ngài mang thai đến sáu năm?” Đáp: “Theo kinh Phật bản hạnh nói rằng: “Đức Phật bảo, này các Tỳ kheo, ta nhớ lại vào vô lượng kiếp quá khứ, có một bầy bò ở ngoài đồng cỏ. Bà chủ dắt con gái ra đó vắt sữa đầy hai bình đã mang theo. Bình lớn giao cho con gái đội, bình nhỏ thì tự mình xách về. Được nửa đường, bảo con gái: “Cố đi nhanh lên! Đường ở đây nguy hiểm. Rất đáng ghê sợ.” Bấy giờ, cô gái thưa mẹ rằng: “Bình này nặng quá. Con làm sao đi nhanh được?” Người mẹ ba lần nhắc nhở con phải đi nhanh, đường ở đây thật đáng ghê sợ. Cô gái suy nghĩ, tại sao mẹ đã bắt đội bình nặng nhất, lại còn thôi thúc đi nhanh. Do đó, đâm ra tức giận, liền thưa mẹ rằng: “Mẹ hãy mang luôn hai bình. Con mắc đi đại tiểu tiện trong giây lát.” Thế là người mẹ phải lấy bình lớn đội lên và xách bình nhỏ bước đi. Cô gái ấy từ từ đi phía sau. Lúc đó, người mẹ phải tay xách đầu đội nặng nề đi suốt 6 câu lô xá. Bấy giờ, đức Phật bảo các Tỳ kheo, nếu các ông có lòng thắc mắc về cô gái đã nuôi lòng tức giận, bắt mẹ phải đội nặng suốt 6 câu lô xá ấy, chẳng cần suy nghĩ gì hơn, đấy chính là Thích nữ Da du đà la. Đương thời, nàng đã bắt mẹ đội nặng suốt sáu câu lô xá, vì nghiệp chướng ấy, nên đã gánh chịu vô lượng khổ sở trong cõi phiền não sinh tử. Do còn dư nghiệp, kiếp này phải chịu mang thai sáu năm. (Cũng có kinh nói, vào thời quá khứ, La vân đã bít miệng hang chuột sáu ngày, không mở ra, nên kiếp này phải chịu ở trong thai sáu năm.).
Thứ sáu: PHẦN THẦN DỊ
Như luận Quán Phật Tam muội nói: “Bấy giờ, Da du đà la và năm trăm thị nữ đôi lúc suy nghĩ, thái tử ra đời, có nhiều điều kỳ lạ. Còn có một chuyện đáng nghi ngờ. Trong đám thể nữ có một cô tên Tu man na thưa phu nhân rằng: “Thái tử thật là thần nhân. Dù đã hầu hạ nhiều năm, vẫn không thấy được dương căn của ngài, huống là xảy ra những chuyện phàm tục?” Lại có một thể nữ khác tên là Tịnh Ý thưa rằng: “Thưa phu nhân, tỳ nữ hầu hạ thái tử suốt mười tám năm nay, chưa từng thấy thái tử bận tâm về chuyện đại tiểu tiện. Huống chi là những chuyện khác?” Khi ấy, các thể nữ mỗi người tuy nói khác nhau, nhưng đều cho rằng thái tử không thể làm chuyện đàn ông. Bấy giờ, thái tử đang ngủ trưa, bỗng nghe được các thể nữ đều muốn thấy tướng dương căn giấu kín của ngài, liền cho phát ra hoa sen trắng ngay chỗ dương căn. Màu hoa trắng hồng. Hai ba đóa liên tiếp chồng lên nhau, từ dưới lên trên. Các thể nữ trông thấy, cùng bảo nhau, thần nhân có tướng hoa sen như thế, làm sao tâm của ngài ô nhiễm được? Nói xong, tất cả đều nghẹn ngào không nói gì được nữa. Lúc đó, trong hoa sen bỗng lộ dương căn, dáng như đồng tử. Các thể nữ trông thấy, cùng bảo, hôm nay thái tử thị hiện điều kỳ lạ. Bỗng nhiên hiện ra dương căn, dáng như lực sĩ. Các thể nữ thấy xong, vô cùng vui thích. Khi thái tử thị hiện tướng này, phu nhân thấy được dương căn. Ấy là từng đóa hoa sen chồng lên nhau, như vỏ ốc trời. Trên mỗi đóa hoa có vô số Bồ tát to lớn, tay cầm hoa trắng, vây quanh dương căn. Hiện ra xong, lại biến mất, như mặt trời lặn. Đấy gọi là tướng dương căn giấu kín của Bồ tát.
Bấy giờ, lại có các dâm nữ cùng bảo đức Cù đàm là người không có dương căn. Đức Phật nghe xong, liền theo cách ngựa chúa, cho dương căn xuất hiện dần dần. Thọat đầu, dáng như đồng tử lên tám. Dương căn dần dần to lớn, dáng như thiếu niên. Các dâm nữ thấy xong, đều rất vui thích. Khi ấy, dương căn lớn dần, giống tràng phan bằng hoa sen. Trong mỗi tầng có hằng trăm ức đóa hoa sen. Trong mỗi một đóa hoa sen có hằng trăm ức màu quý báu. Trong mỗi một màu có hằng trăm ức vị hóa Phật. mỗi một vị hóa Phật có hằng trăm ức bồ tát và vô lượng đại chúng theo hầu. Bấy giờ, các vị hóa Phật đều cùng cất tiếng chế giễu tội lỗi dâm dục của các cô gái bằng bài kệ: “Nếu có các nam tử, Tuổi mười lăm mười sáu. Trai tráng nhiều sức lực, Hơn hẳn cả hà sa.
Đem cung cấp bọn gái,
Chẳng thỏa mãn phút giây.”
Khi các cô gái nghe xong bài kệ này, lòng đầy xấu hỗ, buồn bã té nhào xuống đất, giơ tay vỗ lên đầu nói rằng: “Hỡi ôi! Chỉ vì lòng dâm dục xấu xa, khiến chư Phật phải nhắc nhở đến thế. Bọn ta nuôi lòng đen tối, tâm nhiểm uế dục, không biết tội lỗi, khiến chư Phật nghe được, phải la rầy chán ghét thói dục xấu xa.” Do đó, mỗi người đều chán ghét thân phận làm người nữ. Bốn nghìn cô đều phát tâm Bồ đề. Hai nghìn cô xa lìa uế trọc, chứng được quả Pháp nhãn tĩnh. Hai nghìn cô chứng được quả Bích chi vào kiếp mai sau.
Đức Phật bảo A nan: “Khi ta mới vừa thành Đạo ở bên bờ sông
Hy liên hà, có năm vị Bà la môn cùng thống lãnh bảy trăm năm mươi đệ tử, tự xưng đã đắc Đạo, đi đến bên ta. bọn họ lấy dương căn quấn quanh mình bảy vòng, rồi ngồi trên cỏ và nói: “Bọn ta vì vô dục nên có dương căn như thế này, tự tại như chư Thiên. Nay ta có thần lực vượt xa sa môn gấp trăm vạn ức lần!” Bấy giờ, đức Thế tôn bảo các vị Bà la môn rằng: “Các ngươi không biết được chân thân của Như Lai. Nếu muốn thấy, cứ tự nhiên quan sát. Như Lai đã nhiều kiếp tu hành Phạm Hạnh. Khi còn tại gia, không có dục vọng. Tâm không ô nhiễm, nên mới được phước báo này, giống như ngựa quý ẩn hiện vô thường. Nay ta sẽ thị hiện chút ít chân thân cho các ông xem. Bấy giờ, đức Thế tôn từ không trung giáng hạ. Ngay trên mặt đất biến thành bốn dòng sông giống như bốn biển lớn. Trong bốn biển lớn có núi Tu di, phóng ra hào quang óng ánh sắc vàng. Ánh hào quang ấy lấp lánh chiếu sáng thân thể chư Thiên. Dương căn từ từ xuất hiện, quấn bảy vòng quanh núi Tu di, giống hệt đóa sen vàng. Từng đóa cùng chồng lên đến Phạm thế. Từ thân đức Phật xuất hiện một ức vô lượng đóa sen quý đủ loại, giống như tràng phan hoa sen, che đậy dương căn. Đóa sen vàng ấy có một đến mười ức tầng. Mỗi tầng có trăm ngàn vô lượng vị hóa Phật. mỗi một vị hóa Phật có trăm ức vị bồ tát và vô số Tỳ kheo theo hầu. Các vị hóa Phật phóng hào quang chiếu diệu khắp các thế giới mười phương. Các vị Bà la môn chứng kiến xong, vô cùng kinh hoàng thán phục. Không ngờ tướng Phạm hạnh của đức Phật lại diệu kỳ đến thế. thật là không thể nghĩ bàn. Chân thân không ô nhiễm giống như hoa sen. Nay nếu ta đảnh lễ công đức bao la như biển của đức Phật và xuất gia cầu Đạo, đều sẽ được thành Chánh quả.”
Bộ thứ 10: YẾM KHỔ
Gồm có 4 phần: Thuật ý, Quan điền, Xuất du, Yếm dục.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Xét rằng:
Ba cõi chia riêng, bốn loài khác tính. Biển dục đắm đuối đều chìm; nhà lửa nhởn nhơ cùng dạo. Nhung nhúc sinh sôi; lóng ngóng kêu réo. Bởi vậy bậc Pháp vương mang trọng trách giác ngộ chúng sinh, thường tuỳ theo cơ duyên ứng hiện, nhằm cứu cánh dẫn dắt trẻ rong chơi về nơi lạc cảnh. Thương xót lưới trần giăng bẫy, vui mừng giúp được thóat ly. Thế nên, quán vũ nữ cũng tựa thây sình; ngộ cung cấm chỉ là mả thối. Thở than nỗi khổ bệnh của sinh già; hâm mộ cảnh thường lạc của xuất thế. Do đó, đã bỏ giang sơn để cầu giải thóat, hàng tà ma để thành Chánh giác vậy.
Thứ hai: PHẦN QUAN ĐIỀN
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Vua Tịnh Phạn và nhiều chàng trai họ Thích cùng đưa thái tử ra ngoài thành tham quan việc làm ruộng. Bấy giờ, tất cả những nông dân đang lao động trong đồng đều ở trần và cật lực cày cấy. Chim chóc cùng giết hại lẫn nhau. Thái tử nói lên: “Than ôi! Than ôi! Chúng sinh ỡ giữa thế gian chịu đựng quá nhiều đau khổ. Nào là sinh già bệnh chết, lại còn chịu đủ mọi thứ đau thương. Cứ lăn lóc trong đó, không thể thoát ly. Tại sao không tìm cách dứt bỏ khổ đau?” Khi nhà vua đã tham quan xong, liền cùng các chàng trai đi vào một khu vườn. Bấy giờ, thái tử ung dung nhìn ngắm, đi dạo khắp nơi, muốn tìm cảnh tĩnh lặng. Bỗng thấy một chỗ có cây Diêm phù rậm rạp xanh tươi, khiến lòng người ưa thích. Tìm được chỗ, thái tử bảo người hầu, các ngươi hãy rời xa ta, rồi đi dần đến dưới bóng cây, ngồi già phu trên cỏ, chú tâm suy tư. Thương xót chúng sinh chịu đựng đủ mọi đau khổ về sinh già bệnh chết. Phát khởi lòng từ bi, liền được định tâm, xa lìa dục lạc, xóa bỏ các điều xấu. Khi những phiền não của Dục giới đều hết, bèn chứng được quả Sơ Thiền. Chư Thiên và Đế Thích thấy thái tử ngồi dưới bóng cây chứng xong quả ấy, cùng bay xuống tận nơi hành lễ, nói ke ca tụng công đức xong, mới trở về Thiên cung. Lúc ấy, chỉ trong giây lát không thấy thái tử trong lòng cảm thấy không vui, nhà vua liền hỏi: “Thái tử của ta hiêän giờ ở đâu, tại sao không thấy?” Quần thần nghe hỏi, lập tức đổ xô đi tìm thái tử khắp 4 phía nhưng chẳng ai thấy ở đâu. Chỉ có một vị đại thần nhìn thấy thái tử ngồi tĩnh tư dưới bóng cây Diêm phù xa xa. Lại thấy nhữngbóng cây khác đều dờikhỏi chỗ, duy còn bóng cây Diêm phù che cho thái tử. Chứng kiến sự kiện lạ lùng hy hữu không thể nghĩ bàn ấy, vị đại thần hết sức vui mừng không nén được, phải cấp tốc chạy đến bên nhà vua, quỳ xuống nói kệ đúng theo điều vừa thấy:
“Thái tử của ngài hiện tại ngồi
Yên lặng dưới bóng cây Diêm phù, Kết già tư duy nhập Tam muội.
Hào quang chiếu sáng tự mặt trời.
Đấy chính là bậc đại trượng phu.
Bóng cây cao vút không lay động. Kính mời đại vương đi quan sát, Cung cách thái tử ngồi thế nào. Giống hệt các Thiên vương Đại Phạm, Cũng giống Đế thích Trời Đao lợi.
Thần uy vòi vọi, hào quang sáng,
Hiển hách chiếu diệu khắp rừng cây.”
Khi nghe xong, nhà vua đi đến bên cây Diêm phù. Từ xa, nhìn thấy thái tử ngồi kết già dưới gốc cây, giống như đêm đen nhìn thấy ánh sáng phát xuất mãnh liệt từ một đống lửa lớn trên đầu núi. Uy đức hiển lộ, chiếu tỏ vòi vọi như vầng trăng bỗng hiẹân giữa tầng mây hay như ngọn đèn lớn soi sáng gian nhà tối tăm. Chứng kiến xong, nhà vua cảm thấy lạ lùng, hy hữu, khắp mình run rẩy, lông tóc dựng lên, bèn dập đầu hành lễ dưới chân thái tử và hớn hở nói rằng: “Hay thay, hay thay! Thái tử của ta đây có uy đức thật lớn lao!” Rồi nhà vua nói kệ ca tụng rằng: “Như đống lửa đêm trên đầu núi, Tựa ánh trăng thu giữa đám mây.
Nay thấy thái tử ngồi tĩnh lự,
Tóc dựng thân run, cũng chẳng hay!”
Xong xuôi, nhà vua lại đảnh lễ dưới chân thái tử và nói thêm bài kệ:
“Ta lại cúi mình một lần nữa, Đảnh lễ dưới chân có tướng lành. Từ lúc sinh ra đến hiện tại,
Mới có dịp thấy ngồi tĩnh lự.”
Bấy giờ, có các trẻ nhỏ còn bồng ẳm, chạy theo nhà vua rúc rích cười đùa, bị vị đại thầøn rầy la: “Bọn các con đừng kêu réo ồn ào!” Các trẻ nhỏ trả lời: “Tại sao không cho các con vui đùa thỏa thích”. Vị đại thần ấy nói kệ trả lời các trẻ con rằng:
“Ánh nắng mặt trời tuy dữ dội, Không thể thu hồi bóng cây mát. Một trượng hào quang rất tuyệt diệu, Uy đức, thế gian không sánh nổi. Ngồi yên tĩnh lự dưới gốc cây, Trang nghiêm bất động tựa Tu di. Trong tâm của thái tử Tất đạt
Thích bóng cây này chẳng muốn rời.”
Kinh Phật bản hạnh nói: “Thái tử hướng về vua Bạch Tịnh nói kệ rằng:
Giống hệt nhà vàng lửa cháy rực,
Tựa như mỹ vị pha độc dược,
Hay hồ đầy hoa có giao long,
Ngôi báu trước vui, sau rất khổ.”
Thứ ba: PHẦN XUẤT DU
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, Thiên tử Tác Bình kêu gọi thái tử ra ngoài thành tham quan vườn, chứng kiến chuyện tốt xấu để sinh lòng chán nản, khiến dần dần lìa bỏ thế gian. Thái tử nghe xong, gọi người đánh xe mau mau sửa soạn xe tốt, ta muốn đi thăm khu vườn. Vua Tịnh Phạn hay tin thái tử muốn đi chơi, liền ra lệnh cho tất cả trong ngoài thành Ca tỳ quét dọn sạch sẽ, trưng bày hương hoa. Trai thanh gái lịch sắp hàng đứng đón. Những kẻ già bệnh chết chóc, khuyết tật đều bắt đuổi xa. Sửa soạn xe cộ, thắng ngựa thuần thục vào xong, người đánh xe bẩm lên thái tử: “Xin thái tử biết cho, xe đã chuẩn bị.” Bấy giờ, thái tử theo cửa thành Đông, được tiền hô hậu ủng, đi tham quan khu vườn. Lúc ấy, thiên tử Tác Bình biến thành một người già cả xấu xí, xuất hiện trước mặt thái tử. Ơû ngay đầu đường. Thấy xong, thái tử hỏi người đánh xe: “Người này là ai mà thân thể nhăn nhúm gầy gò, mắt đỏ đầy ghèn, cực kỳ xấu xí dị dạng, không giống mọi người?” Rồi hướng về người đánh xe nói kệ rằng:
“Đánh xe lành nghề, hãy nghe đây!
Đứng trước mặt ta là người nào?
Thân thể xiêu vẹo, đầu trụi tóc.
Sinh ra đã thế, hay vì già?”
Bấy giờ, người đánh xe hướng về thái tử và nói kệ rằng:
“Đây gọi là lúc đau khổ nhất. Mất hết vẻ đẹp và hạnh phúc.
Thân thể hủy hoại, đầu lú lẫn.
Chân tay quờ quạng, không tự chủ.”
Thái tử hỏi người đánh xe: “Người này là một trường hợp đặc biệt hay tất cả mọi người đều như thế?” Người đánh xe trả lời: “Không phải chỉ là một trường hợp đặc biệt. Tất cả thế gian đều như thế cả. Thân phận sang hèn dù khác nhau, nhưng đều không thoát khỏi cái già.” Thái tử nói: “Nếu ta không thoát khỏi cái già này, hãy mau mau trở về cung. Không thoát khỏi cái già làm sao phóng túng vui chơi?” Nhà vua dò hỏi, người đánh xe bẩm lại mọi chuyện. Nhà vua phán: “Ít có hình dung như thế.” Sợ thái tử xuất gia, nhà vua cho tăng thêm các trò vui ngũ dục, nhưng thái tủ đã chán nản, muốn lìa bỏ những thứ này rồi, chỉ ngồi quán tưởng về nỗi khổ của cái già.
Lần khác về sau, thái tử từ biệt nhà vua, theo cửa thành Nam đi tham quan khu vườn. Nhà vua ra lệnh dọn dẹp đường sá sạch sẽ còn hơn lần trước. Bấy giờ, Thiên tử Tác Bình lại biến thành một người bệnh xuất hiện trước mắt thái tử. Chỉ còn bộ xương khốn khổ thoi thóp sắp chết nằm giữa đống phân dơ, lăn lóc rên la, không ngồi dậy được. cúi đầu cất tiếng nhờ đỡ dùm lên. Thái tử thấy xong, hỏi người đánh xe: “Đây là người nào mà bụng trướng thật to, giống như nồi lớn, hơi thở khò khè, mình mẩy run rẩy. Chạnh niềm cay đắng, không đành lòng nhìn?” Người đánh xe bèn nói kệ về nhân duyên này:
“ Thái tử hỏi kẻ đánh xe rằng, Tại sao người này khổ đến thế? Kẻ đánh xe bẩm lên thái tử,
Tứ đại không hòa nên sinh bệnh.”
Lần khác về sau, thái tử theo cửa Nam thành đi tham quan khu vườn. Bấy giờ, Thiên tử Tác Bình biến thành một tử thi nằm trên giường ở trước mắt thái tử. Mọi người xúm lại khiêng đi, vô số thân gia bà con vây quanh khóc lóc. Vỗ bụng đập đầu, nước mắt như mưa. Kêu gào thảm thiết, nghẹn ngào không chịu nổi. Thái tử thấy xong, động lòng thương xót, hỏi người đánh xe: “Người này là ai mà mọi người khiêng đi và kêu khóc như thế?” Rồi nói kệ hỏi rằng:
“Thái tử tuyệt đẹp, thân đoan trang,
Hỏi kẻ đánh xe, này là ai,
Nằm ở trên giường, bốn người khiêng,
Người thân vây quanh khóc thảm thương?” Người đánh xe hướng về thái tử đáp kệ rằng: “Đã bỏ các căn tâm và ý, Thi hài trơ trơ như gỗ đá.
Người thân khóc lóc, tạm vây quanh.
Ân ái từ nay đành vĩnh biệt.”
Thái tử lại hỏi: “Ta cũng sẽ như thế chăng?” Người đánh xe đáp kệ rằng:
“Tất cả chúng sinh có nghiệp này. Trời người, sang hèn đều như thế. Tuy sống thiện ác ở thế gian,
Khi vô thường đến đều không khác.”
Lần khác về sau, thái tử theo cửa thành Bắc đi tham quan. Thiên tử Tác Bình dùng sức thần thông, cách xe không xa, biến thành một người trước mắt thái tử. Cạo hếttóc râu, mặc áo cà sa, bày vai bên phải. Tay phải cầm tích trượng, tay trái mang bình bát đi trên đường. thái tử thấy xong, hỏi người đánh xe: “Người này là ai, ở trước mắt ta, uy nghi tề chỉnh, đi bộ an nhàn. Một mực nhìn thẳng, không ngó hai bên. Định thần giữ hạnh, không giống mọi người. Gọt tóc cạo râu, áo thuần màu đỏ, không giống người đời. Màu bát tía xanh tựa như đá chàm? Người đánh xe thưa thái tử rằng: “Đây gọi là người xuất gia. Thường làm điều thiện, xa lìa việc ác. Biết giữ lục căn thanh tịnh, bố thí pháp vô uý, từ bi đối với muôn loài. Che chở, không sát hại chúng sinh.” Thái tử nghe xong, bảo người đánh xe rằng: “Nhà ngươi hãy đánh xe đến bên người ấy.” Người đánh xe vâng lời, cho xe chạy đến nơi. Thái tử hỏi rằng:
“Ông là ai thế?” Người ấy đáp kệ rằng:
“Xem thấy thế gian đều sinh diệt, Muốn tìm cảnh Niết bàn vĩnh cửu. Tâm đã bình đẳng mọi ghét yêu, Không hưởng dục lạc của trần thế. Ở dựa núi rừng và gốc cây, Hoặc ở giữa đồng hay gò mả.
Bỏ hết tất cả mọi sắc tướng,
Quán tưởng Chân như, đi khất thực.”
Bấy giờ, vì lòng kính nể, thái tử bước xuống khỏi xe, thân hành đến bên người xuất gia, cúi đầu hành lễ, đi vòng quanh ba vòng rồi trở lên xe và lập tức sai đánh về hoàng cung. Lúc ấy, trong cung có một người đàn bà tên là Lộc Uyển, nhìn thấy thái tử trở về, động lòng ham muốn, liền nói kệ rằng:
“Đức vua Tịnh Phạn hưởng khoái lạc, Ma ha ba xà chẳng muộn phiền. Thể nữ trong cung đẹp lộng lẫy,
Biết ai được hầu thái tử đây?”
Lại nữa, theo các kinh Đại thiện quyền và Nhân quả nói: “Bấy giờ, tuổi tác của thái tử lớn dần, đã đến lúc xuất gia, liền từ biệt phụ vương, đi tham quan khắp bốn cửa thành. Tại ba cửa đầu, gặp gỡ và sinh chán nản. Chỉ ở cửa thứ tư, mớivui mừng gặp được người xuất gia. Các vị tướng sư lỗi lạc đều biết rằng, nếu bấy giờ thái tử không xuất gia, bảy ngày sau sẽ trở thành một bậc Chuyển luân vương cai trị thiên hạ, tự nhiên có đủ thất bảo. Mỗi vị đều đem bẩm báo với nhà vua. Cho tăng thêm một ngàn người trấn giữ tại mỗi cửa thành. Chung quanh phía ngoài thành một du thiện na, đặt thêm nhiều người canh gác đề phòng.”
Bài tụng cảnh Già ở cửa Đông:
“Thành lau rất dễ phá;
Bìm nghiêng lại sắp tàn.
Nương cành đã suy yếu; Nửa đường thật lỡ làng. Đã cùng ngựa trắng mất, Lại theo hoa đỏ tàn.
Một mai nhan sắc hết,
Đèn khuya ngồi bẽ bàng.” Bài tụng cảnh Bệnh ở cửa Nam:
“Nép gối tiếc ngày tàn.
Bệnh nguy thành dễ chết. Còn đâu cỏ trên tuyết; Đành về dưới núi Mang. Đau nghẹn cả thân thể; Khát cháy thấu tim gan.
Cớ sao trong phút cuối,
Đau khổ chẳng tiêu tan?” Bài tụng cảnh Chết ở cửa Tây:
“Trì hoãn tuy khác vẻ, Diệt tướng cũng như nhau.
Gió nghiệp thổi tiêu hết, Hư huyển thấy mà đau. Năm Uẩn đều giả tạm; Sáu Đường luôn bắt đầu.
Tất cả đều tàn tạ,
Phiền não kết dài lâu.” Bài tụng Tăng ở cửa Bắc:
“Thế huyển sinh ảo ảnh; Phiền não chắn tâm trần. Tứ triền đầy dẫy đó, Ra đi tìm Niết bàn. Dẹp bỏ tri kiến nhảm, Mới thoát khỏi mê man. Tướng không buồn đã lắm,
Trì quán lại đem làm.”*
Nguyên văn bốn bài tụng này quán uẩn súc. Nên chỉ có thể dịch theo ý. Vài chỗ chưa chắc đã chính xác. Xin dò lại nguyên văn
*Bốn bài tụng này quá uẩn súc, chỉ cốt dịch theo ý. Vài chỗ không chắc đã chính xác. Xin dò lại nguyên văn.
Thứ tư: PHẦN YẾM DỤC
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, thái tử nghe các bài kệ và tụng này xong, khắp mình run rẩy, nước mắt như mưa, hâm mộ sự an lạc của Niết bàn làm cho các căn thanh tịnh, nên chỉ mong mỏi xuất gia, không thích sống ở thế gian. Nhà vua cùng các quần thần mưu trí, cung nga thể nữ dùng đủ mọi cách mê hoặc thái tử. Con trai của quốc sư Ưu đà di làm thị vệ cho thái tử, đã dạy đám phụ nữ phương pháp mê hoặc thái tử bằng bài kệ rằng:
“Bọn thể nữ các ngươi Có nhiều mánh khoé giỏi, Khéo mê hoặc thái tử, Bằng phô bày quyến rủ. Giả sử kẻ lìa dục Chân chánh như thần tiên, Thấy được các ngươi rồi, Cũng phải động lòng dục.
Huống gì là thái tử.
Nếu xem các ngươi chơi, Lại không ham hành dục.
Thật không có chuyện ấy!”
“Tình yêu lấy dục vọng làm căn bản. Thể xác của người vợ cốt lấy lòng yêu kính của người chồng làm hân hoan. Tâm không nhuốm bả vinh hoa là điều rất khó.” Rồi nói kệ rằng:
“Vợ hiền lấy kính làm hoan lạc. Kính là hoan lạc rất cao siêu.
Nếu không có kính, chỉ có sắc,
Cũng giống như cây chẳng nở hoa!” Thái tử nghe được, liền đáp kệ rằng:
“Cuộc sống vinh hoa tuy sung sướng, Sinh già bệnh chết chất bên trong. Nếu bốn khổ này không có mặt, Lòng ta sao lại chẳng vui cùng? Trong bốn khổ “sinh già bệnh chết”, Ta bị “sinh già bệnh” xé lòng.
Nếu bám vào “sinh” để hoan lạc,
Khác gì cầm thú sống hoà chung?”
Bấy giờ, thái tử và con trai của quốc sư Ưu đà di bàn luận qua lại đến chiều tối. Thái tử thấy đã tối, liền vào cung cùng các thể nữ hưởng thụ hoan lạc ngũ dục. Tất cả đều quây quần bên nhau. Ngay đêm hôm đó, phu nhân Da du đà la biết mình đã có thai. Lần khác về sau, thái tử hết sức sinh lòng chán nản về hoan lạc ngũ dục này, chỉ muốn xuất gia, nên nó kệ rằng:
“Mê hoặc ô uế ở thế gian, Không gì hơn thể xác phụ nữ. Châu báu y phục khéo che đậy, Khiến kẻ ngu si đắm đuối ham.
Nếu có kẻ nào biết suy nghĩ, Như mộng, như huyễn, rất chóng tàn.
Chừa bỏ si mê, không phóng túng,
Sẽ được giải thoát, thân nhẹ nhàng.”
Lại nữa, kinh Thụy ứng nói: “Năm lên mười bốn tuổi, thái tử bẩm phụ vương xin đi ra ngoài tham quan.” Kinh Nhân quả nói: “Có người con của vị Bà la môn tên Ưu đà di, thông minh sáng láng, được nhà vua cho làm bạn cùng thái tử. Nhà vua dặn dò: “Nhà ngươi hãy thuyết phục thái tử đừng xuất gia.” Người ấy vâng mạng, đến bên thái tử thưa rằng: “Thần vâng mệnh nhà vua đến đây làm bạn cùng thái tử. Thưa thái tử, đạo bằng hữu có ba điều thiết yếu: một là có chuyện lỗi lầm, phảikhuyên an giúp cho sáng tỏ. Hai là thấy có việc đáng mừng, phải hết sức tán thành. Ba là gặp lúc nguy nan, không thể bỏ mặc. Nay thần dâng lên mấy lời thành thật, xin thái tử đừng nỡ chê trách. Từ nghìn xưa, các vị Thánh vương trước tiên đêu hưởng thụ hoan lạc ngũ dục rồi sau mới xuất gia. Tại sao thái tử cứ khăng khăng dẹp bỏ tất cả?” Thái tử đáp rằng: “Các vị Thánh vương ấy cuối cùng đều không thoát khỏi đau khổ, nên ta không chịu hành động giống các ngài.”
Bộ thứ 11: XUẤT GIA
Gồm có 10 phần: Thuật ý, Ly tục, Thích phát, Cụ phục, Sử hoàn, Giáo tử, Sai thị, Phật phát, Thì tiết, Hội đồng.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý Thiết nghĩ:
Nhân duyên giả tạm vốn do độn căn của các chúng sinh; Pháp tính thường tồn chính là diệu lý của bậc giác ngộ. Thế nên, khắp Tam giới Lục đạo, các chúng sinh luôn tạo nghiệp để đắm chìm; đủ Bát giải Thập trí, bậc giác ngộ mới dẫn dắt đến giải thoát.
Do đó, đức bổn sư Năng Nhân đã tuỳ duyên hóa độ. Xót nhà lửa
bốc cháy phừng phừng; thương sông dục trôi phăng cuồn cuộn. Nương cung điện của vua Bạch Tĩnh, phóng hào quang rực rỡ sắc vàng. Chịu đựng trong Tam chướng nặng nề, chỉ đãy xác điểm tô không thật; ra dạo bốn cửa thành đồ sộ, sợ mây nổi biến hóa vô thường. Tự chua xót sao nhân sinh trầm luân đến thế! Bởi vậy, Thiên vương bồng ngựa trắng vượt khỏi cấm thành, kẻ hầu đem mũ quý về lại đại nội. Thoát thế tìm chân, vốn là như thế. Tuy Tiêu Sử đời Tần, Tử Tấn đời Châu, hay Hứa Do rửa tai dưới núi Ky; Trang Tử kéo đuôi bên sông Bộc, giả thiết đem ra so sánh, vẫn quá nhỏ bé hẹp hòi! Khiến cho kẻ ngưỡng mộ đức hạnh, đã bỏ ác lập thân; người kính mến uy nghi, đã giữ giới tu thiện. Hủy hoại hình hài để hoàn thành đại nguyện, ngài đã gọt tóc râu trên dung nhan đẹp đẽ; thay đổi phàm tục để thể hội chân lý, ngài đã cởi bỏ áo gấm của bậc quân vương. Xem bề ngoài, tuy thiếu sót sự thân, nhưng trong đó vẫn chứa chan chữ hiếu; xét lễ nghĩa, dù lỗi đường thờ chúa, song nội tâm vẫn giấu diếm ân tình. Đức ban khắp cả oán thương, đều được hoà thuận; phước thấm chan hoà trên dưới, chẳng chấp lỗi lầm. Bậc thượng trí tin lời ngài dạy, hẳn nhiên được lợi; kẻ phàm phu thiếu thốn bảo ban, phải chịu thiệt thòi. Răn ác thì kẻ phóng túng mới canh tân; khuyến thiện thì người sáng suốt biết hoán cải.
Thế nên, ở rừng tiên vừa liệng trâm xuống đất, bờ Ni liên khổ hạnh đã bắt đầu. Tắm kim thân bằng nước trong lành, nhập đạo tràng dưới bóng cây mát. Thọ bát cháo cúng dường pha sữa, ngồi kết già trên thảm cỏ mềm. Nhờ đó, thập lực tăng đầy, Lục thông phát đủ. Tà ma cuốn gói, Chánh đạo thành tựu vậy.
Thứ hai: PHẦN LY TỤC
Như kinh Nhân quả nói: “Bấy giờ, thái tử tự tâm niệm: tuổi ta đã lên mười chín. Hôm nay là ngày mồng bảy tháng hai. Thích hợp ra ngoài để xuất gia cầu đạo, chính là lúc này. Suy nghĩ chín chắn xong, thân phóng hào quang chiếu sáng đến các Thiên cung Tứ Thiên và Đao lợi, nhưng không cho mọi nguời thấy được ánh hào quang này. Khi các Thiên vương thấy ánh hào quang, biết đã đến lúc thái tử đã xuất gia, liền giáng hạ xuống bên thái tử, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi chắp tay thưa rằng: “Hạnh nguyện tu tập của thái tử từ vô lượng kiếp đến đây, hôm nay đã được thành tựu.” Thái tử đáp rằng: “Đúng như lời của chư thiên. Chính là hôm nay, nhưng phụ vương đã ra lệnh canh giữ nghiêm mật khắp trong ngoài. Ta muốn ra đi mà không có cách.” Chư Thiên đáp bạch rằng: ”Chúng tôi sẽ tạo phương tiện để thái tử ra đi không ai hay biết.” Lập tức dung thần lực khiến mọi người đều ngủ say. Bấy giờ, trong lúc ngủ, Da du đà la thấy ba giấc mộng lớn: một là thấy mặt trăng rơi xuống đất. Hai là thấy răng rụng. Ba là thấy mất cánh tay phải. Quá kinh hoảng, phu nhân giật mình thức dậy, bẩm cùng thái tử và kể lại đầu đuôi. Thái tử trấn an: “Nàng xem, trăng còn trên trời. Răng thì không rụng. Tay cũng hãy còn. Nên nhớ mọi giấc mộng đều hư huyển không thật. Nàng không nên lo sợ quá.” Phu nhân lại thưa: “Theo thiếp suy nghĩ, những giấc mộng ấy là điềm thái tử xuất gia.” Thái tử đáp rằng: “Nàng hãy ngủ yên, đừng lo âu điều ấy.” Phu nhân nghe lời, yên tâm nằm ngủ.”
Lại nữa, kinh Phổ diệu nói: “Bấy giờ, Bồ tát xem các vũ nữ ca múa ban đêm. Nhìn qua hằng trăm tiết mục như cọng lá chuối khô bay lượn vô hồn. Tất cả chín khiếu đều dơ dáy, chẳng có gì đáng ham say. Đến khi sao đêm vừa hiện, liền bảo Xa nặc thức dậy, chuẩn bị sẳn ngựa Kiền trắc. Khi thái tử vừa ra lệnh xong, bốn vị Thiên vương cùng vô số các Dạ xoa nữ và loài rồng đều trang bị đầy đủ áo giáp, từ bốn phương bay đến, cúi đầu hành lễ trước thái tử rồi thưa rằng: “Nam nữ trong thành đều hết sức mệt mỏi. Bọn khổng tước cũng hết sức mệt mỏi, nên đã ngủ say cả rồi.”
Lại nữa, kinh Bản khởi nói: “Chư Thiên đều bảo: “Thái tử nên đi liền, sợ bị ngăn cản. Xin ngài hãy mau mau đi khỏi thật xa đống lửa lớn này.” Khi thái tử đã suy nghĩ thấy thật sự như thế xong, trời đã về khuya, Thiên vương Tĩnh Cư và chư Thiên cõi Dục giới đều tề tựu đông đảo giữa hư không, cùng đồng thanh bạch thái tử: “Tất cả hoàng gia trong ngoài đều đã nằm ngủ say sưa. Bây giờ chính là lúc xuất gia.” Thái tử bèn thân hành đến bên Xa nặc, nhờ thần lực nên Xa nặc liền thức dậy. Thái tử ra lệnh: “Nhà ngươi hãy dẫn ngựa Kiền trắc đến đây cho ta.” Xa nặc nghe xong, khắp mình run rẩy, lòng đầy do dự: thứ nhất là không muốn trái lệnh của thái tử. Thứ hai là lo sợ sắc chỉ nghiêm khắc của nhà vua. Suy nghĩ rất lâu, Xa nặc rơi lệ thưa rằng: “Đại vương đã ban sắc chỉ như thế. Bây giờ không phải la lúc đi chơi, cũng không phải là lúc đi đánh dẹp quân địch. Làm sao giữa đêm hôm khuya khoắt, bỗng dưng thái tử lại đòi thắng ngựa đi đâu?” Thái tử đáp lại: “Bây giờ ta muốn đi tìm phuơng cách chế ngự mọi kết tập phiền não cho tất cả chúng sinh. Nhà ngươi đừng trái ý ta!” Bấy giờ, Xa nặc cất tiếng khóc lớn, mong cho phu nhân Da du đà la và hoàng gia đều biết thái tử sắp sửa ra đi. May nhờ thần lực của chư Thiên, tất cả đều ngủ vùi như cũ. Xa nặc đành phải dắt ngựa đến. Thái tử từ từ bước tới, bảo Xa nặc và ngựa Kiền trắc rằng: “Tất cả mọi yêu thương rồi sẽ ly biệt. Sự nghiệp thế gian dễ dàng xây dựng, nhân duyên xuất gia rất khó hoàn thành.” Xa nặc nghe xong, im lặng không nói nửa lời. Do đó, ngựa Kiền trắc không hí lên nữa. Bấy giờ, thái tử thấy trời hé sáng, trên thân liền phóng hào quang chiếu khắp mười phương, cất tiếng sư tử nói lớn: “Theo gương chư Phật thời quá khứ, hôm nay ta cũng xuất gia!” Liền đó, chư Thiên bồng chân ngựa và đở Xa nặc, Thích đề hoàn nhân cầm lộng theo hầu. Chư Thiên lập tức ra lệnh mở cửa thành Bắc thật nhẹ nhàng, không nghe tiếng động. Xa nặc lại buồn, cửa đóng chặt then, ai mở được đây? Khi ấy, các quỷ thần và A tu la nhẹ nhàng mở cửa. Thái tử nhờ đó ra được ngoài thành. Từ giữa không trung, chư Thiên ca hát theo hầu. Đến khi trời sáng, đoạn đường đi qua đã được 3 du xà na. Bấy giờ, Thiên chúng theo hầu thái tử đến đây, mọi việc giúp đỡ đã xong, liền bỗng nhiên biến mất. Thái tử tiếp tục ra đi, đến chỗ tiên nhân Bạt già ở giữa rừng, bèn dừng lại, bước xuống vỗ lưng ngựa và nói rằng: “Chuyện khó làm, ngươi đã làm xong.” Rồi lại bảo Xa nặc rằng: “Chỉ có một mình nhà ngươi đơn độc đi theo ta. thật là hiếm có! Bây giờ, ta đã đến được chỗ bình an. Nhà ngươi và Kiền trắc cùng có thể trở về hoàng cung.” Vừa nghe thái tử nói xong, Xa nặc kêu gào khóc lóc, té xuống nằm mê man dưới đất, không gượng lại được. kiền trắc nghe nói phải trở về, bèn co gối quỳ xuống liếm chân thái tử, nước mắt rơi xuống như mưa. “Nay ta làm sao có thể bỏ mặc thái tử để trở về cung một mình?” Thái tử đáp lời: “Định luật của thế gian là sống một mình, chết một mình. Há lại có bạn? Nay ta vì muốn diệt trừ mọi nguồn cội đau khổ nên mới đến đây. Khi mọi khổ đau đã chấm dứt, ta sẽ cùng tất cả chúng sinh kết làm bè bạn.”
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói rằng: “Bấy giờ, bốn Thiên vương hộ thế và Trời Đế thích biết giờ xuất gia của thái tử đã đến, mỗi vị tuỳ theo địa vị của mình, sửa sọan trang nghiêm, thống lãnh các thân thuộc đông đến hằng trăm vạn, tiền hô hậu ủng, cử hành âm nhạc, từ bốn phương kéo đến, bao bọc ba lớp chung quanh thành Ca tỳ. Tất cả đều cúi đầu chắp tay, khom mình hướng về thái tử, đứng chật khắp hư không. Khi ấy, lại thấy sao Quỷ và mặt trăng cùng tụ họp, chư Thiên đồng thanh nói lớn: “Thưa đại Thánh thái tử, sao Qủy đã họp mặt . Nay vừa đúng giờ. Muốn cầu diệu pháp, xin dừng ở đây.” Thái tử nghe xong, nhìn lại các thể nữ ô quế dơ dáy, ngũ say không thức, liền lấy tay kéo tóc bảo tỉnh dậy, rồi lấy chân hất vào mình, nhưng bọn thể nữ ấy vẫn không hay biết (trừ phần nầy, các phần khác điều giống như trên ).
Khi thái tử đã ra khỏi thành, liền cất tiếng sư tử nói lớn: “Ta thề phải chứng được Chân như Bồ đề mới trở về lại trong thanh này để hoá độ”. Tuy nhiên, ở đó có vị thần cuả cây Ni câu đà (giống cây đa) to lớn nhất nói kệ với thái tử rằng:
“ Nếu người muốn đốn ngã cây cối Chắc chắn phải chặt hết gốc rễ. Như món vật này cần dứt bỏ, Qua sông phải đến được bờ nọ.
Một lời đã nói không được sai,
Chuốc oán vừa xong, chớ mừng rỡ!” Bấy giờ, thái tử nói kệ trả lời thần cây đa rằng: “ Núi Tuyết có thể di chuyển được,
Nước biển có thể tát cạn được,
Bầu Trời có thể rơi xuống đất,
Lời ta đã thốt, quyết không sai!”
Khi cởi mũ quý trao cho Xa Nặc đưa về bẩm lại với phụ vương, thái tử nói kệ rằng:
“ Giả sử thương yêu cùng tụ họp, Đến thời rồi cũng phải chia ly.
Thấy rõ vô thường ngắn ngủi ấy,
Tìm phương giải thoát quyết ra đi!” Xa nặc nghe xong, đáp kệ rằng:
Giả sử lấy sắt đúc thành kim, Rồi đem ra nghe lời thề ấy, Người nào chẳng thấy tim tê tái, Huống tôi là kẻ sinh cùng ngày!”
Bấy giờ, thái tử nói kệ trả lời lại Xa Nặc:
“ Giả sử huyết nhục cuả ta đây,
Cho đến da dẻ và gân cốt,
Tất cả đều bị nghiền tan nát, Hay là tính mạng không bảo toàn,
Nếu ta không trút được gánh nặng,
Vượt mọi đau khổ, đạt căn nguyên,
Chưa chứng giải thoát, ngồi Đạo trường,
Quyết sẽ không về gặp ngươi nữa!”
Khi ấy, Xa nặc oà lên khóc lớn, thưa thái tử rằng: “Con ngựa này tuy là loài vật, nhưng vẫn còn biết đau thương, rơi nước mắt khóc lóc, quỳ xuống hai bàn chân của thái tử. Huống chi là người thân thích ruột thịt, sẽ phải đau khổ đến dường nào!” Bấy giờ, thái tử lấy tay vuốt đầu ngựa chúa Kiền trắc và nói kệ rằng:
“Thái tử lấy tay có văn lưới,
Tướng tốt pháp luân chữ vạn rõ, Bàn tay mềm mại ánh sắc vàng,
Ve vuốt trên đầu ngựa Kiền trắc.
Giống hai người thân ngồi tâm sự:
“Người cùng ngày sinh, ngựa Kiền trắc!
Chớ nên hí buồn, thêm áo não!
Người đã lập công xong xuôi cả.
Nếu ta chứng được pháp Cam lộ,
Công lao xứng đáng đã chuyên chở,
Ta sẽ chia cho Pháp vi diệu,
Đền đáp công ấy, quyết chẳng sai!”
Thứ ba: PHẦN THÍCH PHÁT
Kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, thái tử lấy lại cây dao có chuôi trang sức bằng thất bảo xen lẫn Châu ma ni đeo bên hông Xa nặc. Tự dùng tay phải nắm chuôi dao rút ra khỏi vỏ. Lập tức dùng tay trái nắm búi tóc có màu xanh tía của hoa Ưu bát la, tay phải đưa dao bén ấy cắt đứt và thuận tay liệng vào không trung. Trời Đế thích lấy làm kỳ lạ, hết sức vui mừng, hứng ngay búi tóc, không cho rơi xuống, dùng áo Trời tuyệt đẹp đỡ lấy, bọc lại. Chư Thiên đem các phẩm vật quý báu nhất trên các cõi Trời ấy cúng dường cho thái tử. Khi ấy, Thiên chúng Trời Tĩnh Cư ở cách thái tử, không gần không xa. Có một tràng hoa tên Tu man na, hoa từ tràng này rơi xuống, hóa thành một người hớt tóc cầm dao cạo sắc bén đứng chờ. Thái tử nói với người ấy rằng: “Ông có thể hớt tóc cho ta không?” Người ấy trả lời: “Được lắm chứ!” Rồi dùng dao ấy cạo tóc cho thái tử. Bấy giờ, Trời Đế thích lấy làm kỳ lạ, tóc vừa cạo xong, không để một sợi nào rơi xuống đất, từng sợi một, đều dùng áo Trời hứng lấy và cúng dường lại cho chư Thiên Tam Thập Tam. Búi tóc, mũ, lược của Bồ tát đến nay vẫn còn nguyên vẹn.”
Theo sách Cảm ứng ký của luật sư Đạo Tuyên nói rằng: “Thiên nhân trả lời luật sư: “Khi vừa thành Đạo cho đến mười ba năm sau, đức Như Lai ở tại tịnh xá Kỳ hoàn. Bấy giờ, Thiên vương Đại Phạm mời đức Phật thuyết pháp. Hằng trăm ức chư Phật mười phương đều đến tụ họp. Các Bồ tát, Thanh văn, Bát bộ long thần trong đại thiên thế giới cũng tề tựu ở Kỳ hoàn. Khi ấy, Thích đề hoàn nhân bạch đức Phật rằng: “Thưa đức Thế tôn, tôi thấy Thiên vương Đại Phạm mời đức Phật thuyết pháp. Bây giờ tôi muốn tắm cho đức Phật, kính xin ngài bằng lòng. Đức Phật liền bằng lòng. Lập tức có hành cung bằng thất bảo và các loại nước nóng ướp hoa thơm để tắm cho đức Phật. Đức Phật bảo A nan: “Ông hãy đến toà kim cương dưới cây bồ đề ở phía Tây tháp lấy cây dao thất bảo và bồn tắm kim cương của ta. Ta sắp sửa cạo tóc.” A nan vâng lời, đi lấy đem về chỗ đức Phật. Đức Phật nhận dao xong, bảo khắp đại chúng rằng: “Từ khi thành Đạo đến nay, ta chưa từng nói với các ông về nhân duyên của dao này. Hôm nay các ông hãy nghe kỹ, khi ta mới ra khỏi thành, xa cung điện của phụ vương chừng sáu mươi dặm, Xa nặc bạch ta rằng, bây giờ tôi hơi mệt, xin dừng chân nghỉ ngơi một lát. Ta nghe lời, dừng lại. Ngay chỗ nghỉ chân, có một hồ Đại long, chu vi rộng bốn mươi dặm. Hồ có nhiều hoa sen ngũ sắc, bốn bề hoa cỏ xanh tươi khiến người ta ưa thích. Ta đến bên hồ, vốc nước rửa mặt. Bỗng nhiên có hai thiếu niên đi đến bên ta, hỏi ta đi đâu. Ta đáp, đi tìm Đạo Bồ đề. Thiếu niên ấy bảo, tôi là Long vương của hồ này. Từ khi thư tịch Vi đà ghi chép, có nghìn Phật sẽ xuất thế trong Hiền kiếp này, tôi làm thân rồng đến nay đã trải qua mười đại kiếp, mấy lần thấy các Thế tôn thành Đạo và nhập Niết bàn. Khi đức Phật Câu lưu tôn nhập diệt, đã đem giao phó cho tôi một bồn tắm kim cương, trong đựng thế đao. Kể từ ba vị Phật xuất thế trong Hiền kiếp đến nay, thế đao và bồn kim cương đã được lần lượt giao phó. Hôm nay, tôi muốn mời ngài xuống long cung để sửa sọan cúng dường chút ít lễ vật. Không biết ngài có nhận lời chăng? Ta liền đi theo xuống đến long cung thọ lãnh cúng dường. Rồi thiếu niên đem thế đao bằng thất bảo dâng cho ta và nói, hôm nay ngày tu Đạo, sẽ có nhiều ma quỷ quấy nhiễu. Mỗi khi muốn tĩnh tư, nên đem dao này để yên trên gối phải. Dao này sẽ phóng hào quang chiếu sáng khắp thân ngài, hóa thành nghìn vạn trượng. Từ hào quang ấy, hiện nên một tấm màn che phủ thân ngài. Trên tấm màn ấy, có hằng trăm nghìn lực sĩ cầm dao, uy nghi ngoài sức tưởng tượng. Ma quỷ thấy được, sẽ kinh sợ, không nổi ác tâm phá phách. Đợi đến khi ngài thành Đạo, sắp sửa gọt tóc râu, tôi sẽ đem bồn tắm kim cương ấy đến chỗ ngài. Khi ta vừa thanh Đạo, xuống sông tắm rửa, Long thần ấy liền mang bồn đến cho ta. Bấy giờ, đức Phật bảo Phạm vương: “Ông hãy mang dao quý bay lên Thiên cung.” Và bảo các thổ thần Kiên Lao: “Từ cõi kim cương, hãy tạo nên đài kim cương cao bảy mươi do tuần cho đức Như Lai ngồi lên.” Lại bảo Long vương Ta kiệt: “Ông hãy hóa thân thành tám vạn bốn nghìn hình rồng vàng. Đầu bằng thất bảo, mình bằng vàng ròng. Từ đỉnh núi Tu di, phun nước 8 công đức tưới xuống đỉnh đầu đức Thế tôn.” Lại bảo Trời Phạm ma: “Ông hãy gội đầu tóc cho đức Thế tôn.” Ra lệnh cho Thích đề hoàn nhân: “Ông hãy cầm bồn kim cương hứng tóc cho đức Thế tôn.” Khi ấy, Thiên vương Hóa Lạc biến thành tán bạc che mát đỉnh đầu của đức Như Lai. Chư Phật mười phương đều đến bên ta, cùng ngồi lên đài kim cương và tay cầm dao thất bảo. Chư Phật đưa bàn tay óng ánh sắc vàng lần lượt xoa lên đỉnh đầu ta. Khi được xoa xong, ta có đủ trăm nghìn phép Tam muội. Chư Phật bảo Thiên vương Đại Phạm: “Ông hãy cầm dao gọt tóc cho đức Như Lai.” Khi Thiên vương ấy cầm dao sử sọan gọt tóc, liền không thấy đỉnh đầu của đức Như Lai. Tìm lên búi tóc trên đỉnh, cũng chẳng thấy. Đức Phật bảo Phạm vương: “Ta thấy chư Phật đời quá khứ đều tự gọt tóc. Tất cả phàm Thánh đều không thể thấy được đỉnh tướng của ta.” Ta bèn tự tay gọt tóc. Râu tóc đều sạch, chỉ còn hai râu mép, dù đã gọt, vẫn không chịu rụng. Gọt xong, ta xuống sông tắm gội. Bấy giờ, các Phạm vương, Đế thích, Long vương đều tranh nhau lấy tóc của ta. đức Phật bảo đại chúng: “Hãy giao cho Phạm vương, Đế thích, Phạm mas và Long vương mỗi người chút ít tóc râu.” Cũng giao cho nhà vua Tịnh Phạn chút ít. Chư Phật mười phương lại bảo ta rằng: “Thiên vương Đại Phạm này chính là vị thí chủ lớn hàng đầu của ngài. Ngài hãy hiện đỉnh tướng cho Phạm vương ấy cầm dao gọt lại tóc râu.” Ta nghe lời này, bèn hiện đỉnh tướng ra. Ta cầm dao này giao cho Phạm vương. Mặt đất vì thế, chấn động đủ sáu cách. Dao phóng hào quang chiếu sáng hằng trăm ức quốc độ của chư Phật. Ta tuy đã hiện ra đỉnh tướng, nhưng chỉ lên đến Sắc giới đỉnh. Bấy giờ, Phạm vương liền bay lên đến đỉnh tướng mới gọt được tóc cho ta. Sau đó, gọt hai râu mép. Khi râu mép rơi xuống, phóng ra hào quang lớn, rơi xuống đến Diêm phù đề, hóa thành hai toà bảo tháp, cao đến đỉnh tướng, đầy đủ mọi thứ trang nghiêm. Từ lúc ta thành Phật đến nay, hai bảo tháp này có mặt trước hết. Chư Phật mười phương đồng thời bảo ta: “Hãy đem hai bảo tháp râu mép này giao cho Phạm vương giữ gìn. Sai thổ thần Kiên Lao tạo tháp kim cương nhỏ để đựng thế đao và bồn vàng này. Chúng tôi thấy chư Phật đời quá khứ, khi mới thành Chánh giác, đều cầm dao này gọt tóc và nói xong “Đến thật là hay!” thì râu tóc đã rụng xuống. Nay ngài đã thành Đạo, hãy cầm dao này đến Lộc uyển thế độ cho năm người giống như chư Phật đời quá khứ.” Ta nghe lời ấy, liền đến Lộc uyển thế độ cho năm vị Bà la môn. Từ đó về sau đều gọi họ là Thiên Lai hay Yết ma. Lại bảo Tu bồ đề: “Từ giới đàn, hãy phóng lửa chiếu sáng để triệu tập hằng trăm ức chư Phật và các vị hóa Phật của ta đến tụ họp tại giới đàn. Tu bồ đề vâng lời, đi triệu tập xong xuôi. Từ giảng đường, đức Như Lai cầm thế đao, A nan bưng bồn bồn vàng, cùng đại chúng Trời người đi đến giới đàn, vòng quanh ba lượt, rồi theo phía Bắc bước lên đàn, bảo Thiên vương Đại Phạm: “Ông hãy bố thí thợ thuyền và vàng sắt trên Trời để ta chế tạo thế đao.” Lại bảo thổ thần Kiên Lao: “Ông hãy bố thí kim cương, ta sắp chế tạo tháp nhỏ đựng thế đao này.” Lại bảo Long vương Ta kiệt: “Thợ rồng của ông giỏi nhất, có thể chế tạo hộp đựng dao quý cho ta.” Các Thiên nhân vâng lời, bố thí đủ mọi thứ. Nhờ thần lực của đức Như Lai, chỉ trong khoảng thời gian một bửa ăn, cả ba loại đều hoàn thành. Dao quý chế tạo được tám vạn bốn nghìn cái, đem cho vào hộp và đựng trong tháp kim cương. Lại bảo chư Phật mười phương đều cúng dường dao và tháp, số lượng lên đến tám mươi ức cái. Tất cả đều được giao cho Văn thù và Phổ Hiền. Đức Phật bảo Phổ Hiền: “Sau khi ta nhập Niết bàn, hãy đem các tháp cúng dường này an trí khắp tám mươi vạn ức nước lớn trong Đại thiên thế giới, mỗi nước một tháp. Cõi Diêm phù đề có tám vạn bốn nghìn món phiền não, đều mong ước được giải thoát. Hãy giúp cho họ được xuất gia, siêu độ khỏi vòng sinh tử luân hồi. Lớp lớp công đức lợi sinh ấy nhiều không thể nói hết.” Đức Phật bảo Văn thù: “Qua năm sau, ông mang dao, tháp sang an trí trong động kim cương ở núi Thanh lương bên Chấn đán (Trung Quốc).” Đức Phật bảo A nan: “Ông hãy về cung của phụ vương lấy tóc của ta, đem đến đây giao cho Đế thích.” A nan vâng lời, đi lấy về giao xong. Đức Phật bảo Đế thích: “Ông tính tóc ta tạo ra bao nhiêu bảo tháp?” Đế thích thưa rằng: “Tôi tuỳ theo số tóc của đức Như Lai, mỗi sợi tóc xoắn sẽ tạo ra một bảo tháp.” Đức Phật bảo Long vương: “Hãy sai thợ chế tạo bình mã não, hộp vàng ròng giao cho Đế thích để đựng tóc xoắn.” Bấy giơ, Đế thích sai thợ Trời chế tạo, tính toán phải mất ba mươi bảy ngày mới hoàn thành. Đức Như Lai dùng thần lực, nên chỉø trong khoảng thời gian một bửa ăn, tháp đựng tóc đã hoàn thành. Số lượng lớn đến hai mươi sáu vạn cái. Đức Phật bảo Đế thích: “Ông hãy lưu lại ba trăm bảo tháp cất giữ trên Trời. Số lượng còn lại, sau khi ta nhập Niết bàn, hãy đem tám vạn bốn nghìn cái giao cho Văn thù sư lợi an trí ở Diêm phù đề cũng như ở các nước trên Trời để Chánh pháp của ta được loan truyền rộng rãi thuận lợi khắp nơi.” Đức Phật lại bảo A nan: “Ông về cung của phụ vương lấy râu mép của ta. Tổng cọng có sáu mươi bốn sợi. Hai sợi đã cúng dường cho phụ vương. Số còn lại, hãy đem về đây. Ta sắp sửa tạo tháp.” A nan vâng lời, đi lấy về giao cho đức Thế tôn. Bấy giờ, đức Phật bảo bọn La sát: “Ta bố thí cho các ngươi hai sợi râu mép này. Các ngươi phải chế tạo hộp thất bảo và tháp trầm hương đựng râu mép được cúng dường này. Nhờ uy đức của râu, khiến cho bọn ngươi có đủ mọi thứ ăn uống. La sát bạch Phật rằng: “Nhờ đức Thế tôn bố thí râu mép, sai tạo ra bảo tháp. Không biết tháp phải cao bao nhiêu?” Đức Phật bảo: “Cao chừng bốn mươi do tuần. Số lượng râu còn lại cũng nên tạo nên hộp và tháp cao chừng ba trượng.” Các La sát vâng lời, tạo tháp và đều hết sức vui mừng. Đức Phật lại bảo các La sát: “Các ngươi nên cố gắng giữ gìn, đừng để các ngoại đạo, người xấu, ma quỷ, rồng dữ phá hủy bảo tháp của ta. Tháp này là tính mạng của các ngươi. Nhờ giữ gìn bảo tháp, nên các thứ ăn uống đều có đủ hằng ngày. Mỗi năm, tháp này sẽ phóng hào quang ba lượt, chiếu sáng thân thể các ngươi. Thường mưa xuống các thứ gạo cơm, đường mật, rau quả đầy đủ theo nhu cầu. Nếu nuôi lòng ác, hào quang sẽ không xuất hiện, lương thực đều biến mất. Nếu thấy xảy ra các tai họa này, các ngươi phải được hết đám La sát đến trước tháp ăn năng sám hối hết sức, thì hào quang lại phóng ra, lương thực lại có đầy đủ.” Sáu mươi tháp đựng râu mép còn lại, khi đức Thế tôn nhập Niết bàn, đem giao lại cho Bồ tat Vô Ngôn, sai giữ gìn hơn nữa, đừng để các vua ác phá hủy. Trong sáu mươi nước lớn có chữ nghiã học hành ở Diêm phù đề, mỗi nước an trí một bảo tháp. Sai thổ thần Kiên Lao lấy kim cương làm tháp, cao chừng ba trượng để đựng hộp râu. Chọn lựa các danh sơn trong sáu mươi nước lớn ấy, đục đá làm khám rồi đựng bảo tháp vào trong. Cửa khám phải khóa chặt, không cho các vua ác sau này mở ra phá huỷ, không giữ được lâu dài.”
Thứ tư: PHẦN CỤ PHỤC
Kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, thái tử đã gọt tóc xong, Trời Tĩnh Cư lại biến thành người thợ săn, mình mặc áo cà sa nhuộm đúng màu, tay câm cung tên. Thấy được, thái tử bảo rằng: “Ông có thể cho tôi chiếc áo cà sa này chăng? Tôi sẽ tặng ông chiếc áo Ca thy có giá trị hằng trăm ngàn ức vàng, lại được ướp đủ loại hương trầm ngào ngạt.” Và nói kệ rằng:
“Chiếc áo giải thoát của Thánh nhân, Người mang cung tên mặc không hợp. Xin ông hoan hỷ tặng cho tôi,
Đừng tiếc cùng tôi đổi* áo Trời.”
Người thợ săn đáp lại rằng: “Hay thay! Tôi thật không hề tiếc.”
Khi ấy, chiếc áo do Trời Tĩnh Cư hóa phép lọt vào tay Bồ tát; chiếc áo Ca thy tuyệt đẹp của Trời bay lên không trung. Chỉ trong khoảnh khắc một niệm, đã trở về lại Phạm Thiên. Do thành tâm muốn tặng chiếc áo tuyệt đẹp, nên khi đã thấy thế, Bồ tát hết sức vui mừng. bấy giờ, Bồ tát đã gọt tóc xong, thân lại mặc áo cà sa, hình dung đổi khác, uy nghi đầy đủ. Miệng ngài bèn phát ra lời thệ nguyện lớn lao: “Hôm nay ta mới thật sự là người xuất gia!”
Thứ năm: PHẦN SỬ HOÀN
Kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, Xa nặc và ngựa chúa đau buồn rơi lệ, giả từ thái tử. Nhân thế, nói kệ rằng: “Bồ tát ra đi vào giữa khuya, Xa nặc giả từ, dắt Kiền trắc.
Vì quá khổ sở, thân tơi tả,
Mất hết tám ngày mới trở về.”
Xa nặc và ngựa chúa về đến thành xong, thấy kinh thành vắng vẻ, trống không, nước mắt tuôn ra như mưa, cùng dắt nhau vào thành. Ngựa Kiền trắc đứng ngoài cửa, nôn nao muốn vào trong cung nhìn lại chỗ thái tử đi đứng, nằm ngồi. Không thấy thái tử, nước mắt rơi xuống ròng ròng như suối. Mọi người và cung quyến chỉ thấy Xa nặc cùng ngựa Kiền trắc nhập cung, đều giơ tay lên trời, kêu gào khóc lớn, lệ tuôn chan hòa đầy mặt và nói kệ rằng:
“Lòng các thể nữ đau như cắt, Khao khát trong mong thái tử về.
Bỗng thấy Xa nặc, ngựa về không.
Lệ tuôn đầy mặt, oà lên khóc, Bứt sạch anh lạc, y phục đẹp,
Xoã cả đầu tóc, thân gầy guộc.
Chới với giơ tay, thế là hết!
Kêu khóc đến sáng, không hề ngủ.”
Bấy giờ, hoàng gia trong cung đau buôn không thể tả. Đại phu nhân Da du đà la nhìn Xa nặc nói rằng: “Nếu ta là người đàn bà không chồng thì dẫu thế nào, cũng cam lòng chịu đựng. Trái lại, thái tử bỏ ta để xuất gia ở chốn núi rừng, bắt ta phải chịu cảnh phòng đơn gối chiếc, làm sao khiến lòng không tan nát được?” Và nói kệ rằng: “Thân tâm ta nay đã cứng lì, Sánh cùng sắt đá khác xa chi?
Chủ nhân lên núi, cung hoang lạnh, Sao lòng lại chẳng nát tan đi?”
Bấy giờ, vua Tịnh Phạn vì nhớ thương thái tử, đau đớn xé lòng, mê man té xuống đất, không còn hay biết gì nữa và nói kệ rằng: “Vua nghe Bồ tát thề nguyện nặng, Lại thấy Xa nặc, Kiền trắc về. Bỗng nhiên mê sảng, đấm vào ngực, Cũng tựa Đế thích gãy Hỷ tràng.
Khi nhà vua tỉnh lại, liền nói kệ rằng:
“Kiền trắc mày ơi, hãy chạy nhanh!
Đưa ta đến đó chở con về.
Ta đã mất con, không sống nổi.
Như người bệnh nặng, thuốc thang chi!”
Lại nữa, kinh Phổ diệu nói: “Bấy giờ, Bồ tát vừa ra khỏi thành, tất cả dân chúng Ca duy la vệ đều biết thái tử đã ra đi, cùng nhau bàn tán và lấy làm vui mừng. Sáng hôm sau, Câu di thức dậy, nghe tiếng xôn xao, mới biết thái tử đã đi rồi. Về phần nhà vua, nghe âm thanh vang dội thật lớn, không thấy Bồ tát, Xa nặc và ngựa, lòng nhà vua đau đớn tan nát, té nhào xuống đất, cất tiếng thở than: “Niềm hy vọng của ta đã tiêu tan vỉnh viễn, còn biết trông cậy vào ai nữa đây?” Câu di từ giường lăn xuống đất, vò bứt đầu tóc, giật đứt chuỗi anh lạc: “sao khổ đến thế này! Ngài là người dẫn dắt, là chỗ nương tựa như Trời. Vậy mà đành bỏ thiếp để ra đi! Thiếp còn sống nữa để làm gì? Ân ái chưa được bao lâu, nay lại chịu cảnh biệt ly!” Rồi lại khóc lóc, nước mắt rơi xuống như mưa, không cầm lại được. Không thấy Bồ tát, chẳng ai là không đau lòng. Cây cối trong vườn từ từ xơ xác tiêu điều, không còn hoa quả. Mặt đất sạch sẽ, bỗng dưng nổi đầy bụi bặm. Nhà vua nghe đồn, cùng đình thần, hoàng tộc đi theo hộ vệ, đến thăm vườn. Thấy vậy, lại càng đau đớn. Cù di nuôi lòng hy vọng thái tử sẽ trở về. Xa nặc vào thưa rằng: “Bồ tát bẩm lại với nhà vua và Xá di, phải thành Đạo xong, mới trở về gặp mặt.” Nhà vua nhìn lại, chỉ thấy có áo quý, Xa nặc và ngựa Kiền trắc trở về, không thấy thái tử, liến gieo mình xuống đất: “Than ôi! Con ta hiểu rành kinh điển, học thuật kỳ diệu đều thông suốt. Nay đi đến đó, bỏ nước vạn dân. Xa nặc nói đi! Bồ tát con ta đến chỗ nào? Ai mở giúp cửa? Chư Thiên cúng dường ra sao?” Xa nặc thưa rằng: “Xin đại vương nghe cho, tôi đang nằm ngủ yên ổn ở chỗ mọi ngày. Cửa thành đã đóng. Khi ấy, Bồ tát bảo tôi chuẩn bị ngựa. Trong thành, vạn dân đều ngủ, chẳng có ai hay. Đế thích mở cửa. Bốn Thiên vương ra lệnh cho bốn thần nhân bồng chân ngựa. Có hằng trăm nghìn Thiên vương, Đế thích, Phạm vương hộ tống Bồ tát, sửa soạn đường sá, phóng hào quang chiếu sáng, rải hoa đốt hương. Các nhạc công trên trời cùng lúc cử hành âm nhạc, ca múa giữa không trung. Thiên chúng bao bọc chung quanh để hộ tống Bồ tát. Khi đã đi khỏi thành rất xa, Bồ tát cởi áo, chuỗi anh lạc và ngựa giao cho tôi đem về bẩm với đại vương và từ biệt phu nhân, phải thành được Phật, mới trở về gặp mặt. Xin chớ ưu sầu.” Bấy giờ, phu nhân nghe Xa nặc nói, lại càng thêm đau đớn, ôm lấy đầu ngựa trắng và than rằng: “Thái tử cưỡi mày đi, sao mày lại trở về một mình? Dung mạo tuyệt đẹp như vầng trăng đầy, tướng hảo trang nghiêm đã giã biệt ra đi! Xa gần than tiếc, ai chẳng đau lòng? Sao đi một mình, có ai theo đâu? Xa nặc vô tích sự, chỉ làm gai mắt ta!” Khi ấy, Xa nặc thấy nhà vua và Cù di đem lời trách móc chua cay, lòng thêm buồn tủi, rơi nước mắt, bèn đem kể lại chuyện con gián thống thiết trước đây. Tuy nhiên, hành động của thái tử đều phù hợp với đạo lý, xin nhà vua và phu nhân đừng đau buồn nữa.”
Thứ sáu: PHẦN GIÁN TỬ
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Vua Tịnh Phạn sai hai người lên núi khuyên can thái tử trở về và nói kệ rằng:
“Đầu gai nhọn hoắc được ai mài?
Đầu chim sặc sỡ do ai vẽ?
Mỗi loài tuỳ nghiệp chuyển xoay nên, Thế gian chẳng có người làm nổi!
Bấy giờ, thái tử trình bày cặn kẽ cùng sứ giả, xin nhà vua tin tưởng sâu sắc vào lý nhân quả tự nhiên (lời lẽ rất nhiều, không thể nói hết ra đây).” Lại nữa, kinh Phổ diệu nói: “Phụ vương nghe tin thái tử xuất gia, đau buồn khóc lóc và hỏi rằng: “Vì lý tưởng nào? Khi nào sẽ trở về? Phải lập lời thề với trẫm. Trẫm nay tuổi tác già nua, nước nhà không có người nối dõi.” Thái tử bèn lựa cơ hội trả lời rằng: “Nếu thỏa được bốn điều ước nguyện, sẽ không xuất gia nữa. Một là không già. Hai là đến hết đời không bệnh. Ba là không chết. Bốn là thường tồn, không khác. Thần tiên tuy có ngũ thông, dẫu thọ một kiếp, cuối cùng cũng không th oát được cái chết.” Nhà vua nghe xong, hết sức đau buồn. Bốn điều ước nguyện ấy, xưa nay chưa từng có được! Mấy ai thoát khỏi nó đâu!”
Thứ bảy: PHẦN SAI THỊ
Kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, vua Thâu đầu đàn bảo con cái họ Thích rằng: “Bọn họ Thích các ngươi, nếu biết thời cơ, một nhà chỉ cần một người xuất gia. Nếu nhà họ Thích có năm anh em, cho phép ba người xuất gia hai người tại gia. Nếu có bốn anh em, hai người được xuất gia, hai người tại gia. Nếu có ba anh em, hai người xuất gia, một người tại gia. Nếu chỉ có một người, không được xuất gia. Tại sao?Vì không thể để cho dòng họ Thích bị đoạn tuyệt.”
Thứ tám: PHẦN PHẬT PHÁT
Như kinh Quán Phật tam muội nói: “Trên đầu của đức Như Lai có tám vạn bốn nghìn sợi tóc đều rẽ hai bên và mọc xoắn về phía phải. Các sợi tóc bằng nhau và mỗi sợi vuông vức bốn cạnh. Mỗi một sợi phát ra hào quang ngũ sắc, hòa chung với mười bốn sắc hào quang nói trên. Trước đây, khi ta còn ở trong cung, nhũ mẫu gội đầu cho ta. Bấy giờ, vì quá yêu thương, nhũ mẫu đến bên ta và bảo rằng: “Khi Tất đạt sinh ra, đã có nhiều chuyện kỳ lạ. Nếu có người hỏi nhũ mẫu, tóc của cháu người dài ngắn ra sao, nhũ mẫu biết trả lời thế nào đây? Nay nên lường để biết tóc của cháu dài ngắn bao nhiêu.” Nói xong, liền bảo ta xổ tóc ra. Nhũ mẫu lấy thước đo thử, dài một trượng ba thước năm tấc. Xổ xong, tóc xoắn lại thành búi như vỏ ốc, hướng về phía phải. Khi ta sắp nạp phi, lại đo tóc, dài một trượng ba thước năm tấc. Khi ta xuất gia, được Thiên thần bồng đi, tóc cũng dài, một trượng ba thước năm tấc. Hôm nay, phụ vương hãy xem tóc của Như Lai. Nói xong, đức Phật bèn lấy tay xổ ra, tuôn dài từ tinh xá Ni câu lâu đà đến cung của phụ vương, rồi quấn bảy vòng quanh kinh thành, óng ánh xanh tía như lưu ly. Đại chúng đều chứng kiến nh74ng màu sắc như thế trong tóc của đức Phật, kỳ diệu không thể tả nổi. Đức Phật lại thâu tóc, tắt hào quang. Tóc uyển chuyển xoay trở về phía phải ở trên đỉnh đầu, thành búi hình trôn ốc.”
Lại nữa, luật Tăng chi bảo: “Khi đức Phật còn tại thế, cứ bốn tháng cạo tóc một lần.” Theo luận Tát bà đa: “Tuy bốn tháng cạo tóc một lần, nhưng cũng giống người phàm bảy ngày cạo tóc một lần vậy.” Lại nữa, kinh Văn thù sư lợi vấn nói: “Tóc người phàm dài hai lóng tay thì nên cạo. Đôi khi qua hai tháng, nếu tóc còn ngắn mà vẫn cạo, ấy là hạng Bồ tát Vô học. Nếu dài hơn hai lóng tay mới cạo, cũng la hạng Bồ tát Vô học. Móng tay không được để dài. Chỉ được phép bằng hột thóc năm ngang. Vì sao? Vì để gãi ngứa.” Lại nữa, luật Tứ phần nói: “Phật bảo, cho phép các Tỳ kheo cắt móng tay sát đến da. Nếu dài nhất, chỉ bằng hạt lúa tẻ. Phải cạo tóc, nửa tháng một lần. Tóc dài nhất, chỉ được bằng hai lóng tay. Hoặc hai tháng cạo một lần (theo lịch pháp cổ Ấn Độ, hai tháng ở đây, kể từ tuần trăng sáng và tối. Mỗi tuần có mười lăm ngày. Như thế, thời gian 30 ngày này là hai tháng vậy).
Lại nữa, kinh Tỳ ni mẫu nói: “Đức Phật bảo đại chúng, không được dùng áo cũ, bình cũ đựng lấy tóc này, phải dùng vật mới. Có hoàng tử con vua Cù ba la đi theo xin tóc của đức Thế tôn. Đức Phật bảo, phải dùng bình thất bảo đựng lấy.” Lại nữa, luật Tứ phần nói: “ Bấy giờ, A nan mang bình cũ thu thập tóc của đức Thế tôn. Đức Phật bảo, không được dùng bình cũ đựng tóc của Như Lai. Phải dùng bình mới, áo mới, lụa màu dày như thế để đựng lấy tóc và gói bọc lại. Khi ấy, có hoàng tử Cù ba ly làm tướng quân, sắp sửa đi chinh phạt bốn phương, đến xin tóc của đức Thế tôn. Đức Phật bảo, hãy cho ông ấy. Được tóc xong, không biết an trí chỗ nào. Đưc Phật bảo, cho phép an trí trong tháp vàng, hoặc trong tháp bạc, hoặc trong tháp thất bảo, hoặc dùng lụa màu gói bọc lại. Chẳng biết nên giữ gìn thế nào? Đức Phật bảo, cho phép mang trên đầu trên vai khi ngồi lên xe ngựa, bành voi. Hoàng tử mang tóc của đức Thế tôn đi chinh phạt, đắc thắng trở về, bèn xây tháp tôn trí tóc ấy. Cũng cho phép các Tỳ kheo mang tóc của ngài đi và an trí theo cách đã nói trên. Kẻ ấy không rửa ráy sạch sẽ khi đại tiểu tiện mà vẫn mang tháp của đức Thế tôn? Đức Phật bảo, không được làm như thế. Phải nhờ người sạch sẽ giữ lấy và an trí tháp của Như Lai. Nếu an trí tháp vào trong phòng không tốt, mình lại ở trong phòng rất tốt phía trên? Đức Phật bảo, không được làm như thế. Phải an trí tháp của Như Lai vào trong phòng rất tốt phía trên, mình ở trong phòng không tốt. Kẻ ấy an trí tháp của đức Thế tôn vào phòng phía dưới, mình lại ở phòng trên? Đức Phật bảo, không được làm như thế, phải tôn trí tháp của Như Lai ở phòng trên, mình ở phòng dưới. Người ấy ở chung phòng với tháp của đức Thế tôn? Đức Phật bảo, không được làm như thế. Người ấy vì bảo vệ chặt chẽ, nhưng sợ sệt, cẩn trọng, không dám ở chung? Đức Phật bảo, cho phép an trí trên đầu cọc. Nếu đã an trí trên đầu cọc, hoặc để bên đầu nằm, vì lý do bảo vệ tháp, cho phép ở lại trong tháp. Cũng như vì lý do bảo vệ chặt chẽ bảo vật trong tháp, cho phép ở chung. Người ấy mang giày da đi xộc vào trong tháp? Đức Phật bảo, không được làm như thế. Đức Phật bảo tiếp, cho phép ngồi ăn phía dưới tháp, không được là ô uế dơ bẩn tháp. Nếu có đồ dơ uế, gom lại bên chân. Khi ăn xong, phải mang đi chỗ khác.”*
*Đoạn này văn pháp rất uẩn xúc, khó hiểu. Có lẽ ở đây có hai loại tháp: tháp nhỏ để an trí tóc của đức Phật và tháp lớn để thờ cúng. Các câu cuối chỉ cho tháp lớn.
Thứ chín: PHẦN THỜI TIẾT
Như các kinh Thập nhị du và Tăng nhất A hàm đều bảo: “Hai mươi chín tuổi xuất gia, hai mươi năm ở trong hàng ngũ ngoại đạo.” Nay suy luận theo đại thể, đức Như Lai tại thế bảy mươi chín năm. nếu hai mươi chín tuổi xuất gia, ba mươi lăm tuổi thành Đạo, thời gian hành đạo là bốn mươi lăm năm. Nhưng kinh Thiền yếu bảo: “Đức Phật Thích ca một thân giáo hóa chúng sinh ba mươi chín năm.” Phần nhiều các kinh nói ngài xuất gia năm mười chín tuổi thì có vẽ đúng hơn. Thế nên, kinh Vị tăng hữu nói: “Phu nhân Da du đà la bảo, đức Như Lai cưới ta chưa quá ba năm.” Kinh Thụy ứng có nói: “Thái tử lên mười bảy tuổi nạp phi.” Như thế, chứng tỏ chuyện ngài xuất gia năm mười chín tuổi là đúng. Như chuyện hai mươi chín tuổi xuất gia, ba mươi lăm tuổi thành Đạo thì trong các kinh ít nói đến. Vã lại, bảo ngài ở trong hàng ngũ ngoại đạo học hỏi hai mươi năm, thì đến năm mươi tuổi mới thành Đạo. Điều ấy đủ tỏ sai lầm. Chẳng qua, do căn cơ của chúng sinh không giống nhau, nên kiến giải có chỗ dị đồng vậy.
Thứ mười: PHẦN HỘI ĐỒNG Thuật rằng:
Do nhiều thế hệ cách xa, ngôn ngữ Ấn Hoa dị biệt, người dịch trình độ không giống, nên lời văn danh từ sinh ra khác nhau. Dẫu muốn nhất nhất tuân theo, chẳng có tiêu chuẩn cố định. Xét rằng sách vở một đời, anh tài đua nhau mô phỏng, khiến cho “hợi thỉ” đổi từ, “lỗ ngư” biến vận. Huống chi đất nước gồm có trong ngoài, thư pháp lại càng nhiều thể. Vì thế, dù cố tìm tòi, cũng khó thống nhất. Như chuyện Hoàng Đế ba mặt, nhạc quan một chân, lời dù không phải Ấn Hoa, chuyện thành đầu Ngô Minh Sở! Hơn nữa, tà đạo dễ nghe, chánh pháp khó hiểu. Lời có chính phụ, đắp đổi viết ra, đến khi thẳm định, há chẳng sinh ra dị thuyết hay sao?
Bộ thứ 12: THÀNH ĐẠO
Gồm có 10 phần: Thuật ý, Khất thực, Học định, Khổ hạnh, Thực mi, Thảo tọa, Hàng ma, Thành Đạo, Thiên tán, Thần biến.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Bậc đại Thánh xuất hiện rất đúng thời cơ, mọi chúng sinh thành tâm đều được chiếu giám. Che chở khắp mười phương, giáo hóa suốt ba cõi. Là Đạo sư tiếp dẫn tứ sinh, làm bè cứu vớt Lục đạo. Đến như, Đâu suất giáng sinh, Diêm phù nhập diệt. Hoài thai chầy tháng, hấp hối sao rơi. Vườn Lâm vi ni phô mười hai tướng tốt, cây Tất lợi xoa phóng hào quang. Xem gương khổ ở bốn cửa thành, đẹp hẳn mọi ác thú ngũ dục. Bỏ kinh đô nghiêm mật ra đi, nương cội Đạo siêu nhiên chứng giác. Gộp bốn bát đá ở Liên hà, độ năm Tỳ kheo ở Lộc uyển. Dẹp sạch ái trước triền miên ràng buộc, tẩy rửa bụi trần tiền kiếp chất chồng. Tuệ nhật khai thông, quang đảng trong lành tám ngục, thần uy xiển hoá, hiền hoà chiếu diệu bốn loài. Pháp âm diễn thuyết một lời, mỗi loài tùy cơ giải thoát. Tượng giáo do đó càng được chấn hưng, lưu truyền đến nay cũng đã lâu lắm.
Thứ hai: PHẦN KHẤT THỰC
Như Luật Tứ phần nói: “Bấy giờ, Bồ tát dần dần đi xa, từ biên giới nước Ma kiệt đến thành Ba la duyệt và nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, vào thành khất thực. Tướng mạo đoan trang, thần sắc phơi phới. Cất chân thanh thản, nhìn thẳng bước tới, không liếc hai bên. Mặc áo mang bình, vào thành La duyệt. Khi ấy, vua Ma kiệt ngự trên lầu cao, quần thần hầu cận bao bọc xung quanh. Trông thấy Bồ tát vào thành khất thực, thanh thản bước chân, liền hướng về quần thần nói kệ ca tụng Bồ tát, rồi nhà vua sai hỏi rằng: “Tỳ kheo sẽ đi đến đâu?” Bồ tát trả lời:
“Có núi tên Bàn trước bà, sẽ đến đó ở lại.” Sứ giả cấp tốc trở lại bẩm báo với nhà vua. Nghe xong, nhà vua liền sửa soạn bành voi cùng quần thần tìm đến. Hành lễ xong, nhà vua hỏi Bồ tát rằng: “Nay ngài có thể ở tại đây. Tôi xin dâng tất cả của cải trong nước và cởi mũ xáo này đem dâng tặng. Xin ngài hãy lên ngôi cai trị. Còn tôi, sẽ xin làm bầy tôi của ngài.” Bấy giờ, Bồ tát đáp lời rằng: “Ta đã từ bỏ ngôi vị Chuyển luân vương để xuất gia cầu Đạo, lẽ nào lại vì ngôi vua ở biên phương này mà hoàn tục? Nhà vua nên biết cho rằng, giống như người từng thấy nước đại hải, sau lại thấy nước ở vết chân trâu, há lại bận lòng tham luyến? Chuyện này cũng thế, há đã bỏ ngôi vị Chuyển luân vương, lại còn tập nhiễm ngôi vị Túc tán vương nhỏ bé? Điều này không thể có được!” Lúc ấy, vua Ma kiệt bước lên trước Bồ tát thưa rằng: “Nếu ngài chứng được Đạo vô thượng, trước tiên, xin đến thành La duyệt cho tôi được gặp.” Bồ tát đáp rằng: “Điều này có thể được.” Nhà vua bèn đảnh lễ dưới chân Bồ tát, đi vòng quanh ba lượt rồi ra về.”
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Bồ tát nói với quốc vương Ma già đà rằng: “Đại vương! Thật tình hôm nay chúng ta không sợ loài rắn độc ấy, cũng không sợ sấm sét lôi đình, cũng không sợ lửa dữ bị cơn gió lớn thổi lên thiêu hủy đồng ruộng ao đầm, mà chỉ sợ cảnh tượng ngũ dục cuốn hút. Tại sao? Vì ngũ dục vô thường giống như giặc cướp vơ vét hết mọi công đức. Bồ tát bèn nói kệ rằng:
Ngũ dục vô thường hại công đức,
Lục trần hư huyễn phá chúng sinh, Quả báo nhân gian vốn lừa người, Khôn ngoan mấy kẻ biết dừng lại? Kẻ ngu trên trời, chưa thỏa ý, Huống chi dưới thế, há vừa lòng? Uế dục nhiễm trước chẳng hay biết, Giống như lửa dữ cháy rơm khô. Thuở xưa giáng sinh bậc Thánh chúa,
Hàng phục bốn cõi, tung kim luân, Còn được Đế thích ngồi bên cạnh, Vì nổi lòng tham, chịu đọa đày.
Giả sử làm chúa hết cõi này,
Lòng còn muốn chiếm lấy phương khác,
Thị dục thế gian không biết chán,
Giống như biển cả nuốt nhiều sông!”
Đại vương nên biết, dưới núi Tu di ấy có gia đình A tu la, hai anh em vì tham dục, cùng yêu một cô gái đẹp. Hai người tranh giành, đánh nhau bị thương, đến nỗi cùng chết. Bồ tát bèn nói kệ rằng:
Ngày xưa, anh em A tu la,
Vì một cô gái cùng giết hại,
Cốt nhục thương yêu thành oán ghét,
Người khôn xem thấy, chừa tham dục.
Bồ tát lại bảo rằng: “Đôi khi vì ngũ dục, sinh làm Trời làm người. Khi đã được sinh rồi, vì nhiễm ngũ dục, nên phải gieo mình xuống nước hay nhảy vào lửa. Vì ngủ dục nên chuốc lấy oán thù. Bồ tát lại nói kệ rằng:
Kẻ si vì dục hóa bần cùng,
Mang tội giết hại chịu đau thương, Nghĩ rằng ham hố nên công chuyện, Đâu biết sức kiệt lại tai ương!
Lại nữa, trong kinh Phật bản hạnh, Bồ tát có nói kệ rằng:
Già sử thương yêu cùng tụ họp,
Đến thời rồi cũng phải chia ly,
Thấy rõ vô thường, ngắn ngủi ấy, Tìm phương giải thoát, quyết ra đi!
Thứ ba: PHẦN HỌC ĐỊNH
Như Luật Tứ Phần nói: “Bấy giờ, Bồ tát liền đến chỗ của A la ca lam học Định bất dụng xứ. Tinh tiến chẳng bao lâu, chứng được phép Định này. Rồi Bồ tát bỏ vị này ra đi. Sau đó, đến chỗ của vị Uất đầu lam học Định hữu tưởng vô tưởng. Tinh tiến chẳng bao lâu chứng được phép Định này. Bồ tát suy nghĩ, hai cõi Định này không phải là Niết bàn, không phải là chỗ nghỉ ngơi tịch lặng vĩnh cửu. Không thích hai phép Định này, Bồ tát bèn bỏ hai vị ấy ra đi, tìm phép khác cao siêu hơn nữa, chính là phép nghỉ ngơi vô thượng. Bấy giờ có năm người đi theo Bồ tát, suy nghĩ rằng, một mai Bồ tát thành Đạo, sẽ thuyết pháp dùm cho bọn ta.!” Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Tiên nhân A la la bảo Bồ tát, bọn phàm phu đắm đuối tham dục, bị ràng buộc đủ mọi thứ khổ sở. Tất cả đều do cảnh giới gây nên. Bèn nói kệ rằng:
Sơn dương bị giết do tiếng gọi,
Phù du vào đèn tại lửa lòe, Cá mắc dây câu bởi mồi béo,
Thế nhân đến chết vì cảnh giới.
Lại nữa, luận Tân bà sa nói: “Khi Đức Phật còn làm Bồ tát, chán nản cảnh già bệnh chết, đã ra khỏi thành Kiếp tỷ la phạt tốt đổ, đi tìm Vô thượng trí. Bấy giờ, vua Tịnh phạn sai năm người thuộc dòng họ Thích đi theo hầu hạ. Hai người là bà con bên mẫu hậu, ba người là bà con bên phụ hoàng. Hai người bà con bên mẫu hậu giữ gìn Lạc hạnh thanh tịnh. Ba người bà con bên phụ hoàng giữ gìn Khổ hạnh thanh tịnh. Lúc Bồ tát đang tu pháp Khổ hạnh, hai người bà con bên mẫu hậu thấy thế, lòng không chịu đựng nổi, liền bỏ ra đi. Về sau, Bồ tát thấy Khổ hạnh không phải là Chánh đạo, bèn từ bỏ, thọ thí cơm canh, sữa tươi và xức dầu lên mình, thực hành theo lối Trung hạnh. Ba người bà con bên phụ hoàng cùng bảo: “Bồ tát cuồng loạn, mất trí cả rồi!” Và cùng bỏ ra đi. Sau này, khi Bồ tát thành Đạo, liền suy nghĩ: “Bọn họ đều là bà con của mẫu hậu và phụ hoàng. Trước đây đã từng đến cung kính hầu hạ ta. Nay muốn đền ơn, nhưng không biết họ ở chốn nào?” Có vị Trời bạch rằng: “Hiện nay họ đang ở tại Vườn nai của chư tiên trong nước Bà la niệt tư.”
Hỏi; “Vì sao gọi là Bà la niệt tư?” Đáp: là tên sông. Cách đây không xa, xây dựng vương thành cũng gọi tên là Bà la niệt tư.” Hỏi; “Vì sao gọi là chỗ tiên nhân giảng luận?” Đáp: “Nếu chủ trương rằng chư Phật nhất định chuyển pháp luân ở chỗ này, thuyết ấy bảo, chư Phật là bậc tiên nhân tối thượng, đã chuyển pháp luân đầu tiên ở chỗ này, nên mới gọi là chỗ tiên nhân giảng luận. Nếu chủ trương rằng chư Phật chắc chắn không chuyển pháp luân ở chỗ này, thuyết ấy bảo, thì nên gọi là chỗ tiên nhân cư trú. Nghĩa là khi Đức Phật xuất thế, có ngài là bậc đại tiên nhân và các tiên nhân đệ tử cùng cư trú. Nếu Đức Phật không xuất thế, sẽ có các tiên nhân Độc giác cư trú. Nếu không có các tiên nhân Độc giác, sẽ có các tiên nhân thế tục chứng được ngũ thông cư trú. Vì chỗ này thường có các tiên nhân đã, đang và sẽ cư trú, nên mới gọi là chỗ tiên nhân cư trú. Có thuyết bảo, nên gọi là chỗ tiên nhân đọa lạc. Vì ngày xưa có năm trăm tiên nhân phi hành tự tại giữa không trung, đến đây, gặp phải nhân duyên thối thất đều bị đọa lạc.” Hỏi: “Vì sao gọi là Rừng ban cho nai?” Đáp: “Vì thường có bầy nai rong chơi, nghỉ ngơi ở rừng này, nên gọi là Rừng nai. Xưa có vị quốc vương tên Phạm đạt đa đem rừng này ban cho bầy nai ấy, nên mới gọi là Rừng ban cho nai. Giống như trong vườn Trúc lâm tại thành Vương xá, trưởng giả Yết lan đạc ca đã đào một cái ao cho loài chim Yết lan đạc ca vui chơi, nên gọi là ao ban cho Yết lan đạc ca. Chuyện này cũng thế, nên mới gọi là Rừng ban cho nai (đời Tần phiên âm là chim Ca lan đà.
Theo luận Thiện kiến, chim này có hình dáng như chim cưu).
Thứ tư: PHẦN KHỔ HẠNH
Bấy giờ, Bồ tát ở chỗ năm vị Tỳ kheo trong Rừng nai ấy để học phép Khổ hạnh. Trải qua sáu năm cực kỳ gian khổ, hơn cả vị thầy. Do nhịn đói chẳng thành Đạo, chỉ làm gầy guộc thân xác, nên kinh Niết bàn có nói: “Bồ tát phải lấy Khổ hạnh để tự răn lòng. Thường ăn một hạt mè chịu đựng suốt bảy hôm. Dù hạt tấm, hạt đậu xanh, hạt mè, hạt gạo, cho đến đậu trắng, cũng đều như thế, mỗi hạt chịu đựng suốt bảy hôm. Khi tu Khổ hạnh như thế, tất cả da thịt tiêu tán ốm gầy, nhăn nheo suy tổn, như quả bầu khô treo lúc đứng trưa. Mắt của Bồ tát thụt sâu như sao dưới đấy giếng. Thịt hết, xương sườn nhô ra như nhà nát mái. Các đốt sống lưng gồ lên như hàng gạch xếp chồng. Chỗ ngồi lồi lõm như vết móng ngựa. Muốn ngồi thì sụm xuống, muốn đứng thì ngã bật ra. Tuy chịu đựng khổ sở vô ích nhiều đến như thế, nhưng Bồ tát chẳng hề thối thất đạo tâm.”
Lại nữa, kinh Bồ tát xử thai nói rằng: “Đức Phật bảo Bồ tát Khổ hạnh, ngày xưa, ta còn chịu đựng khổ sở nhiều vô số. Suốt sáu năm bên bờ sông Ni liên, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè hay một hạt gạo. Do tiền kiếp đã phạm bốn tội về khẩu nghiệp và cắt đứt bửa cúng dường cho một vị Duyên giác nên phải thọ nhiều quả báo nhẹ như thế.”
Lại nữa, kinh Đại tập nói: “Bấy giờ, Bồ tát Quang Vị nói kệ với đại chúng rằng:
Quá khứ vô lượng vô số kiếp,
Đủ loại bố thí đã tu tập, Trì giới thanh tịnh và Nhẫn nhục, Tinh tiến, Tọa Thiền, học Bát nhã.
Cốt để an lạc các chúng sinh,
Nhẫn nhục đủ mọi thứ khổ sở,
Trong cung sáu vạn hậu, phi tần, Dứt bỏ xuất gia như cởi dép! Đơn độc sáu năm tu Khổ hạnh,
Ngày ăn hạt mè hoặc hạt gạo,
Tinh tiến đêm ngày chẳng ngủ nghỉ, Thân thể chỉ còn da bọc xương. Dưới cội Bồ đề ngồi tĩnh tọa,
Thiên ma kéo đến tám chục vạn,
Tứ phương trên dưới, đất và trời, Bốn chục do tuần đều đứng chật.
Bè đảng ma quân đông đến thế,
Đều bị đả phá bắt quy hàng,
Thành tựu Vô thượng diệu Bồ đề, Chứng được quả Đệ nhất nghĩa đế.
Thứ năm: PHẦN THỰC MI
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, sáu năm đã trôi qua, đến ngày mười sáu tháng hai mùa Xuân, trong lòng Bồ tát tự suy nghĩ, nay ta không nên ăn thế này, phả ăn uống đầy đủ xong, mới chứng được A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nay ta biết nhờ ai tìm giúp thức ăn bổ dưỡng ngon lành? Ai có thể cúng dường thức ăn ngon lành ấy, khiến ta ăn xong, liền chứng được A nậu bồ đề? Khi trong lòng Bồ tát nhen nhúm suy nghĩ như thế, có một Thiên tử hiểu thấu nỗi niềm, liền cấp tốc đi đến bên hai cô gái của thôn trưởng Thiện Sinh, bảo với họ rằng; “Hởi các cô gái của thôn trưởng Thiện Sinh! Nếu các cô biết được cơ duyên, Bồ tát nay đang cầu mong được thức ăn vô cùng ngon lành, ăn xong, sau đó sẽ chứng được A nậu bồ đề. Nay các cô hãy giúp ngài lo liệu nấu món cháo sữa đầy đủ mười sáu vị đặc biệt.” Hai cô gái của thôn trưởng Thiện Sinh nghe lời chỉ bảo của Thiên tử ấy, liền vui mừng phấn khởi khắp cả thân mình, không thể dằn được, bèn mau mau tụ họp một ngàn con bò nái, vắt lấy sữa rồi đem cho năm trăm con bò nái khác uống. Qua hôm sau, vắt sữa của năm trăm con bò nái này rồi lại đem cho hai trăm năm mươi con bò nái khác uống. Hôm sau nữa, vắt lấy sữa của hai trăm năm mươi con bò nái này rồi đem cho một trăm hai mươi lăm con bò nái khác uống. Hôm sau nữa, vắt sữa của sáu mươi con bò nái này rồi đem cho ba mươi con bò nái khác uống. Hôm sau nữa, vắt sữa của ba mươi con bò nái này đem cho mười lăm con bò nái khác uống. Hôm sau nữa, vắt sữa của mười lăm con bò nái này, pha thêm một phần cám tốt rồi đem nấu cháo sữa cho Bồ tát. Khi hai cô gái đang nấu cháo nhiều hình tượng hiện ra: hoặc hiện hình bình đầy hoa, hoặc hiện hình nước sông công đức sâu thẳm, hoặc hiện hình chữ Vạn, hoặc hiện hình bánh xe công đức nghìn nạn, hoặc hiện hình yếm bò chúa, hoặc hiện hình voi chúa rồng chúa, hoặc hiện hình cá, hoặc hiện hình đại lực sĩ, hoặc hiện hình Đế thích. Có khi lại hiện hình Phạm vương. Hoặc lại hiện hình cháo sữa sôi vọt lên, cao đến nửa cây Đa la trong giây lát, rồi rơi xuống. Hoặc hiện hình cháo sữa sôi vọt lên, cao đến một ngọn cây Đa la, giây lát lại rơi xuống. Hoặc hiện hình cháo sữa cao bằng một trượng, rồi lại rơi trọn xuống nồi, không một giọt nào rớt ra chỗ khác. Khi đang nấu cháo, còn có một vị bốc sư chuyên giải số mạng tướng thuật đi đến chỗ ấy, thấy cháo sữa hiện ra các hình tướng như thế, bèn xem xét rất kỹ rồi nói rằng: “Hy hữu, hy hữu! Người nào được thọ lãnh cháo sữa này, ăn xong, chẳng bao lâu sẽ chứng được thuốc hay cam lộ!” Bấy giờ, vào giờ sáng sớm (theo cổ lịch Ấn Độ, một ngày hai mươi bốn giờ thời xưa được chia ra sáu giờ: thần triêu, nhật trung, nhật một, sơ dạ, bán dạ và hậu dạ. Mỗi giờ ấy tương đương với bốn giờ hiện nay. Vậy giờ thần triêu này có thể coi là giờ khuya hay giờ sớm.) Ngày hai mươi ba tháng hai, Bồ tát đến ngoài cổng lớn nhà thôn trưởng ấy, đứng lặng yên, tỏ ý khất thực. Cô con gái trông thấy, liền lấy một bát bằng vàng, múc đầy cháo sữa pha mật. Tự tay bưng lên, mang đến trước Bồ tát rồi dừng lại, nhìn Bồ tát và thưa rằng: “Xin tôn giả mở lòng từ bi thương xót đến tôi mà nhận lấy bát cháo sữa pha mật này.” Bồ tát nhận lấy bát cháo sữa ấy, mang đến bờ sông Ni liên thiền. Có một Long nữ tên là Ni liên trà da, từ mặt đất nhảy lên, tay cầm tọa cụ trang sức đẹp đẽ của Trời dâng lên Bồ tát. Bồ tát nhận xong, liền ngồi lên. Ngồi xong, đem bát cháo sữa do cô gái của thôn trưởng Thiện Sinh cúng dường ra ăn thỏa thích no nê đến hết. Ăn xong, nhờ nghiệp lực phước báo của công đức bố thí từ thời tiền kiếp, thân thể tướng tốt bình phục như cũ. Đoan trang đáng quý, viên mãn hoàn toàn, không chút suy giảm. Xong xuôi, Bồ tát lấy bát vàng liệng xuống giữa dòng sông. Bấy giờ, Hải long vương sinh lòng vô cùng kỳ lạ, lại muốn tán thán công đức giáng thế của Bồ tát, liền nhặt lấy bát vàng đem về long cung để phụng thờ. Ngày khi ấy, Thiên chúa Thích đề hoàn nhân biến thành chim kim sí có mỏ bằng kim cương quý, ngoạm lấy bát vàng từ Hải long vương, bay về thiên cung Đao lợi ở cõi Trời Tam thập tam để thường xuyên phụng thờ. Cõi Trời ấy lập ra cái tết gọi là Tết phụng thờ bát vàng, từ đó đến nay không dứt. Bấy giờ Bồ tát ăn cháo sữa xong, đứng lên khỏi chỗ, thong thả bước dần đến cây Bồ đề. Còn tọa cụ ấy, Long nữ lấy lại, đem về cung điện của mình để phụng thờ và nói bài kệ rằng:
Bồ tát theo pháp ăn cháo sữa, Của con gái Thiện Sinh dâng, Ăn xong, vui vẻ về cây Đạo, Chắc chắn sắp chứng được Bồ đề.
Theo Cảm ứng ký (gọi đúng và đủ phải là Tam bảo cảm thông lục) của Luật sư trụ trì Đạo Tuyên chép: “Luận rõ nhân duyên, đều ở quyển mười, trong phần Quán đỉnh thuật lại. Bấy giờ, có hoàng tử của Tứ Thiên vương bảo luật sư rằng: “Khi thành đạo được mười một năm, tại vườn của trưởng giả Tu ma trong thành vương xá, Đức Phật bảo các đại Bồ tát và đại đệ tử, khi ta mới vượt ra khỏi thành, đến nước Khiên sa. Giữa đường, gặp cô gái chăn bò. Ta bảo: “Tôi có phần đói khát, đến xin cô giúp cho ăn uống.” Cô gái ấy hỏi: “Ngài đi đâu?” Ta đáp: “Đi đến Bồ đề.” Lại hỏi: “Ngài tên gì?” Ta đáp: “Tất đạt.” Cô gái ấy bèn bảo ta rằng: “Tôi đọc kinh điển Vi đà có nói rằng, chẳng bao lâu nữa, có bậc đại trí sẽ thành Chánh giác. Tôi xem tướng mạo và tiếng nói của ngài, đúng là tướng hảo chư Phật. Tôi làm thần núi ở đây đã trải qua 16 Đại kiếp. Chư Phật đời quá khứ, tôi đều thân cận. Ngài nên theo tôi về miếu, tôi sẽ xin cúng dường thức ăn cho ngài. Xưa kia, khi Đức Phật Ca diếp nhập Niết bàn, có phó thác cho tôi một bình sữa. Phía trên có hai con rồng quấn quanh, phía dưới có con sư tử ngồi xổm, do Đức Phật Câu lưu tôn chế ra lần lượt giao phó từ tôi đến đời Đức Phật Lâu chí. Trong bình rồng này đựng đầy nước tám công đức. Khi khát, ngài nên uống nước này để tiêu tan phiền não, tăng trưởng Bồ đề. Xin ngài đừng coi thường bình nhỏ này. Giả sử múc hết nước của bốn biển lớn vào cũng chẳng đầy. Trong đó có bốn Long vương. Vào đầu Hiền kiếp này, khi ba vị Phật xuất thế, các di pháp đều được cất giữ trong bình. Sánh với Long cung Ta kiệt, cũng giống như một chẳng khác chút nào. Đức Phật Ca diếp còn giao phó cho tôi một lò hương và một hộp bằng vàng ròng. Tôi sẽ giao phó lại cho ngài. Phía trước lò hương có mười sáu đầu, một nửa là sư tử, một nửa là voi trắng. Trên hai đầu thú ấy dựng lên một đài hoa sen có hình lò hương. Bốn phía lò hương lại dựng riêng sáu lầu bằng bạc. Mỗi lầu ló ra các Thiên đồng cao chừng hai tấc. Tổng cộng có chín mươi sáu Thiên đồng. Mỗi khi đốt hương, các Thiên đồng này thay phiên nhau đem hương đến giao cho. Phía sau lò hương có hành sư tử ngồi chồm ra ngoài. Trên đầu sư tử có chín con rồng bò quanh. Trên đầu rồng đội hoa sen vàng. Trong hoa sen có đài vàng. Trong đài vàng là tháp báu. Trong tháp báu có mười ba vạn ức lầu quán lớn bằng trân châu, đều đựng các loại hương quý. Lại có mười ba vạn tạng Luật bằng vàng lá, trong đó có các Tỳ kheo đang nhập Định diệt tận. Như đến kỳ đốt hương, các Thiên đồng ở đầu lò hương đi đến đài báu, miệng mỗi Thiên đồng đều ca hát các khúc đốt hương. Cửa đài tự mở ra, các Tỳ kheo liền xuất Định, lấy hương quý ở quán trân châu giao cho các Thiên đồng. Xong xuôi, cửa đài tự đóng lại. Từ trong miệng của chín con rồng lại còn ngậm quán bạc rồng làm thân thích cho đài báu và trong quán bạc này đều có các Thiên đồng thường cử hành các Thiên nhạc lúc đốt hương. Âm thanh trong trẻo tao nhã không thể lấy gì sánh nổi. Chúng sinh nghe đến, sinh lòng tin tưởng, ngộ Đạo. Mỗi khi được thuyết pháp, thường cầm lò hương đứng trước đại chúng. Thiền đồng mang hương đến dâng cho Đức Phật để ngài đốt lên cúng dường. Lại còn có hộp bằng vàng ròng, trong đựng bộ Đại bát nhã gồm có ba mươi ức bài kệ. Lấy vàng ròng làm giấy, bạch ngọc làm hàng ranh, bạc trắng làm chữ. Hộp ấy dài ba tấc, trong đó có hai Tỳ kheo cũng đang nhập Định diệt tận. Hộp và lò hương này đều do Đức Phật Câu lưu tôn chế ra, lần lượt được giao phó từ tôi cho đến Đức Phật Lâu chí. Chư Phật sắp xuất thế đều mở hòm này đọc các kinh điển. Nhờ thần lực Bát nhã, Thiên ma không thể quấy phá, mau thành được Chánh giác. Nay tôi đem giao phó, xin ngài nỗ lực giữ gìn, đừng để tổn thất.” Ta nhận lãnh xong ngồi dưới gốc cây Bồ đề, suốt sáu năm tu tập khổ hạnh, thường uống nước trong bình này, nên mới trừ được đói khát và phiền não củng đều tiêu tan. Lại nữa, khi ta sắp thành Đạo, xuống sông tắm rửa, thọ nhận cháo sữa của hai chị em cô gái, đi đến dưới cây Bồ đề, sửa soạn bước lên đàn Kim cương thì sơn thần tìm đến chổ ta, bảo rằng: “Hôm nay ngài thành Đạo, nên theo phép của chư Phật thời xưa. Khi vừa thành Đạo, sắp bước lên đàn Kim cương, trước tiên, cầm lò hương đi quang đàn bảy lượt. Chư Phật mười phương đều cầm hương cắm trong lò ấy. Nay ngài đã thành Đạo, nên theo phép này.” Đức Phật bèn theo lời, đi vòng quanh đàn Kim cương và cây Bồ đề ba mươi hai vòng. Chư Phật mười phương cũng bước lên dâng hương. Sau đó, truyền mệnh cho các nhân vương, Thiên vương, Đế thích, Phạm vương Long vương, Bồ tát thập địa đều đến dâng hương. Đức Phật vận dụng thần uy, khiến hương thơm khắp mười phương, xông lên đến Đỉnh tướng. Các căn đầy đủ, trí tuệ tăng trưởng. Nhiều loại thần kỳ, không thể tả nổi. Chư Phật lại bảo Phạm vương: “Hãy lấy nước trong bình rỗng ấy tưới vào chân của Đức Phật. Các nhân vương, Thiên vương, Đế thích, Ma phạm đều lần lượt rửa chân cho Đức Phật. Mặt đất chấn động đủ sáu cách. Từ chân Đức Phật phóng ra hào quang óng ánh sắc vàng và ngồi lên đài sen sắc vàng. Chư Phật mười phương đều đến đưa hương. Trong ánh hào quang sáng láng, Đức Phật Lô xá na đưa bàn tay sắc vàng xoa lên đỉnh đầu Đức Phật Thích ca và nói pháp ngôn vi diệu: “Hôm nay, chư Phật mười phương cáo bạch Yết ma để thọ phong cho Đức Phật Thích ca văn thành ngôi vị Pháp vương vô thượng. Chư Phật cầm Yết ma ấy trên kim đàn. Vô lượng hà sa Thiên nhân đại chúng nghe chư Phật cáo bạch Yết ma. Tất cả đồng thời yên lặng như các Tỳ kheo nhập cảnh giới Tứ thiền. Chư Phật cầm Yết ma trao ngôi vị Pháp vương xong, mặt đất lại chấn động đủ sáu cách. Đức Phật phóng hào quang chiếu diệu khắp mười phương, hoằng dương Phật pháp, làm lợi ích cho hết thảy Thánh phàm. Công đức vô lượng, không thể nói hết.”
Thứ sáu: PHẦN THẢO TỌA
Như kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, Bồ tát tắm trong sông, ăn cháo sữa, gội rửa thân thể xong, hình dung bình phục như trước. Uy nghi tự tại, thanh thản ngồi đối diện cây Bồ đề, suy nghĩ sẽ tạo chỗ ngồi thế nào cho Đạo trường Bồ đề này và biết rằng nên ngồi trên cỏ. Bấy giờ, Trời Tĩnh cư bạch rằng: “Chư Phật đời quá khứ sắp chứng Đạo Bồ đề, đều ngồi trên cỏ này để thành Chánh giác.” Bồ tát suy nghĩ không biết ai sẽ cho ta cỏ ấy, rồi nhìn quanh bốn phía. Khi ấy, từ Thiên cung Đao lợi, Thiên vương Đế thích, nhờ thần lực, biết được mối bận tâm của Bồ tát, liền biến thành người cắt cỏ, cách Bồ tát không gần không xa. Cỏ ấy xanh lục, có dáng mượt mà như cổ chim Khổng tước chúa, mềm mại trơn tru. Nếu chạm tay vào như áo Ca thi mỏng mảnh. Màu sắc đẹp đẽ, lại thơm tho, uyển chuyển ngã về phía phải, . Bồ tát hỏi người cắt cỏ ấy rằng: “Này hiền giả, tên ngài là gì?” Người ấy đáp: “Tôi tên là Cát Lợi.” Bồ tát suy nghĩ, nay ta mong muốn tìm cát lợi cho bản thân và cũng mong muốn tìm cát lợi cho tha nhân. Người này tên Cát Lợi đang đứng trước mặt ta! “Nay ta quyết định phải chứng được quả A nậu bồ đề. Hiền giả có thể ban cho ta cỏ không?” Người ấy đáp: “Tôi có thể tặng cỏ cho ngài.” Bấy giờ, người ấy bèn cắt cỏ dâng cho Bồ tát. Bồ tát nhận lấy một bó, tự tay ôm vào. Ngay lúc ấy, mặt đất chấn động đủ sáu cách. Bồ tát mang bó cỏ ấy đến dưới gốc cây Bồ đề. Được nửa chừng, bỗng nhiên có năm trăm con chim sẻ từ mười phương bay đến, từ phía phải, lượn ba vòng quanh Bồ tát rồi bay theo ngài. Lại có năm trăm con chim Câu sí la. Lại có năm trăm con khổng tước. Lại có năm trăm con thiên nga trắng. Lại có năm trăm con hồng hạc. Lại có năm trăm con hải âu trắng. Lại có năm trăm con Ca lăng tần già. Lại có năm trăm con mệnh mệnh. Lại có năm trăm con voi trắng đều mang sáu ngà. Lại có năm trăm con ngựa trắng, đầu và tai đen mun. Đuôi và bờm đều đỏ rực, có dáng dài phất phới. Lại có năm trăm con bò chúa buông yếm thòng xuống như đám mây đen. Bấy giờ, lại có năm trăm đồng tử, năm trăm đồng nữ. Trên mình mỗi người đều trang sức đủ loại chuỗi anh lạc đẹp đẽ. Lại có năm trăm Thiên tử, năm trăm Thiên nữ, năm trăm bình quý đựng đầy các loại hoa thơm, chứa đầy các loại nước hoa ngào ngạt. Không có người mang. Tự nhiên bay đi giữa không trung. Lại nữa, trên thế gian có bao nhiêu điều tốt đẹp đều từ khắp bốn phương kéo đến dồn dập như mây mưa bên mình Bồ tát, theo phía phải vòng quanh ba lượt rồi cùng đi theo ngài. Giữa hư không, tất cả âm nhạc của chư Thiên cử lên, hoan hỷ ca tụng Bồ tát, long trọng không thể tả nổi.”
Lại nữa, kinh Thụy ứng bản khởi nói: “Thích đề hoàn nhân biến thành người phàm, tay cầm cỏ óng mềm. Bồ tát hỏi rằng: “Ông tên gì?” Đáp: “Tên Cát Lợi.” Bồ tát nghe qua, lòng rất vui mừng. Báo hiệu trừ bỏ điềm xấu để thành tựu điềm lành.”
Lại nữa, kinh Quán Phật tam muội nói: “Vừa xếp xong chỗ ngồi bằng cỏ, mặt đất liền chấn động mạnh. Chư Phật biến thành tám vạn cây Phật có sư tự tọa. Hoặc có cây Phật cao tám nghìn dặm, bốn nghìn dặm hoặc cao hằng trăm nghìn do tuần. Tất cả cây Phật gộp đủ số tám vạn, lớn nhỏ không đều, khiến cho cây của Đức Phật Thích ca trở thành nhỏ nhất. Tuy nhiên, lại có đủ chừng ấy số thiên y phủ bên trên.”
Lại nữa, kinh Quán Phật tam muội nói: “Đức Phật bảo phụ hoàng, khi con vượt ra khỏi cung thành, cách thành Già da không xa, đi đến bên cây A du đà. Hằng trăm nghìn Thiên tử Cát Bình đều suy nghĩ, nếu Bồ tát ngồi ở chỗ này, chắc hẳn cần đến tọa cụ. Nay chúng ta phải dâng tặng cỏ Trời. Liền đem dâng tặng cỏ Trời trong sạch, mềm mại tên là Cát tường. Bồ tát nhận xong, trải trên mặt đất để ngồi. Khi ấy, chư Thiên lại thấy sợi mày bạc vấn cong chỉ chừng 3 tấc, uốn về bên phải. Có trăm nghìn sắc hòa nhập vào các tướng tốt. Các Thiên tử ấy suy nghĩ: “Bồ tát chỉ nhận cỏ của ta, không nhận cỏ của ông.” Bấy giờ, trong sợi mày bạc có hằng vạn ức vị Bồ tát ngồi kiết già, mỗi vị đều nhận lấy cỏ của chư Thiên, trải ngồi dưới gốc cây ấy. Mỗi vị Thiên tử đều chứng kiến sự việc này xảy ra trong sợi mày bạc. Có vị Thiên tử tên Duyệt Ý thấy mặt đất cỏ mọc xuyên qua thịt của Bồ tát, ló lên đến cả gang tay, liền bảo các Thiên tử rằng: “Bậc nam tử này thật lạ kỳ, khổ hạnh đến thế! Lâu ngày không ăn, kêu gọi không nghe, cỏ mọc xuyên thịt không biết!” Rồi lấy tay phải vuốt sợi mày bạc của Bồ tát. Sợi mày ấy dài đến 1 trượng bốn thước năm tấc. Giống như bạch ngọc quý giá trên Trời, trong ngoài đều rỗng không. Chư thiên thấy ở trong có hằng trăm nghìn ánh hào quang rất vi diệu, không thể tả nổi. Chứng kiến xong, chư Thiên đều ca tụng thật lạ lùng, chưa từng có, rồi buông ra cho sợi mày bạc ấy xoay về bên phải, trở lại vị trí cũ. Bấy giờ, Bồ tát hàng phục ma vương, ma vương phải trở về cung điện của mình. Sợi mày bạc vươn theo, thẳng đến cõi Trời Lục dục. Vô số Thiên tử thiên nữ chứng kiến trong sợi mày bạc đều rỗng không, tròn trịa, khả ái, giống tràng phan của Phạm vương. Đức Phật có vô lượng tướng tốt. Mỗi tướng tốt đều có tám vạn bốn nghìn tướng phụ, nhưng tất cả các tướng tốt này gộp lại, đều không bằng được một phần nhỏ công đức của tướng mày bạc.”
Thứ bảy: PHẦN HÀNG MA
Như kinh Nhân quả nói: “Ngày mồng bảy tháng tư, Đức Thế Tôn hàng phục Ma chúng. Bấy giờ, hoàng hôn lịm bóng, trăng sáng chiếu soi. Vườn cây hoa quả tươi tốt, chẳng đợi Xuân về.” Luận Trí Độ nói: “Bấy giờ, Ma vương kéo tám vạn ma quân đến quấy phá Đức Phật. Ngài vận dụng hào quang vi diệu trong mày chiếu xạ, khiến chúng đều bị ngã nhào.” Lại nữa, kinh Quán Phật tam muội nói: “Ma vương sinh lòng giận dữ, muốn xông thẳng lên trước. Ma con can rằng: “phụ vương vô cớ, tự chuốc lấy tai ương. Bồ tát tĩnh lặng, khó lay như mặt đất. Làm sao có thể phá hoại được ngài?” Lại nữa, kinh Tạp bảo tạng nói: “Ngày xưa, dưới gốc cây Phật, ác ma Ba tuần kéo tới tám mươi ức ma quân xông đến, muốn phá hoại Đức Phật, bảo rằng: “Ông chỉ có một mình, làm sao có thể ngồi ở đây? Phải mau mau đứng lên, đi khỏi chỗ này. Nếu không, ta sẽ tóm lấy chân ông liệng ra ngoài biển!” Đức Phật đáp rằng: “Ta xem khắp cả thế gian, chẳng ai có thể liệng nổi ta. Vào thời tiền kiếp, nhà ngươi đã từng một ngày thọ giới Bát quan trai và cúng dường một bát cơm cho Phật Bích chi, nên mới được sinh lên cõi Trời lục dục làm Ma vương. Còn ta, đã từng sắm sửa cúng dường cho các Thanh văn Duyên giác suốt ba đại kiếp vô biên vô số lượng, không thể nào tính nổi.” Ma vương bảo: “Ông nói ngày xưa ta có giữ giới một ngày và cúng dường một bửa ăn cho Phật Bích chi. Chuyện ấy có thật, ta cũng tự biết. Còn ông, chỉ do tự nói, lấy ai làm chứng?” Đức Phật bèn lấy tay chỉ xuống đất, nói rằng: “Đất này làm chứng cho ta!” Khi Đức Phật nói xong lời này, tất cả mặt đất chấn động mạnh đủ sáu cách. Thổ thần từ tầng kim cương nhảy lên, chắp tay bạch Đức Phật rằng: “Tôi xin làm chứng. Từ khi có mặt đất đến nay, tôi luôn luôn có mặt ở trong. Lời Đức Thế Tôn vừa noi đều đúng không sai.” Đức Phật bèn bảo Ba tuần: “Trước tiên, nhà ngươi có khả năng lay nổi bình đựng nước rửa này, sau đó mới có thể liệng ta ra ngoài biển.” Bấy giờ, Ba tuần cùng tám mươi ức ma quân không thể nào lay chuyển nổi bình. Tất cả bọn chúng đều nghiêng ngửa té nhào. Mọi phá hại đều tiêu tan như sao lặn.”
Lại nữa, kinh Phật bản hạnh nói: “Bấy giờ, trưởng tử của Ma vương Ba tuần tên là Thương Chủ dập đầu đảnh lễ dưới chân Bồ tát, cầu xin sám hối, miệng nói lời này: “Thưa Thánh nhân chí thiện, cầu xin ngài cho cha tôi được mở lời xin lỗi. Cha tôi ngu si nông cạn giống hệt trẻ con không có trí tuệ. Hôm nay bỗng dưng đến đây quấy phá, kéo bọn ma quan biến hiện đủ mọi trò khủng bố Thánh nhân. Trước đây, tôi đã đem lòng trong nghĩa chính trực khuyên nhủ cha tôi. Dù kẻ cơ trí, rành phép thuật còn chưa thể hàng phục nổi thái tử Tất đạt, huống hồ bọn ta! Cầu xin Thánh nhân tha thứ cho cha tôi. Cha tôi bất trí, không biết đạo lý, đã khủng bố bậc thái tử đại Thánh, làm sao có thể sống còn? Thưa thái tử đại Thánh, cầu mong lời thệ nguyện nhân từ của ngài sớm được thành tựu, mau chứng A nậu bồ đề!”
Thứ tám: PHẦN THÀNH ĐẠO
Như kinh Phổ diệu nói: “Bồ tát ngồi dưới gốc cây, khi sao sáng mọc lên, hoát nhiên đại ngộ. Lên mười chín tuổi xuất gia, ba mươi thành Đạo.” Lại nữa, thuận theo Bát nhã vấn bảo: “Thành Đạo trong rừng  lâu tần loa.” Lại nữa, kinh Tự thệ tam muội nói: “Khi mới vừa thành Phật, chư Phật mười phương đều tặng cà sa. Đức Phật gom thành một chiếc. Đến nay, áo ấy còn được thờ phụng tại Phạm Thiên.” Lại nữa, kinh Không hành tam muội nói: “Đức Phật Di đà đắc Đạo trước ta bốn kiếp. Đức Phật Duy vệ đắc Đạo trước ta ba kiếp. Có Đức Phật tên Năng Nho nhập diệt năm tuổi. Đức Phật Ca diếp đắc Đạo năm mười tám tuổi. Ta đắc Đạo năm lên hai mươi bảy tuổi.” Nay theo số đông để xác định: “mười chín tuổi xuất gia, 30 tuổi thành Đạo.” Đoạn văn này có thể chấp nhận được và thích ứng với ý nghĩa các kinh điển khác. Luật Thiện kiến nói: “Trăng mọc được ba ngày, chứng quả Nhất thiết chủng trí.” Kinh Nê hoàn nói: “Đức Phật ra đời và thành Đạo đều vào ngày mồng tám tháng tư.” Nay lấy làm chính thức.
Thứ chín: PHẦN THIÊN TÁN
Như kinh Hoa nghiêm nói: “Bấy giờ, đức Như Lai vận dụng thần lực tự tại, tuy không rời khỏi chỗ ngồi dưới cây Bồ đề và bảo điện Diệu thắng trên đỉnh núi Tu di, vẫn thăng lên bảo điện trang nghiêm trên Thiên cung Dạ ma, đi đến tất cả các bảo điện trang nghiêm tại Thiên cung Đâu suất. Bấy giờ, Thiên vương Đâu suất, nương vào thần lực của Đức Phật, dùng kệ ca tụng rằng:
Như Lai vô ngại tự trăng đầy,
Trong các tướng lành, ngài đứng nhất, Mọi điện trang nghiêm đều ngự đến, Chốn này nhờ thế tốt lành thay!
Kinh Hoa nghiêm nói: “Bấy giờ, đức Như Lai vận dụng thần lực
uy hùng, nên tất cả các thế giới của chư Phật mười phương, mỗi một cõi Diêm phù đề của các Đại châu đều có đức Như Lai ngồi dưới cây Bồ đề, hiển hiện khắp mọi nơi. Khi ấy, Đức Thế Tôn dùng thần lực uy hùng, không cần đứng lên khỏi chỗ này, vẫn thăng lên đỉnh núi Tu di, đi đến Thiên cung của Đế thích. Đế thích bèn nói kệ ca tụng rằng:
Bảy Phật xa xưa từ Định Quang,
Trong các tướng lành, ngài đứng nhất,
Phật ấy đã từng đến chốn này,
Chốn này nhờ thế tốt lành thay!
Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng thần lực uy hùng, tuy không rời khỏi cây Đạo và Thiên cung của Đế thích, vẫn thăng lên bảo điện trang nghiêm ở Thiên cung Dạ ma. Khi ấy, Thiên vương dùng bài kệ ca tụng rằng:
Như Lai danh hiệu dậy mười phương, Ngài đứng hàng đầu mọi tướng lành,
Bảo điện Ma ni nay ngự đến,
Chốn này nhờ thế được vang danh.”
Thứ mười: PHẦN BIẾN HÓA
Theo kinh Hoa nghiêm nói: “Phật tử! Tất cả chư Phật, trong mỗi một niệm, đều phát sinh mười Trí vô tận. Thế nào là mười Trí vô tận ở trong một niệm đều hiện ra tất cả mọi thế giới? Ấy là: 1/ Từ Trời Đâu suất mạng chung, ở trong một niệm, đều hiện ra khắp tất cả mọi thế giới. 2/ Bồ tát giáng sinh, ở trong một niệm, đều hiện ra khắp tất cả thế giới. 3/ Bồ tát xuất gia, ở trong một niệm, đều hiện ra khắp tất cả mọi thế giới. 4/ Đi đến Đạo trường dưới cây Bồ đề, thành Đẳng Chánh giác, ở trong một niệm, đều hiện ra khắp tất cả thế giới. 5/ Chuyển hóa pháp luân, thanh tịnh chúng sinh, ở trong một niệm, đều hiện ra khắp tất cả mọi thế giới. 6/ Tùy duyên hóa đạo, tất cả chúng sinh đều được giải thoát, ở trong một niệm, hiện thân trang nghiêm khắp tất cả mọi thế giới. 7/ Đáp ứng chúng sinh, ở trong một niệm, đều hiện tất cả mọi thế giới, đủ thứ trang nghiêm. 8/ Tất cả trí sáng của vô số đức Như Lai trang nghiêm tự tại, ở trong một niệm, đều hiện khắp tất cả mọi thế giới. 9/ Thanh tịnh chúng sinh, ở trong một niệm, tất cả chư Phật ba đời đều hiển hiện khắp mọi thế giới. 10/ Ở trong một niệm, do các căn có ước vọng tinh tiến, nên hiển hiện chủng tính của chư Phật ba đời, thành Đẳng Chánh giác, giáo hóa chúng sinh. Phật tử! Như thế gọi là tất cả chư Phật, trong mỗi một niệm, đều phát sinh mười trí vô tận.”
Lại nữa, luận Trí độ nói: “Như A tỳ đàm bảo, cùng một lúc không có hai tâm. Nghĩa là, nếu khi hóa Phật nói thì Đức Phật im lặng. Nếu khi Đức Phật nói thì hóa Phật cũng lặng im. Nếu thế, cùng một lúc, Đức Phật làm sao nói được sáu pháp Ba la mật? Đáp: “Chuyện này cũng như hàng ngũ Thanh văn bên ngoại đạo biến hóa mà thôi. Còn Đức Phật biến hóa bằng vô lượng sức Tam muội không thể nghĩ bàn. Thế nên, khi Đức Phật nói thì vô lượng nghìn vạn ức hóa Phật đều đồng thời nói. Hơn nữa, các Thanh văn ngoại đạo biết biến hóa, lại còn tạo được hóa thân. Do đó, các Thanh văn ngoại đạo sau khi tịch diệt, không thể lưu lại hóa thân. Trái lại, Đức Phật sau khi tịch diệt, có thể lưu lại hóa thân như chính Đức Phật, không khác chút nào. Như trng Tỳ đàm nói, cùng một lúc không có hai tâm, thì nay Đức Phật cũng thế: đang khi hóa Phật nói, cũng chẳng có tâm. Nếu Đức Phật có tâm nghĩ đến hóa Phật, muốn hóa Phật nói, thì cũng đều nói tất cả.”
Bộ thứ 13: THUYẾT PHÁP
Gồm có ba phần: Thuật ý, Phó cơ, Thuyết ích.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Vốn nghe: bậc đại Thánh giáng đúng cơ duyên, hóa tích không phân riêng xứ sở. mỗi nơi thị hiện đều vì lợi sinh. Thế nên, sự có tướng, tâm; để chia chân, tục. Mượn vào thật để chinh phục kẻ thượng căn, nương theo quyền để tùy thuận bọn hạ trí. sinh lão bệnh tử vốn chẳng thấy kỳ hạn thoát ly, Bồ đề Niết bàn may có cơ duyên thể nhập. Song lẽ kinh điển vô biên, tùy cơ diễn giảng. Khiến cho, chuyển pháp luân thì Lộc uyển trước tiên, độ Tỳ kheo thì Kiều trần thứ nhất. Đến như Ca diếp anh em, Mục liên bằng hữu, Tây Vức đại thế, Đông độ loan truyền, chúa tể hai mươi tám cõi trời, quốc vương mười sáu lãnh thổ, ai chẳng quỳ mọp giữa đường quy phục, hưởng ứng uy danh chắp tay? Nhờ thế, Thập địa giảng giữa Tha hóa Thiên cung; Tam thừa hợp nhất trên đỉnh núi Xà quật. Chân tông vô đắc, bàn bạc với Tu bồ đề; ý chỉ vô ngôn, xiển dương cùng Duy ma cật. Hàng phục mười tiên nhân ngoại đạo, chế ngự sáu đoàn thể Tỳ kheo. Trước ngực, thao túng sông hồ; trong tay, lay chuyển hang động. Bàn Đại kiếp thì khối đá lau mòn, luận số nhỏ thì vi trần tính trọn. Vậy mới xứng là Đạo sư của Tam giới, chúa tể của muôn đời. Bần tăng là kẻ tầm thường, bình phẩm ngọn nguồn sao cạn? Giả sử Châu công làm Nhạc chế Lễ, Khổng Tử chép Dịch chọn Thi; Tể Ngã Tử Cống ngôn từ, Tử Hạ Tử Du văn học, cho đến các vị Tả Nguyên Phóng, Cát Thần tiên, Lão tử, Hà thượng công, Trang tử đều chỉ hạn hẹp ở địa phương, có gì đáng kể? Như Chánh pháp của đức Bổn Sư, vốn làm tiêu chuẩn khắp cả Trời người. Ba nghìn phép tắc lưu truyền thấm nhuần Hoa Hạ, ích lợi sâu xa. Tam độc chửa sạch làu làu, trăng đèn chiếu soi sáng láng. Kế thừa bất tận, sao nói cho cùng!
Thứ hai: PHẦN PHÓ CƠ
Như kinh Hoa nghiêm nói: “Đức Như Lai ra đời giống như mặt trời mọc. Trước tiên chiếu diệu các núi chúa. Kế đó, chiếu diệu các núi lớn. Kế đó, chiếu diệu núi báu kim cương. Sau mới chiếu diệu tất cả đất đai. Tuy nhiên, mặt trời không suy nghĩ thế này: “Trước tiên ta phải chiếu diệu núi lớn, rồi sau mới chiếu diệu đất đai.” Vì núi có cao thấp khác nhau, nên chiếu diệu mới có trước sau không cùng lúc. Đức Như Lai cũng thế, cứu độ chúng sinh bình đẳng như nhau, nhưng do căn cơ có lợi độn, nên cảm thụ Phật ân mới có trước sau. Kiến giải bất đồng, lớn nhỏ khác biệt.”
Theo luật Di sa tắc nói: “Sau khi Đức Phật đắc đạo bảy ngày, được an vui giải thoát. Có năm trăm xe chở đường phèn ra nước ngoài buôn bán kiếm lời, đi ngang qua cây Bồ đề. Hai anh em chủ xe là Ly vị và Ba lợi cúng dường đường phèn trước tiên. Bốn Thiên vương dâng bát. Đức Phật nhận xong, giảng phép Tam quy. Bảy ngày sau, Long vương Văn liên lại cúng dường thức ăn của bát bộ. Bảy ngày sau, bốn chị em co trưởng giả Tử na cúng dường thức ăn, được thọ phép Tam quy. Qua bảy ngày sau, Phạm vương lại đến xin Đức Phật thuyết pháp.”
Lại nữa, kinh Phổ diệu nói: “Bấy giờ, Phạm vương và tám vạn sáu nghìn thân thích cùng đến bên Đức Phật, đảnh lễ dưới chân, xin ngài thuyết pháp. Nghe thỉnh cầu xong, Đức Phật bảo: “Vào thời tiền kiếp, ta từng cúng dường sáu trăm ức chư Phật ở Ba la nại nên phải chuyển pháp luân ở đó. Vì còn phải ngồi dưới gốc cây này quán tưởng bảy ngày để báo ân chư Phật ấy, nên chưa thể thuyết pháp.”
Lại nữa, luận Trí độ nói: “Đức Phật thành Đạo xong, chưa thuyết pháp ngay. Suốt năm mươi bảy ngày kiểm điểm cơ duyên rồi mới thuyết pháp. bảy ngày đầu, suy nghĩ cách hoằng pháp Đại thừa. Bốn mươi chín ngày sau, ngài chọn cách dùng Tiểu thừa để thích ứng với chúng sinh.”
Lại nữa, kinh Bồ tát Anh lạc nói: “Phải chuyển pháp luân ở vườn Lộc uyển trong sáng, giúp những chúng sinh đói khát lâu ngày được thấm nhuần sữa pháp cam lộ.”
Lại nữa, kinh Trung bản khởi nói: “Đức Thế Tôn suy nghĩ, trước đây, ta đi qua chỗ hai Sa môn A lan và Ca lan, được họ đối xử có lễ nghĩa. Nay nên đến đó thuyết pháp độ họ. Vị trời từ không trung bảo rằng: “Hai vị ấy mệnh chung đã bảy ngày rồi.” Ngài lại suy nghĩ, nên độ cho Uất đầu lam phất. Vị trời lại bảo: “Đã mệnh chung hôm qua rồi.” Lại suy nghĩ, ngày xưa, phụ hoàng đã sai năm người: một là Câu lân, hai là Át bệ, ba là Bạt đề, bốn là Ca diếp thập lực, năm là Ma ha nam cùng đến hầu hạ ân cần. Nên đến độ họ.”
Lại nữa, kinh Chuyển pháp luân nói: “Khi Đức Phật ngồi dưới gốc cây ở Lộc dã, giữa không trung có vầng pháp luân tự nhiên bay đến, xoay chuyển trước ngài. Ngài lấy tay vỗ về cho đứng yên và nói: “Từ vô thủy đến nay, ta vì danh sắc xoay chuyển pháp luân. Nay ái nhiễm đã hết, thôi đừng xoay chuyển nữa!” Pháp luân liền dừng lại.”
Lại nữa, kinh Thập nhị du bảo: “từ ngày mồng tám tháng tư đến rằm tháng bảy, Đức Phật ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây là năm đầu. Năm thứ hai, ở trong vườn Lộc dã thuyết pháp cho năm người. Năm thứ ba, thuyết pháp cho ba anh em Uất bề, Ca diếp, đông đủ hàng nghìn Tỳ kheo. Năm thứ tư, tại núi Yượng đầu, thuyết pháp cho Long thần ngạ quỷ. Năm thứ năm. Độ Xá lợi, Mục liên. Xá lợi chỉ bảy ngày chứng được thượng quả. Mục liên mất mười lăm ngày chứng được thượng quả. Năm thứ sáu, Tu đạt và Kỳ đà lập tinh xá cho Đức Phật. Có mười hai ngôi chùa vẽ tượng của Đức Phật, bảy mươi hai giảng đường, ba ngàn sáu trăm gian phòng, năm trăm lầu gác. Năm thứ bảy, tại vườn Câu da ni, giảng kinh Bát nhã cho nhóm Bồ tát bà đà hoàn gồm tám vị. Năm thứ tám, tại núi Liễu, thuyết pháp cho hoàng đệ của vua Đồn chân đà la. Năm thứ chín, tại Đầm dơ, thuyết pháp cho A quật ma. Năm thứ mười, đến nước Ma kiệt đà, thuyết pháp cho vua Phất sa. Năm thứ mười một, dưới cây Lo sợ, giảng kinh Bản khởi cho Di lặc. Năm thứ mười hai, trở về nước của phụ hoàng, thuyết pháp cho tám vạn bốn nghìn thân nhân dòng họ Thích.”
Lại nữa, kinh Trung bản khởi nói: “Đức Thế Tôn ở tại nước Ma kiệt đà sáu năm, sắp trở về cố quốc. Phụ hoàng phái Ưu đà diên đi nghinh đón ngài. Nghi ngờ ngài không phải là thái tử trước đây, song chưa biết nhờ ai xác định.”
Lại nữa, kinh Phổ diệu nói: “Có vị Sa môn tên Ưu đà, được phụ hoàng sai đi đón Đức Phật. Xa cách đã hai mươi năm, thương nhớ mong được gặp mặt. bảy ngày sau, Đức Phật trở về cố quốc.”
Lại nữa, kinh Phân biệt công đức nói: “Đức Phật trở về cố quốc,
chân đi giữa hư không, ngang với đầu người. Ngài để phụ hoàng chạm vào chân mà thôi, không cho khom mình hành lễ.”
Lại nữa, kinh Đại tập nói: “Đức Phật thành Đạo được mười sáu năm, biết các Bồ tát đã nắm chắc được Pháp tạng liền bày ra một thang báu giữa các cõi Dục giới và Sắc giới. Đại chúng đều bước vào đó và thăng lên giữa hư không.”
Lại nữa, kinh Phân biệt công đức nói: “Nếu có chỗ không thuyết pháp được, thì chỉ nói tại Xá vệ. Vì Đức Phật ở trong nước ấy suốt hai mươi lăm năm, so với các nước khác, ngài ở đấy lâu nhất. Vì trong nước ấy có nhiều của báu, người ở đấy có nhiều lễ nghĩa. Tinh xá Kỳ thọ có nhiều linh ứng thần kỳ. Khi mọi người tụ tập, vượn lớn chim chóc họp thành đàn cùng đến nghe thuyết pháp. Im lặng không gây tiếng ồn ào. Hết buổi liền đi, loài nào về chỗ nấy. Kẻng hiệu vừa đnáh, lại đến tụ họp. Ấy là do trong nước có nhiều nhân đức, nên các loài quý hiếm đều quy tụ lại.” Bởi thế, luận Trí độ mới nói rằng: “Thành xá vệ có chín ức gia đình. Ba ức thấy rõ Đức Phật. ba ức tin theo nhưng không thấy Đức Phật. Ba ức không thấy không nghe. Đức Phật ở đó suốt hai mươi lăm năm mà còn đến thế. Nếu có người tín mộ hơn nữa, lợi ích sẽ lên đến vô cùng!”
Thứ ba: PHẦN THUYẾT ÍCH
Theo kinh Bồ tát xử thai nói: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn thị hiện cảnh tượng kỳ lạ: biến tất cả các Bồ tát thành thân Phật. Có đầy đủ hào quang. Cùng cất tiếng thuyết pháp. Cùng thành kính nhau. Mỗi vị đều ngồi trên tòa sen thất bảo rất cao. Thuyết pháp lần đầu, chỉ có nam, không có nữ. Thuyết pháp lần thứ hai, chỉ có nữ không có nam. Thuyết pháp lần thứ ba, chỉ độ người có Chánh kiến. Thuyết pháp lần thứ tư, chỉ độ người Tà kiến, thuyết pháp lần thứ năm, nam nữ bằng nhau. Thuyết pháp lần thứ sáu, tà chánh cũng bằng nhau. Lúc bấy giờ, các Pháp đều thành tựu, Đạo quả thuần thục, không có vẻ xa vời. Chánh pháp như như của chư Phật, ý nghĩa thật vi diệu thần thông. Lần thứ bảy, có tám vạn bốn nghìn pháp môn Không hành. Lần thứ tám, có tám vạn bốn nghìn pháp môn Vô tướng. Lần thứ chín có tám vạn bốn nghìn pháp môn Vô nguyện. Mỗi một pháp môn đều có vô lượng nghĩa. Giống như người có trí tuệ sáng láng. Thân có nghìn đầu. Đầu có nghìn lưỡi, lưỡi có nghìn nghĩa. Dẫu muốn hiểu thấu ý nghĩa của chín pháp môn này, cũng chưa thể hiểu được một phần trong trăm nghìn phần. Đấy là Pháp tạng bí yếu của chư Phật. Đều nhờ vào công đức tu học từ tiền kiếp mới thành tựu được.”
Bộ thứ 14: NIẾT BÀN
Gồm có 5 phần: Thuật ý. Thao quang, Phó ai, Thì tiết, Đệ tử.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Chỉ vì chúng sinh hết phúc, Pháp vương mới bỏ ra đi. Gây nên vĩnh biệt ở sông Đề lúc ngài vừa chẳn tám mươi tuổi. Thần uy vận dụng, tán nhỏ hóa thân; lệ huyết dù rơi, ăn năn há kịp! Nỗ lực giải đáp nghi vấn cuối cùng; tranh thủ cúng dường tiễn biệt lần chót. Than ôi! Đuốc tuệ mây lành, nửa đêm vụt tắt; bơ vơ đệ tử, thật đáng não nùng! Tuy nhiên, Pháp thân tĩnh lặng, vốn đã như như; ứng thấn giáo hóa tùy thuận trần thế. Đã gọi hiện hình, được không diệt? Thánh phàm tuy khác, chẳng ai thoát đâu! Thế nên, miệng dù rên nhỏ đau lưng, cũng vừa chuyển xong cam lộ; giả bộ nằm nghiêng bên phải, vẫn còn chiếu diệu hào quang. Điều ấy chứng tỏ dấu tích vô bệnh. Đến khi liệm vải nghìn tấm, còn ló hai chân; kim quan sắp đóng, chắp tay đứng chào. Điều ấy biểu hiện bằng cớ bất diệt. Do đó, tro tàn để chỉ quyền nghi, thường trụ mới là thật tướng. Mượn trăng thí dụ, ý nghĩa minh bạch biết bao!
Những điển tích trên đây, đọc các phần sau, sẽ được lần lượt giải thích rõ ràng.
Thứ hai: PHẦN THAO QUANG
Như luận Trí độ nói: “Tu bạt đà la sống một trăm hai mươi tuổi, mơ thấy tất cả trời người đều mùmắt, trần truồng trong bóng đêm, bảo rằng: “Mặt trời sẽ rơi xuống, núi non biển lớn sẽ khô cạn. Gió sẽ xé tan núi Tu di.” Tỉnh dậy xong, kinh hoàng sợ sệt. Trời bảo rằng: “Đấy là điềm bậc Nhất thiết chủng trí sẽ nhập Niết bàn, chẳng liên quan gì đến nhà ngươi.” Sáng mai, đi vào rừng xin ra mắt Đức Phật, suốt ba lần, A nan đều không cho phép. Đức Phật biết được, từ xa gọi đến trước ngài để cùng từ biệt.”
Lại nữa, kinh Bồ tát xử thai nói: “Nửa đêm mồng tám tháng hai, đức Như Lai tự tay xếp áo cà sa, áo giữa và áo trong, mỗi thứ gấp làm ba, đặt lên mình ngài trong kim quang, lấy bát và gậy trao cho A nan xong, nhập Định kim cương, biến thân thành xá lợi nhỏ. Từ trong kim quan, ngài đưa cánh tay kim cương hỏi tin hai người, Ca diếp và Ngưu si. A nan thưa: “La hán Ngưu si đã nhập Niết bàn.” Ngài bảo: “Nay ta vĩnh viễn nhập diệt.” Rồi rút tay vào kim quan, nằm lặng yên không nói. Ngài lại đưa ra hỏi A nan ba lần: “Ta đã giảng kinh Ma ha thừa cho Bát bộ, ông có nghe chăng?” Thưa rằng; “Chỉ có Đức Phật biết được điều ấy.” Ngài lại hỏi: “Ta đã thuyết pháp cho mẫu hậu trên Thiên cung Đao lợi, ông có biết chăng?” Thưa rằng: “Không biết.” Lại hỏi: “Ta đã thuyết pháp ở long cung, các rồng con đắc Đạo, lưu lại toàn thân xá lợi cao một trăm ba mươi trượng, ông có biết chăng?” Thưa rằng: “Không biết.” “Ta ở trong thai mẹ mười tháng, thị hiện pháp luân không thối chuyển cho các Bồ tát. Thế tôn dùng thần lực hiển hiện trong mẫu thai, đi đứng nằm ngồi. Tất cả đều tự tập trong mẫu thai ấy. Ông có biết chăng?” Thưa rằng: “Không biết.” (A nan là bậc đại Thánh, lẽ nào không biết? Sở dĩ nói không biết là để thôi thúc Đức Phật thị hiện thần lực vi diệu, nên mới trả lời như thế.)
Lại nữa, kinh Niết bàn nói: “Thiện nam tử! Ta thị hiện phép sư tử rống lớn gọi là Đại Niết bàn tại hai cây Sa la này. Hai cây ở phương Đông là phá Vô thường để được Hữu thường. Còn hai cây ở phương Bắc là phá Bất tịnh để được Thanh tịnh. Hết thảy đại chúng ở đây, vì hai cây Sa la, phải bảo vệ rừng Sa la, không cho người khác đến hái lá bẻ cành, đốn chặt phá hoại. Ta cũng thế, vì Tứ pháp, nên bắt các đệ tử phải bảo vệ Phật pháp. Bốn cây Sa la này là do bốn Thiên vương cai quản. Ta cũng làm bốn Thiên vương bảo vệ Chánh pháp của ta. Thế nên, ta cũng nhập Niết bàn ở trong đó.”
Lại nữa, kinh Trung a hàm nói: “Bấy giờ, đức Như Lai đi đến bên hai cây Sa la gấp bốn áo giữa để làm chỗ nghỉ, gấp bốn áo cà sa để làm gối, nằm nghiêng bên hông phải, hai chân xếp lên nhau rồi nhập Niết bàn.”
Lại nữa, kinh Bồ tát xử thai nói: “Bấy giờ tám vị quốc vương lớn đều đem năm trăm xấp nỉ trắng mịn, trầm hương, mộc hương, bỏ hết vào kim quan. Bọc lấy kim quan bằng năm trăm xấp nỉ trắng mịn. Lại đem năm trăm xe dầu hương thơm tưới lên lớp nỉ trắng mịn ấy.
Khi ấy, Thiên vương Đại Phạm hướng dẫn Phạm chúng đứng bên phải. Đế thích hướng dẫn Thiên chúng trên trời Đao lợi đứng bên trái.
Bồ tát Di lặc và các Bồ tát khắp mười phương đứng ở phía trước. Bấy giờ, Đức Thế Tôn sắp nhập Định kim cương, vận dụng thần lực bóp nát hóa thân thành xá lợi ở cõi Ta bà, chuyển hóa Chân pháp này. Ngài vừa suy nghĩ như thế xong, khắp mười phương thế giới lại chấn động đủ sáu lượt.”
Thứ ba: PHẦN PHÓ AI
Như kinh Ma da nói: “A na luật lên trời Đao lợi để thông báo với mẫu hậu Ma da. Mẫu hậu liền giáng hạ. Kim quan tự mở nắp ra. Đức Phật chắp tay đứng dậy bạch rằng: “Thật nhọc lòng mẫu hậu từ xa xôi hạ cố.” Rồi ngài bảo A nan: “Ông nên biết rằng, ta vì muốn làm gương cho những kẻ bất hiếu sau này, nên đã từ kim quan hiện ra vấn an mẫu hậu.” Luật Tăng chi nói: “Hỏa táng thân Phật bên cạnh tháp Mũ Trời.”kinh Ca diếp phó Phật Niết bàn nói: “Bấy giờ, Ca diếp từ biệt Đức Phật, đi vào núi Y trà lê cách nước Xá vệ hai vạn sáu nghìn dặm. Núi ấy sản xuất nhiều thất bảo, quả ngọt, đủ thứ cây hương, nhiều loại cây thuốc, không thể tính hết. Cũng có kỳ lân, phụng hoàng, sẻ đỏ, đạo sĩ ngoại giáo. Bấy giờ, có khối đá vuông vức bằng phẳng, sắc óng vàng như lưu ly, ngang dọc rộng một trăm hai mươi dặm. Trên mặt đất mọc đầy cây lá ngũ sắc, xanh tốt suốt các mùa Đông, Hạ. Trước sau, Ca diếp dạy dỗ một ngàn đệ tử, đều chứng được quả La hán. Thường ngồi trên tảng đá này tụng kinh hành đạo. Cùng một đêm nọ, bảy đệ tử đều nằm mơ. Một Tỳ kheo mơ thấy chính giữa phiến đá bể nát, cây cối bật gốc. Một Tỳ kheo lại mơ thấy nước suối trong trẻo suốt bốn mươi dặm đều cạn kiệt, bông hoa đều rơi rụng. Một Tỳ kheo lại mơ thấy bên tòa Câu la nghiêng ngửa, sụp đổ. Một Tỳ kheo lại mơ thấy núi Tu di đổ xuống. Một Tỳ kheo lại mơ thấy vua Kim luân băng hà. Một Tỳ kheo lại mơ thấy mặt trời mặt trăng rơi rụng, mặt đất tối tăm. Sáng mai thức dậy, mỗi vị đều đem giấc mơ bạch lại cùng Ca diếp. Ca diếp nói rằng: “Trước đây, chúng ta từng thấy sáng sủa mà đất còn chấn động. Các ông nằm mơ như thế, phải chăng Đức Phật sắp nhập diệt?” Lập tức bảo các đệ tử cùng trở về nước Câu di na.”
Lại nữa, Bồ tát xử thai nói: “Khi Đại Ca diếp đến nơi, Đức Phật đưa hai chân ra. Ca diếp nói kệ rằng:
Đệ tử được Phật dạy,
Đều đã siêu độ hết, Ta đi bị lạc đường,
Ân hận không gặp Phật!
Liền đó đi quanh kim quan bảy vòng. A nan đứng ở góc Tây bắc. Nan đà đứng ở góc Đông bắc, chư Thiên đứng phía sau. Cách hai cây Sa la bốn mươi chín bước thẳng về hướng Bắc, Đại Ca diếp tự tay cầm bó củi thơm bốc cháy.
Lại nữa, kinh Tạp a hàm nói: “Đức Phật nhập Niết bàn xong, hai cây Sa la đơm bông rũ xuống cúng dường. A nan nói kệ rằng:
Năm trăm tấm nỉ quấn kim thân,
Lửa đỏ thiêu xong cháy nát tan,
Nghìn chiếc áo nỉ bằng lông mịn, Đem ra mặc hết khắp kim thân.
Chỉ còn hai chiếc thiêu không cháy:
Chiếc phủ trên cao, chiếc liệm thân.
Thứ tư: PHẦN THỜI TIẾT
Như kinh Niết bàn nói: “Vì sao đức Như Lai nhập Niết bàn vào tháng hai? Đức Phật bảo: “Thiện nam tử! Tháng hai gọi là tháng Dương Xuân, vạn vật sinh trưởng. Bấy giờ chúng sinh ra nhiều ý tưởng thường tồn. Để phá tâm thường tồn như thế của chúng sinh, ta nói tất cả pháp đều vô thường và nói chỉ có Như Lai là thường trụ bất biến. Trong sáu mùa, tháng Mạnh Đông khô héo, chúng sinh không ưa thích. Tháng Dương Xuân điều hòa, được người ham chuộng. Để đả phá tham luyến thế gian của chúng sinh, ta diễn thuyết Thường Lạc Ngã Tịnh. Cũng thế, để đả phá Ngã tịnh của thế gian, ta nói Ngã tịnh chân thật của Như Lai.”- “Từ lúc sơ sinh đến xuất gia, thành Đạo, chuyển pháp luân nhiệm mầu, đều chọn ngày mồng tám. Tại sao lại nhập Niết bàn ngày rằm?” Đức Phật bảo: “Thiện nam tử! Vào ngày rằm, trăng không vơi đầy. Chư Phật cũng thế, khi nhập Niết bàn, không có vơi đầy. Vì ý nghĩa ấy, nên chư Phật đều cho ngày rằm để nhập Niết bàn.”
Lại nữa, kinh Trường A hàm nói: “Bấy giờ, có vị bà la môn họ Hương hỏi vua A xà thế rằng: “Đức Phật ra đời vào lúc nào? Xuất gia vào lúc nào? Thành đạo vào lúc nào? Nhập diệt vào lúc nào? Vua A xà thế trả lời: “Đức Phật ra đời lúc sao Phí vừa mọc. Nhập diệt lúc sao
Phí vừa mọc.”
Vào lúc nào sinh ra bậc Lưỡng túc tôn?
Vào lúc nào ra khỏi rừng rậm khổ?
Vào lúc nào thành tựu vô thượng Đạo?
Vào lúc nào nhập Niết bàn?
Sao Phí vừa mọc sinh ra bậc Lưỡng túc tôn,
Sao Phí vừa mọc ra khỏi rừng rậm khổ, Sao Phí vừa mọc thành tựu vô thượng Đạo, Sao Phí vừa mọc nhập Niết bàn.
Mồng tám Đức Phật sinh,
Mồng tám Đức Phật xuất gia, Mồng tám Đức Phật thành Đạo, Mồng tám Đức Phật nhập Niết bàn.
Tháng hai Đức Phật sinh,
Tháng hai Đức Phật xuất gia, Tháng hai Đức Phật thành Đạo, Tháng hai Đức Phật nhập Niết bàn.
Tháng hai sinh bậc Lưỡng túc tôn,
Tháng hai ra khỏi rừng rậm khổ, Tháng hai thành Vô thượng Đạo, Tháng tám nhập Niết bàn.
Lại nữa, luận Tát bà đa nói: “Vào ngày mồng tám tháng hai, lúc sao Phí vừa mọc, Đức Phật vừa thành Đẳng chánh giác. Cũng vào lúc ngày mồng tám tháng hai, lúc sao Phí vừa mọc, Đức Phật ra đời. vào ngày mồng tám tháng tám, lúc sao Phí vừa mọc, Đức Phật chuyển pháp luân. Vào ngày mồng tám tháng tám, lúc sao Phí vừa mọc, Đức Phật nhập Niết bàn.”
Thứ năm: PHẦN ĐỆ TỬ
Theo luận Trí độ nói: “Trưởng lão Ca diếp kết tập Tam tạng ở núi Kỳ xà quật để độ chúng sinh rồi theo Đức Phật nhập Niết bàn. Sáng sớm, ngài mang bát vào thành Vương xá khất thực xong, lên núi
Kỳ xà, bảo các đệ tử: “Hôm nay ta nhập Niết bàn vô dư.” Tất cả mọi người nghe nói đều hết sức lo buồn. Xế chiều, Ca diếp xuất Định, và an tọa giữa đại chúng, giảng pháp Vô thường khổ không vô ngã. Giảng đủ các pháp ấy xong, mang áo cà sa do Đức Phật truyền lại, cầm bát, đưa cao gậy, dáng như chim kim sí hiện hình, bay vọt lên không trung. Thi triển 18 phép biến hóa rồi đứng trên đỉnh núi Kỳ xà quật, giao phó y bát đầy đủ và nói rằng: “Hôm nay, thân ta thành kim cương bất hoại. Đến khi Đức Phật Di lặc thành Đạo, thân tướng ta sẽ xuất hiện lại.” Dứt lời, liền nhập vào tảng đá trên đỉnh núi, giống như nhập vào bùn mềm.
Xong xuôi, đá núi khép lại như cũ. Chúng sinh về sau thọ tám vạn bốn nghìn tuổi. Thân cao tám mươi thước. Thân Đức Phật Di lặc cao một trăm sáu mươi thước. Mặt Đức Phật ấy lớn hai mươi bốn thước. Hào quang tròn chiếu sáng mười dặm. Bấy giờ, khi chúng sinh nghe Đức
Phật ấy xuất thế, sẽ có vô lượng người xin theo xuất gia.”
Lại nữa, kinh Đại bi nói: “Nhờ nguyện lực bản thân hộ trì, Ca diếp ấy đứng vững giữa hư không, thị hiện đủ mọi phép thần thông biến hóa, rồi dùng hỏa lực của chính mình thiêu đốt bản thân. Xong xuôi, không thấy tro than hiện ra.”
Lại nữa, luận Tát bà đa nói: “Xá lợi phất và Mục kiền liên, vì không nỡ nhìn thấy cảnh Đức Phật nhập Niết bàn, nên đã nhập diệt từ trước. Bảy vạn vị La hán cũng đồng thời nhập diệt. Lúc ấy, tứ chúng đều hoảng hốt. Vì thế, Đức Phật đã dùng sức thnầ thông thị hiện thành hai vịđệ tử đứng đầu hai bên ngài. Nhờ thế, chúng sinh đều vui mừng, phiền não tiêu tan mất. Đức Phật bèn thuyết pháp, khiến cho tất cả đều được lợi lạc.”
Bộ thứ 15: KẾT TẬP
Gồm có hai phần: Thuật ý, Kết tập
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Xét rằng:
Chân đế huyền vi, Pháp tính tịch lặng. Tuy nhiên, muốn khai thông vạn vật, hóa độ thế gian, không có ngôn ngữ, sẽ khó thành tựu. Thế nên, Bất nhị dạy ngầm, hướng đến cứu cánh Không tính; Nhất âm diễn giảng, hợp với cơ địa vạn loài. Từ lúc đức Bổn sư Năng Nhân giáng thế, tại Lộc dã thuyết pháp lần đầu, ở Kim hà đúc kết lời cuối. Đem Khế kinh dạy dỗ kẻ sơ cơ, dùng Phương đẳng khuyến hóa bậc đại ngộ. Chánh pháp vi diệu chia thành mười hai Bộ, Pháp môn thiết yếu có đến tám muôn. Kịp đến khi đức Thiện Thệ thâu thần, chư Thánh theo thật tế kết tập kinh tạng. Trước tiên là Tứ a hàm, bắt đầu kết tập vào kinh là luật phần Ngũ bộ. Pháp bảo hình thành như thế, chúng sinh phải hết sức chú tâm, để nhổ phăng gốc khổ. Do đó, kim ngôn của đức Bổn sư, không thể để cho sai lạc!
Thứ hai: PHẦN KẾT TẬP
Phần này chia ra 4 tiết: Kết tập Đại thừa, Kết tập năm trăm người, Kết tập một ngàn người, Kết tập bảy trăm người.
Trong phần này, sẽ nói rộng các cuộc kết tập. Gồm có bốn thời kỳ: thời kỳ thứ nhất, theo hai bộ luận Trí độ và Kim cương tiên, đức Như Lai cùng Văn thù sư lợi và chư Phật mười phương kết tập Pháp tạng Đại thừa tại phía ngoài núi Thiết vi này. Thời kỳ thứ hai, theo kinh Bồ tát xử thai và luật Tứ phần, khi đức Như Lai vừa nhập diệt được bảy ngày, Đại Ca diếp và năm trăm vị La hán truyền lệnh đến mười phương thế giới, triệu tập tám ức tám nghìn Thiên chúng cùng đến kết tập Tam tạng. Thời kỳ thứ ba, theo luận Trí độ, sau khi đức Như Lai nhập diệt, vào đầu ngày rằm trong mùa Hạ an cư, Đại Ca diếp cùng một ngàn vị La hán kết tập Tam tạng trong thành Vương xá. Thời kỳ thứ tư, theo luật Tứ phần, trong khoảng một trăm năm sau khi đức Như Lai nhập diệt, vì Bạt xà tử lộng hành mười chuyện, Đại Ca diếp cùng bảy trăm vị La hán phải kết tập lại Tam tạng trong thành Vương xá. Bốn tiết sau đây, dựa theo kinh điển, sẽ lần lượt trình bày, ngõ hầu các bậc minh triết sau này khỏi phải chất chứa nhiều ức đoán. Tiết thứ nhất: Kết tập Đại thừa.
Theo hai bộ luận Đại Trí độ và Kim cương Tiên bảo rằng: “Trong cuộc kết tập, Văn thù sư lợi nói rõ đức Như Lai ở ngoài thế giới này, không đến các thế giới ở phương khác. Chư Phật mười phương đều đến thuyết pháp đông đủ. Cũng gọi là Cật kinh (chất vấn kinh điển). Sau cuộc kết tập, Văn thù sư lợi triệu tập vô lượng vô biên Bồ tát và A la hán. Các vị đều nói: “chính tôi nghe kinh ấy từ Đức Phật.” Tu bồ đề nói: “Tôi nghe kinh Kim cương Bát nhã từ Đức Phật.” Các bộ kinh có nhiều người cùng nghe thì ai nấy đều bảo: “Chính tôi nghe từ Đức Phật.” Do đó, không phải chỉ một mình A nan nghe kinh, nhưng A nan được nghe tất cả các kinh. Các đệ tử khác chỉ được nghe một số bộ kinh mà thôi.”
Lại nữa, theo kinh Niết bàn, bậc đại Thánh thuyết pháp vốn có ba Thừa, người truyền pháp cũng có ba vị. Thứ nhất là A nan đà, nghĩa là Hoan hỷ. Ngụ ý giữ gìn Pháp tạng Tiểu thừa. Thứ hai là A nan đà Bạt đà, nghĩa là Hoan hỷ Hiền. Ngụ ý giữ gìn Pháp tạng Đại thừa. Ba tên tuy khác nhau, nhưng xét bản chất thì chỉ là một. Thế nên, kinh Duy ma nói rằng: “Xá lợi phất hỏi Thiên nữ: “Đối với Ba thừa, nhà ngươi chú tâm cầu thừa nào?” Thiên nữ đáp: “Nếu chọn đường lối Tiểu thừa, tôi sẽ làm Thanh văn. Nếu chọn đường lối Trung thừa, tôi sẽ làm Duyên giác. Nếu chọn đường lối Đại thừa, tôi sẽ làm Bồ tát. Thế mới biết rằng A nan là bậc thấu hiểu thông suốt cả Đại Tiểu thừa. Trong ba vị trên đây, hai vị đầu, có vị tự mình trực tiếp nghe kinh, có vị được nghe nói lại. Thế nên, theo luận Trí độ, đến cuối cuộc kết tập, A nan bước lên giảng tòa nói kệ rằng:
Khi Phật mới thuyết pháp,
Bấy giờ, không nghe, thấy,
Lần lượt chuyển đến nghe,
Phật đến Ba la nại,
Thuyết pháp Tứ diệu đế, Cho năm vị Tỳ kheo.
Tiết thứ hai: Kết tập có năm trăm người.
Theo kinh Bồ tát xử thai nói: “Bấy giờ, Đức Phật nhập diệt đã được bảy ngày đêm. Đại Ca diếp bảo năm trăm vị La hán đánh kẻng tập họp đại chúng, nói rằng: “năm trăm người các ông đều đến các thế giới của chư Phật khắp mười phương, các vị La hán có sáu phép thần thông, mời tất cả về tụ họp ở chỗ hai cây Sa la tại cõi Diêm phù đề này. Đức Phật Thích ca mâu ni đã nhập diệt, đã xây nên tháp thất bảo. Lần kết tập này cốt để diễn dương chân tính của Pháp thân. Chư vị hãy kết tập để thâu thập pháp ngôn vi diệu.”
Khi ấy, năm trăm vị La hán vâng lời của Đại Ca diếp, trong khoảnh khắc ngắn ngủi như co duỗi tay, liền đến hà sa thế giới khắp mười phương, triệu tập được 8 ức 8 nghìn vị La hán cùng về tụ họp ở thế giới Ta bà để nghe nhận pháp chỉ.” Lại nữa, luật Tăng chi nói: “Bấy giờ, đại Ca diếp bảo: “các Tỳ kheo phải kết tập Pháp tạng, đừng để hủy diệt.” Mọi người muốn đến chỗ khác kết tập. Ca diếp bảo: “Nên ở tại thành Vương xá. Ở đó có đủ năm trăm đồ ngủ.” Mọi người đều đồng ý. Bèn sai A na luật giữ gìn xá lợi của Đức Phật, không cho chư Thiên lấy đi. Vào thời quá khứ, khi Đức Phật Ca diếp nhập diệt, các đệ tử chỉ biết âu sầu, không hay chư Thiên mang xá lợi đi mất, khiến cho tất cả thế gian không được thờ phụng. Bấy giờ, A nan không đi theo. Ca diếp bèn cùng một ngàn người đến núi Sát đế, trưng bày xá lợi của Đức Phật. Mục liên an vị xong, Ca diếp bắt đầu kết tập suốt 4 tháng. Cắt dứt mọi nhân duyên với bên ngoài. Còn thiếu hai người, chưa đủ số năm trăm. A na luật lại đến. Vẫn còn thiếu một người Ca diếp liền bảo Mục liên cùng đi. Ca diếp dặn đệ tử là trưởng lão la hán Lê bà đề: “Ông hãy lên Trời Tam thập tam gọi La hán Đề na xuống đây!” La hán Lề bà đề nghe tin Đức Phật nhập diệt, không nỡ nhìn thấy cảnh ngài ra đi, nên đã nhập nước rồi. Sau đó, lại sai đến Thiên cung Thi lợi sa sí, gọi La hán Kiêu phạm ba đề và đến Thiên cung Tỳ sa môn triệu La hán Tu mật đa, nhưng cả hai vị này đều đã nhập diệt.”
Lại nữa, kinh Bồ tát xử thai nói: “Bấy giờ, Ca diếp thấy đại chúng đã tụ tập xong, liền bảo Ưu bà ly: “ông hãy làm Duy na, gọi A nan xuống đây.” Ưu bà ly nhận lệnh, lập tức gọi A nan xuống. Phạt A nan về tội không cầu xin Đức Phật trụ thế thêm nữa. A nan hoang mang, trong lòng tự nghĩ: “Đức Phật nhập diệt chưa được bao lâu, đã làm nhục ta thế này! Bèn tư duy về Tứ đế, lập tức chứng được quả A la hán ngay trước đại chúng. Mọi bụi trần đều tiêu tan, rỡ ràng đại Ngộ. Các Thánh khen ngợi, chư Thiên ca tụng. Bấy giờ, mặt đất chấn động liên tục sáu lượt. Ca diếp khiến A nan bước lên bảo tọa thất bảo trên cao, bảo rằng: “Những gì Đức Phật thuyết pháp, dù một lời một chữ, ông chớ để thiếu sót! Bồ tát tạng kết tập một chỗ. Thanh văn tạng kết tập một chỗ, Giới luật tạng kết tập một chỗ. Bấy giờ, A nan bắt đầu đề xuất kinh điển. Thứ nhất là Thai hóa tạng. Thứ hai là Trung âm tạng. Thứ ba là Ma ha diễn phương đẳng tạng. Thứ tư là Giới luật tạng. Thứ năm là Thập trụ Bồ tát tạng. Thứ sáu là Tạp tạng. Thứ bảy là Kim cương tạng. Thứ tám là Phật tạng. Đấy là đầy đủ toàn thể kinh điển của Đức Phật Thích ca văn.
Bấy giờ, A nan cất tiếng nói rằng: “Ta nghe như thế này”, đồng thời nói ra chỗ Đức Phật thị hiện thuyết pháp. Ca diếp và tất cả Thánh chúng đều rơi lệ khóc lóc bi ai, không dằn lòng được. Thấm thoát già chết đến nơi, như huyễn hóa. Mới đây, vừa thấy Đức Phật, vậy mà đã nói: “Ta nghe!”
Lại nữa, luật Tứ phần nói: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhập Niết bàn trong rừng Sa la tại thành Câu thi nước Mạt la. Các đệ tử Mạt la tắm rửa xá lợi của ngài rồi cử hành nghi thức hỏa thiêu. Khi đã xong xuôi, Đại Ca diếp nhân đó, tập họp các Tỳ kheo, tuyên bố rằng: “Hôm nay chúng ta nên cùng nhau giảng luận pháp tỳ ni, đừng để những kẻ ngoại đạo có lời đàm tiếu phép tắc của Sa môn Cù đàm mỏng manh như mây khói. Khi Đức Thế Tôn của họ còn trụ thế thì cùng nhau học tập giới luật. Sau khi ngài nhập diệt đến nay, chẳng còn ai học tập nữa. Các vị trưởng lão nên lựa chọn những Tỳ kheo thông thái, sáng suốt, xứng đáng là những A la hán.” Lựa chọn được bốn trăm chín mươi chín vị đều là những A la hán có đầy đủ phẩm chất. Các Tỳ kheo bảo rằng: “Nên lựa chọn A nan vào trong số này.” Đại Ca diếp bảo: “Không được chọn A nan vào. Tại sao? Vì A nan còn yều, ghét, sợ sệt, sân si nên không được chọn vào.” Các Tỳ kheo lại bảo rằng: “A nan là thị giả của Đức Phật, thường đi theo bên cạnh ngài. Chính mình được thọ lãnh pháp ngữ của ngài. Chắc hẳn những chỗ hoài nghi đều đem hỏi lại nơi ngài. Vì thế, nên cho tham dự vào số ấy.” Đại Ca diếp bèn cho tham dự vào hàng ngũ ấy. Các vị Tỳ kheo đều suy nghĩ: “Chúng ta sẽ kết tập ở đâu có nhiều thức ăn, không thiếu đồ ngủ để giảng luận giới luật?” Tất cả đều phát biểu: “Duy thành Vương xá có nhiều phòng ốc thực phẩm và đồ ngủ. Nay chúng ta nên cùng nhau kết tập ở đó để giảng luận giới luật. Đại Ca diếp bèn công bố lệnh kết tập tại thành Vương xá. Khi ấy, A nan đang tĩnh tư trên đường đi, trong tâm suy nghĩ: “Giống như con nghé mới sinh, còn phải bú sữa và chạy theo năm trăm con trâu lớn. Ta nay cũng thế. Đã là trí giả có chủ trương còn phải đi theo năm trăm A la hán!” Các vị trưởng lão đến Tỳ xá ly. A nan cũng ở đó. Khi ấy, các vị trong đạo ngoài đời đều đến thăm hỏi A nan, tụ họp rất đông. Bấy giờ, có Tỳ kheo Bạt xà tử chứng được thần thông quảng đại, có Thiên nhã biết rõ tâm trí kẻ khác. Vị này muốn biết A nan còn dục chăng, liền quan sát và biết A nan chưa đạt mức vô dục. Cần phải giúp cho A nan sinh tâm chán nản xa lìa dục vọng, liền nói kệ rằng:
Tĩnh tọa dưới gốc cây,
Tâm niệm đến Niết bàn,
Tọa Thiền đừng phóng dật, Nói nhiều được gì đây?
A nan nghe nói kệ xong, liền ở riêng, tinh tiến không phóng túng, tịch lặng vô dục. Lúc ở ngoài trời, đang đi tản bộ giữa đêm khuya, bình minh sắp ló dạng, thân thể hết sức mỏi mệt. Vừa mới dựa mình nằm xuống, đầu chưa đụng gối, ngay lúc ấy, liền chứng được quả giải thoát vô lậu. Đó là pháp A nan chưa đắc. A nan chứng được quả A la hán xong, bèn nói kệ rằng:
Nghe đủ các Pháp bảo,
Thường hầu cận Thế tôn, Đoạn tuyệt xong sinh tử, Cù đàm nay muốn ngủ.
Khi đại Ca diếp tập họp các Tỳ kheo tăng đông đủ, liền tuyên bố kết tập giảng luận giới luật. Bấy giờ, A nan từ chỗ ngồi đứng lên, bày vai bên phải, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay bạch Đại Ca diếp rằng: “Chính tôi nghe từ Đức Phật và ghi nhớ gìn giữ lời ngài.” Rồi bắt đầu từ thiên thứ nhất cho đến tất cả mọi phẩm thứ của các bộ luật Tăng nhất đều kết tập thành Luật tạng. A nan kết tập tất cả những kinh dài thành Trường A hàm. Tất cả những kinh trung bình thành Trung a hàm. Từ một sự kiện đến mười sự kiện, từ 10 sự kiện đến mười một sự kiện thành Tăng nhất A hàm. Kết tập những sự kiện loạn tạp loại thành Tạp A hàm. Như kinh mới, kinh gốc cho đến kinh kệ đều kết tập thành Tạp tạng. Có vấn nạn, không vấn nạn, kèm theo những loại làm được tương đương như thế, kết thành Luận tạng. Lúc ấy bèn kết tập thành Tam tạng tại thành Vương xá. Vì có năm trăm vị A la hán cùng kết tập Luật tạng, nên mới gọi là Kết tập Luật tạng có năm trăm người. Tiết thứ ba: Kết tập một ngàn người.
Theo luận Trí độ nói: “Bấy giờ, Đức Phật đã nhập Niết bàn, đại Ca diếp suy nghĩ thế này: “Ta phải làm sao cho thời kỳ thứ ba dài vô số này, vốn khó gặp được Phật pháp, trụ thế lâu bền. Ngõ hầu chúng sinh mai sau có thể phụng trì? Suy nghĩ xong xuôi, liền đứng trên đỉnh núi Tu di, đánh kiền chùy đồng lên và nói kệ rằng: Đệ tử của Đức Phật,
Nên nhớ đến Đức Phật, Phải báo ơn Đức Phật, Đừng vội nhập Niết bàn.
Tiếng kiền chùy đồng ấy đưa âm thanh của Đại Ca diếp vang dội khắp Đại thiên thế giới. Tất cả đều nghe biết. Các đệ tử có thần thông cùng đến tụ họp. Đại Ca diếp lựa chọn được một ngàn người. Trừ A nan, tất cả đều là A la hán thông thạo nội điển, ngoại điển, mười tám loại kinh lớn của hàng ngũ ngoại đạo và có khả năng biện luận, hàng phục tà giáo. Đại Ca diếp bảo: “Trước đây, ta thường đi khất thực, hay gặp kẻ ngoại đạo cố ý đến vấn nạn, khiến phải bỏ dơ pháp sự. Nay thành Vương xá đã thường xuyên cúng dường đủ cho một ngàn người ăn. Không nên lấy nhiều hơn. Hãy báo cho vua A xà thế cung cấp thức ăn cho chúng ta. Hằng ngày mang đến đều dặn, không để sai khác.” Đại chúng an cư suốt trong ba tháng mùa Hạ này. Mười lăm ngày đầu kết tập giảng luận giới luật. Đại Ca diếp nhập Định xong, dùng Thiên nhãn quán sát đại chúng, xem ai còn phiền não chưa trừ, cần phải trục xuất. Chỉ có một mình A nan chưa sạch phiền não. bốn trăm chín mươi chín vị còn lại, mọi phiền não đã hết, thanh tịnh vô cấu. Đại Ca diếp liền xuất Định lấy tay kéo A nan ra khỏi đại chúng bảo rằng: “Hôm nay, đại chúng thanh tịnh kết tập kinh tạng. Phiền não của ông chưa hết không được ở đây.” Bấy giờ, A nan quá xấu hổ, buồn rầu khóc lóc và suy nghĩ rằng: “Suốt hai mươi lăm năm, ta theo hầu cận bên Đức Thế Tôn, chưa từng nghe những lời gây nên khổ não đến thé. Đức Phật thật là một bậc đại nhân, đại từ, đại nhẫn!” Rồi bạch Đại Ca diếp rằng: “Tôi có khả năng đắc Đạo đã lâu, chẳng qua giới luật không cho phép La hán hầu hạ cung phụng nên mới lưu lại kết tập phiền não, không đoạn trừ sạch mà thôi.” Đại Ca diếp bảo: “Ông cũng có tội. Đức Phật không muốn cho nữ giới xuất gia. Ông cứ năn nỉ cầu xin. Đức Phật phải xiêu lòng chấp thuận. Vì thế, Chánh pháp của ngài lưu truyền năm trăm rồi sẽ suy vi. Ông phải đi sám hối tội nhỏ này!” A nan bạch rằng: “Vì tôi thương xót Cù đàm di. Vả lại, Chư Phật ba đời đều có đủ Tứ chúng. Tại sao Đức Phật Thích ca của chúng ta lại không thể có được? Đại Ca diếp lại bảo: “Khi Đức Phật sắp nhập Niết bàn gần thành Câu di na kiệt, ngài bị đau lưng, gấp áo giữa kê lên nằm nghỉ. Ngài bảo ông: “Ta muốn uống nước.” Ông không chịu đi lấy. Đấy là một tội nhỏ. A nan trả lời: “Bấy giờ, có năm trăm chiếc xe chạy qua sông làm cho nước đục bẩn lên. Vì thế, tôi mới không đi lấy nước cho ngài.” Đại Ca diếp lại bảo: “Dù cho nước đục bẩn, nhưng Đức Phật có thần thông quảng đại, có thể biến nước biển lớn từ đục hóa thành trong kia mà! Tại sao ông không chịu đi lấy cho ngài? Đấy là tội của ông. Ông phải sám hối tội nhỏ này.” Đại Ca diếp lại bảo: “Đức Phật hỏi ông rằng, nếu có người được bốn phép thần thông, khéo tu, có thể thọ một kiếp hay gần một kiếp. Như Lai có bốn phép thần thông, khéo tu, có thể thọ một kiếp hay gần một kiếp chăng? Ông im lặng, không trả lời. Ngài hỏi ông đến ba lần, ông cố ý im lặng. Nếu ông trả lời, ngài có thể thọ một kiếp hay gần một kiếp. Vì ông, nên ngài đã sớm nhập Niết bàn. Ông phải đi sám hối tội nhỏ này.” A nan bạch rằng: “Do ma chướng che lấp tâm trí, nên tôi đã im lặng. Chẳng phải tôi có ác tâm không trả lời ngài.”
Đại Ca diếp lại bảo: “Ông xếp giúp áo cà sa cho Đức Phật, lấy chân dẫm lên. Đấy là tội của ông. Ông phải đi sám hối tội nhỏ này.” A nan bạch rằng: “Bấy giờ, có cơn gió lớn nổi lên. Không ai giữ dùm cho tôi. Khi gió thổi đến, áo rơi xuống chân tôi. Không phải tôi bất kính, cố ý dẫm chân lên áo của ngài.”
Đại Ca diếp lại bảo: “Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, ông đem tướng tốt âm vật giấu kín của ngài cho các người nữ xem. Thật đáng sỉ nhục vô cùng! Ông phải sám hối tội nhỏ này.” A nan bạch rằng: “Bấy giờ, tôi có suy nghĩ, nếu các người nữ thấy được tưóng tốt âm vật giấu kin của ngài, họ sẽ tự hổ thẹn thân phận người nữ của họ và mong có thân tướng của người nam, tu hành đủ loại căn lành như ngài. Vì thế, tôi đã đem cho các người nữ xem, chứ không làm điều vô sỉ phá giới.”
Đại Ca diếp bảo: “Ông có sáu loại tội nhỏ này, cần phải đi sám hối tất cả giữa đại chúng.” A nan bạch rằng: “Vâng! Xin theo lời chỉ dạy của Trưởng lão Đại Ca diếp và tăng chúng.” Ca diếp bèn quỳ dài, chắp tay, bày vai bên phải, lột dép da, thực hiện sáu phép sám hối tội nhỏ. Đại Ca diếp lấy tay kéo A nan ra khỏi tăng chúng, miệng bảo A nan rằng: “Khi nào trừ sạch phiền não, mới được đến gia nhập. Kết tập chưa hết, ông đừng đến đây!” Nói xong, liền tự tay đóng cửa lại. Bấy giờ, các vị La hán bàn luận rằng: “Ai là người có khả năng kết tập được Luật tạng?” Trưởng lão A nê lô đậu nói: “Xá lợi phất là Đức Phật thứ hai, có đệ tử tên Kiêu phạm ba đề (Ngưu si) ôn hòa nho nhã, sinh hoạt thanh nhàn, giữ tâm tịch lặng, hiểu rành Luật tạng. Hiện đang ở trên trời, trong vườn cây Thi lợi sa. Hãy sai sứ giả lên mời về đây.” Đại Ca diếp bảo Tỳ kheo bậc dưới: “Phẩm bậc của ông thích hợp làm sứ giả cho tăng chúng.” Vui mừng hớn hở nhận lãnh sứ mệnh của tăng chúng, Tỳ kheo bậc dưới ấy bạch Đại Ca diếp rằng: “Tôi đến đó trình bày chuyện gì?” Đại Ca diếp bảo: “Ông đến đó xong, hãy bạch với Kiêu phạm ba đề rằng, các La hán vô lậu Đại Ca diếp cùng kết tập tăng chúng tại Diêm phù đề vì có Phật sự. Ngài nên mau mau đến cho.” Tỳ kheo cấp thấp dập đầu đảnh lễ tăng chúng, từ bên pahỉ đi quanh ba vòng, rồi như chim kim sí bay vút lên hư không, đến ngay chỗ Kiêu phạm ba đề. Dập đầu đảnh lễ dưới chân, bạch lại cùng Kiêu phạm ba đề lời Đại Ca diếp đã dạy. Kiêu phạm ba đề lòng chợt sinh nghi, hỏi Tỳ kheo ấy: “Tăng chúng hòa thuận, sao đến gọi ta? Chẳng có tăng phá giới chăng?” Tỳ kheo ấy trả lời: “Đức Phật đã nhập diệt rồi!” Kiêu phạm ba đề bảo: “Đức Phật nhập diệt quá nhanh! Hai mắt thế gian đã mất! Vị thống tướng kế tiếp Đức Phật để chuyển pháp luân, Hòa thượng Xá Lợi Phất của ta hiện nay ở đâu?” Đáp rằng: “Đã nhập Niết bàn trước rồi.” Kiêu phạm ba đề bảo: “Các vị thống tướng đại sư đều đã ra đi. Biết làm sao đây! Ma ha mục liên hiện nay ở đâu?” Đáp rằng: “Vị này cũng đã nhập diệt.” Kiêu phạm ba đề bảo: “Phật pháp sắp tiêu tan. Chúng sinh thật đáng thương! Các vị đại sư đều đã ra đi.” Cứ thế, lần lượt hỏi thăm các vị La hán xong, Kiêu phạm ba đề bảo: “Ta đã mất các vị đại sư lìa dục. Các ngài đã cùng nhập diệt hết rồi. Ta không trở lại Diêm phù đề. Ở đây để nhập Niết bàn. Nói xong, thi triển đủ 18 phép thần thông biến hóa, từ nội tâm phát lửa tự thiêu, thành 4 dòng nước đổ xuống bên đại Ca diếp. Trong đó phát ra tiếng kệ nói rằng:
Kiều phạm ba đề dập đầu lễ,
Đệ nhất cao tăng của đại chúng, Nghe Phật nhập diệt, tôi đi theo, Giống voi chúa đi, voi con theo.
Bấy giờ, Tỳ kheo bậc dưới mang y bát trở về, đem mọi chuyện cáo bạch cùng chúng tăng. Khi ấy, A nan đang tư duy các pháp, mong sao trừ sạch kết tập. Đêm ấy, ngồi Thiền xong, đi tản bộ, tinh thành cầu Đạo. Chỉ hiềm trí tuệ của A nan nhiều mà Định lực ít, nên không thể lập tức thành Đạo. Đêm sau sắp tàn, A nan mệt mỏi quá, muốn nghỉ ngơi, bèn nằm xuống. Đầu chưa chạm gối, bỗng nhiên đại ngộ, như luồn điện chớp, khiến người trong tối thấy đường. Liền nhập Định kim cương, phá tan mọi núi phiền não. Vừa chứng được Lục thông, đang đêm A nan đến tăng đường lên tiếng gõ cửa. Đại Ca diếp hỏi ra: “Ai gõ cửa đấy?” Đáp: “là A nan tôi đây.” Đại Ca diếp bảo: “Ông đến làm gì?” A nan đáp: “Đêm nay, tôi đã trừ sạch mọi phiền não.” Đại Ca diếp bảo: “Không mở cửa cho ông đâu! Hãy theo lỗ khóa mà vào.” A nan đáp: “Cũng được.” Rồi lập tức dùng thần lực luồn theo lỗ khóa vào phòng, lễ bái dưới chân Đại Ca diếp xin sám hối. Đại Ca diếp chẳng trách móc gì nữa, lấy tay xoa lên đầu A nan bảo rằng: “Ta cố ý giúp cho ông được đắc Đạo. Xin ông chớ giận hờn. Ta cũng thế, dùng ông để tự chứng Đạo. Như lấy tay vẽ giữa không trung, chẳng thể đụng chạm vào đâu. Tâm của A la hán cũng thế, trong tất cả các pháp, phải đạt được cảnh giới không chấp trước vào pháp nào cả. Ta phục hồi cho ông lại phẩm bậc như cũ.” Bấy giờ, tăng chúng lại bàn bạc rằng: “Kiêu phạm ba đề đã nhập diệt. Liệu ai có thể kết tập kinh tạng?” Trưởng lão A nê lô đậu bảo: “Trưởng lão A nan này, trong hàng ngũ đệ tử của Đức Phật, thường hầu hạ cận kề. Nghe kinh nhớ giỏi. Đức Phật hay khen ngợi. Trưởng lão A nan nầy có thể kết tập kinh tạng.” Trưởng lão Đại Ca diếp xoa đầu A nan bảo rằng: “Đức Phật trăn trối với ông, khiến giữ gìn Pháp tạng. Ông nên báo đền công ơn của ngài. Ngài thuyết pháp lần đầu tiên ở đâu, các đệ tử có khả năng giử gìn Pháp tạng đều nhập diệt hết, chỉ còn lại một mình ông. Nay ông nên vâng theo tâm nguyện của ngài và thương xót chúng sinh, cố gắng kết tập Pháp tạng.” Liền đó, Đại Ca diếp nói kệ rằng:
Phật là sư tử chúa,
A nan là đệ tử,
Ngồi trên ngai sư tử,
Đại chúng không có Phật,
Đại chúng đức lớn lao,
Không Phật giảng thần uy, Như đêm không có trăng,
Bầu trời chẳng trong sáng, Các trưởng lão đều nói:
Ông, con Phật, nên giảng, Phật thuyết pháp ở đâu, Nên đem ra bố thí.
Bấy giờ, trưởng lão A nan dốc lòng, chắp tay, nhìn về chỗ Đức
Phật nhập Niết bàn, vừa nói kệ rằng:
Khi Phật mới thuyết pháp, Bấy giờ, ta chưa thấy, Dần dần chuyển đến nghe. Phật tại Ba la nại,
Giúp cho năm Tỳ kheo,
Lần đầu ban sữa pháp, Diễn giảng Tứ diệu đế, Là Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
A nhược, Kiều trần như,
Trước tiên được thấy Đạo, Và tám vạn Thiên chúng, Nghe xong, được thấy Đạo.
Tất cả một ngàn vị La hán ấy nghe xong lời kệ này, liền bay vút lên giữa hư không, cao ngang bảy ngọn cây Đa la, cùng cất tiếng nói rằng: “Hỡi ôi! Sức mạnh của Vô thường lớn lao đến thế! Chúng ta vừa tận mắt chứng kiến Đức Phật thuyết pháp, vậy mà nay đã nói” Ta nghe!
Rồi nói kệ rằng:
Ta thấy sắc tướng Phật,
Giống như núi vàng tía,
Sắc tướng trang nghiêm mất,
Duy chỉ danh hiệu còn,
Thế nên cần cố gắng, Thoát ly khỏi tam giới. Siêng năng gom công đức, Niết bàn rất an vui.
Bấy giờ, trưởng lão A nê lô đậu nói bài kệ này: Thế gian thật quá vô thường,
Như tàu chuối héo, như gương trăng tà, Tam giới công đức chứa chan,
Vô thường nối gió, tiêu tan chẳng còn. Bấy giờ, Đại Ca diếp lại nói kệ rằng: Sức vô thường rất lớn,
Hiền ngu, giàu nghèo, sang, Đạt Đạo và chưa đạt,
Tất cả đều chẳng thoát,
Không mồm mép. Châu báu,
Không lừa dối, cãi vả,
Lửa thiêu vật hữu,
Vô thường, chết, cũng thế!
Tiết thứ tư: Kết tập có bảy trăm người.
Luật Tứ phần nói: “Sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt khoảng một trăm năm, Tỳ kheo Bạt xà tử ở thành Tỳ xá ly tự ý làm mười điều, bảo rằng: “Các pháp thanh tịnh này đều được Đức Thế Tôn cho phép: 1/ Được phép thọ trai khi mặt trời đã xế khoảng hai ngón tay. 2/ Sau khi ăn ở làng xóm này xong, được phép sang làng xóm khác tiếp tục ăn uống. 3/ Được phép Bố tát ở một chùa khác không thuộc giáo phận của mình. 4/ Khi họp bàn quyết định tăng sự, dù tăng số tham dự chưa đủ, vẫn được phép cử hành yết ma rồi sẽ xin thừa nhận sau. 5/ Được phép tùy tiện theo các điều lệ. 6/ Sau khi ăn no, được phép dùng sữa bò chưa gạt bỏ chất béo. 7/ Được phép để dành muối trong đồ đựng bằng sừng cho hôm sau. 8/ Được phép uống nước dừa lên men rượu. 9/ Được phép may tọa cụ không có đường viền, lớn nhỏ tùy tiện. 10/ Được phép thọ nhận vàng bạc. Vào dịp Bố tát, thí chủ cúng dường vàng bạc xong, được phép chia đều cho nhau.” Vì chuyện này, đã có một Kết tập chọn lọc, đối chiếu, khảo xét từng điều, thậm chí tất cả mười điều, đều sai trái, không đúng giới luật, không phải là lời của Đức Phật dạy. Đã được bỏ thăm biểu quyết tại thành Tỳ xá ly. Vì kết tập này có bảy trăm vị A la hán cùng giảng giới luật, nên gọi là Kết tập giới luật có bảy trăm người.
Theo sách Cảm thông ký của luật sư Đạo Tuyên nói rằng: “Luật sư hỏi Thiên nhân: “Sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, nghi thức kết tập Pháp tạng được cử hành như thế nào?” Thiên nhân đáp: “Chỉ có bậc đại Thánh năng biến, năng hiện, theo cơ duyên giáng sinh, nhập diệt. Khi kết tập Tam tạng Thánh tích, do số lượng Tỳ kheo tham dự nhiều ít, nên kết tập Luật tạng, Luận tạng cũng chẳng giống nhau. Như trong hai Kết tập Luật tạng năm trăm người và bảy trăm người, đều suy tôn Đại Ca diếp làm bậc Thượng thủ. Trng Đại kết tập Luận tạng, tuyển chọn một ngàn người cao cấp, đều là những bậc Vô học thượng thừa. Đến khi kết tập xong xuôi, liền triệu tập đại chúng để trình bày lại thành quả kết tập. Vì có những kẻ bất đồng ý kiến, nên mới chia ra hai Bộ: những vị tuân theo đại Ca diếp gọi là Thượng tọa bộ. Số còn lại đông hơn gọi là Đại chúng bộ.” Theo kinh Văn thù vấn, bắt đầy chia ra hai Bộ, chính là từ sự kiện ấy. Kết tập Tam tạng lớn nhỏ, đều do A nan đề xuất ra. Chỗ cùng nhau kết tập là thành Vương xá. Nhưng căn cứ theo sự kiện Văn thù tụ tập đại chúng kết tập sơ lược Đại thừa, thì tại chính giữa phía ngoài hai ngọn núi Đại Thiết vi. Nay nói rõ phần nghi thức kết tập.
Khi Đức Phật nhập diệt, quàn lại một tháng để thờ cúng xá lợi rồi mới làm lễ hỏa thiêu (theo luật, chỉ quàn lại bảy ngày, nhưng vì còn chờ đại Ca diếp về). Hỏa thiêu xong trong ngày rồi tôn trí vào bảo tháp. Tất cả đại chúng đều đến tinh xá Kỳ hoàn ở thành Xá vệ. Tôn giả Ca diếp sai Tiểu Mục liên (có sáu vị cùng tên và đều có thần thông quảng đại) đánh chuông tập họp tại giới đàn. Bấy giờ, tăng chúng Thánh phàm của hằng trăm ức vạn quốc độ đều tề tựu đông đủ. Tôn giả Ca diếp bèn cáo bạch 4 phép Yết ma, phạt Tân đầu lô và A nan xong. A nan bước lên tòa cao, mặc áo ca sa bằng sợi gai của Đức Phật. Trước tiên, tuyên đọc kinh Di giáo, pháp ngôn giáo hóa ân cần, như Đức Phật hãy còn tại thế. Các vị Đại Bồ tát, A la hán, tất cả Tỳ kheo, Thiên long bát bộ nghe xong, đều đau buồn khóc lóc, không dằn lòng được.
Bấy giờ, Đại Ca diếp đứng lên khỏi chỗ, mặc áo cà sa bằng sợi gai, tay cầm tọa cụ, đến trước tòa cao trải xuống. Đảnh lễ A nan xong, từ bên phải đi quanh ba vòng rồi đứng lại. Thiên vương Đại Phạm tay cầm tràng phan thất bảo che cho A nan. Đế thích mang bàn thất bảo đặt trước A nan. A tu la chúa La hầu la bưng lò hương thất bảo đứng trước A nan. A nan nhận lấy, đặt lên trên bàn. Thiên vương Tha Hóa đưa ghế thất bảo đến đặt sau bàn thất bảo. Ma vương Ba tuần cầm phất trần thất bảo trao cho A nan, rồi cùng Đế thích đứng hầu hai bên. Bốn Thiên vương đều đứng đầu bốn góc tòa cao. 32 vị sứ giả sắp hàng phía sau Đại Ca diếp. Tất cả đều nghiêm cẩn quỳ xuống kính nghe. Khi ấy, Đại Ca diếp đảnh lễ A nan xong, lại theo bên phải đi quanh ba vòng, đến trước mặt thỉnh an, giống như đối với Đức Phật không khác. Sau đó mới đặt câu hỏi như các như các kinh có nói. Mỗi một nghi thức đều theo đúng trong kinh. Bắt đầu như thế, cho đến phần cuối, đại chúng hoan hỷ tuân hành.
Bấy giờ, Đại Ca diếp lại hỏi rằng: “Trong giáo pháp của chư Phật thời quá khứ đều được chia thành từng Bộ để diễn giảng. Ông thường đến bên cạnh Đức Phật, hẳn phải nhận lời chỉ giáo?” A nan đáp rằng: “Tôi vâng lời dạy của Đức Phật: “Chúng sinh vào thời mạt pháp, kết tập phiền não nặng nề, không hiểu được giáo lý của ta, nên không thể chia thành từng bộ để diễn giảng. Ông phải chia thành chương để thuyết pháp. Hoặc mười chương, năm chương, tùy tiện xếp đặt, sao cho những kẻ độn căn hiểu được dễ dàng giáo lý của ta.”
Đại Ca diếp lại hỏi: “Khi Đức Phật còn tại thế, có bảo Ưu ba ly và Ca diếp ấy vào trong tòa bảo lâu phía Đông tinh xá Kỳ hoàn, xem xét Luật tạng của chư Phật thời quá khứ và các bản khác nhau. Nay ta muốn kết tập, nên theo lời chư Phật thời xưa hay theo lời chư Phật thời hiện tại?” A nan đáp rằng: “Ta nghe Đức Phật nói: “Hãy bảo lại với Ca diếp rằng, nếu muốn kết tập Luật tạng, phải chia thành năm bộ. Luật tạng của chư Phật ngày xưa nói ra, chỉ có một bộ, chứ không phải là hai. Chúng sinh hiện tại phúc mỏng, nên phải nói thành năm bộ. Sau khi ta nhập diệt, vô luận kẻ trí người ngu, phải chia giới luật của ta thành năm bộ, 10 bộ thậm chí năm trăm bộ. Dù ý vị đạm bạc, nhưng vẫn còn là Chánh pháp của ta.”
Bấy giờ, Đức Phật bảo Bốn Thiên vương: “Ông cúng dường mã não cho ta.” Lại bảo Đế thích: “Ông cúng dường vàng bạc cho ta.” Lại bảo Ma vương Phạm vương: “Ông cúng dường thợ Trời cho ta.” Lại bảo các Long vương Tu cát và A tu la chúa La hầu: “Các ông cúng dường những loại ngọc quý Minh nguyệt và Ma ni cho ta để làm đèn thắp sáng bảo tháp.” Các Thiên vương Long vương vâng lời, đều dâng tặng đủ. Đức Phật thọ nhận xong, vận dụng thần lực của ngài, chỉ trong khoảnh khắc một niệm, các bảo tháp đều được hoàn thành. Mặt đất chấn động sáu lần. Bảo tháp phóng hào quang lớn, từ núi Hương chiếu thẳng đến giới đàn, hóa thành đền đài vàng bạc. Trên đài là đỉnh, trong đó có hằng trăm ức Đức Phật thuyết pháp vi diệu cao xa, ca tụng công đức trì giới và chê bai những kẻ phá giới.
Đức Phật bảo A nan: “bảo tháp ở trên hiện đang ở tại núi Hương, nên khi ta nhập Niết bàn, có dặn dò Đế thích và Bốn Thiên vương rằng, khi ta đã nhập Niết bàn xong, hãy mang bảo tháp đến ngoài rừng phía Nam giới đàn, tôn trí chín mươi ngày, đợi đến khi Ca diếp kết tập xong xuôi. Trước tiên, sai Ca diếp chép thành bản gốc Tam tạng giáo pháp. Sau đó, sai vua A xà thế sao lại thành năm bản. Lấy ấn vàng ròng và ấn bạc trắng của ta đóng lên bản gốc của Ca diếp. Kế đó, đóng lên bản của Ma vương sao lại. Phạm vương sao lại ba bản, nên lấy ấn bạc trắng đóng lên. Đế thích sao lại bảy bản, nên lấy ấn vàng ròng đóng lên. Long vương Ta kiệt chép tám vạn bản kinh, đều nên lấy ấn tam sắc đóng lên rồi sau đem lưu hành ở cọi Diêm phù đề và ba Châu kia. Nhớ đóng ấn vào. Sau khi đã đóng ấn xong, đem ấn cất vào bình vàng, tôn trí tại phía Nam giới đàn, cốt giúp Ca diếp tập văn nghĩa Tam tạng giáo pháp sao cho thành tựu viên mãn và mong A nan nói kinh theo nhân duyên vấn nạn đừng bị quên sót. Vì hai sự kiện này, nên ta mới sai đem trấn giữ tại phía Nam giới đàn. Sau khi Ca diếp nhập định, Bốn Thiên vương và Đế thích mang bảo tháp và bình vàng tôn trí trên đỉnh núi Hương. Trải qua một trăm năm, Bốn Thiên vương và Đế thích hằng ngày nhớ đem Thiên nhạc đến cúng dường pháp bảo, để giúp những thần tiên có ngũ thông ở trong núi ấy, số lượng đông đến tám vạn, sẽ lần lượt làm tiểu vương tại cõi Diêm phù đề này, khiến cho những người không tín Chánh pháp trở thành có lòng tin, nên mới sai đem trấn giữ tại núi Hương. Hơn nữa, cũng để giúp vua A dục, buổi đầu không tin Chánh pháp của ta, sẽ xoay chuyển lại tà kiến ấy, sinh ra chánh kiến, xây nên tám vạn bảo tháp.
Đức Phật lại bảo Mục liên: “Ông lên đỉnh núi Tu di đánh chuông triệu tập các hóa Phật khắp mười phương của ta và các Bồ tát, Thanh văn khắp Đại thiên thế giới.” Đức Phật phóng hào quang, mặt đất chấn động. Chư Phật tề tựu đông đủ. Bấy giờ, Đức Phật đứng lên khỏi bảo tọa, cùng các vị hóa Phật chắp tay kính lễ cửa đền của bảo tháp. Cửa đền của bảo tháp liền mở ra. Trong bảo tháp bàng vàng ròng có tám vạn lầu đều bằng trân châu và bạc trắng đựng Kinh và Luật tạng của chư Phật. Trên nóc đền gắn châu ma ni lớn làm đèn chiếu sáng. Có sáu vị Tỳ kheo nhập Định tận diệt. Trong đền bạc trắng có nhiều bảo tọa sư tử bằng hoa sen thất bảo, số lượng nhiều đến 8 trăm vạn. Mỗi một bảo tọa đều có chữ Phật, các Thanh văn và Bát bộ Thiên long hộ pháp. Lại có năm mươi vị Tỳ kheo nhập Định tận diệt. Đức Phật bảo Phổ hiền: “Ông cầm lấy tù và bằng vàng ròng đến bên các Tỳ kheo thổi lên khúc ta xuất thế và báo tin ta nhập Niết bàn.” Phổ Hiền vâng lời thổi xong, Tỳ kheo ấy xuất Định tận diệt, hỏi Phổ Hiền: “Hiện nay, có Đức Phật nào xuất thế?” Đáp rằng: “Đức Phật Thích ca mâu ni hiện nay sắp nhập Niết bàn.” Tỳ kheo ấy liền cùng Phổ Hiền đến bên Đức Phật kính lễ, thỉnh an và đứng hầu một bên. Trong tháp có sáu Tỳ kheo bước lên bạch Đức Phật rằng: “Khi Đức Phật câu lưu tôn nhập Niết bàn, có dặn tôi ở trong tháp này chờ đợi Đức Phật Thích ca cho đến Đức Phật Lâu chí ra đời. Đức Phật ấy dạy tôi rằng, khi Đức Phật sau này ra đời, nhập diệt và kết tập Tam tạng, hãy mở đền, lấy ra một bản kinh và luật của ta. Trong hằng trăm ức quốc độ tại Đại thiên thế giới này của ta, thư pháp có sáu mươi bốn thể. Mỗi thể lấy một bản đem giáo cho Đức Phật ấy, dặn sau khi nhập diệt, kết tập Tam tạng xong, phải theo y bản kinh của ta, sao chép lại thật trang nghiêm. Lại nữa, tùy theo thứ thể của các nước sử dụng khác nhau, nhưng văn tự được lưu truyền đều có thể dùng được. Chỉ trừ các thừ da, xương và đất, không được ghi chép. Ngoài ra, các loại lá, giấy lụa, quý kim, sắt đá đều có thể dùng đến. Đức Phật ấy khiến tôi nhập định, giữ gìn kim tượng và sai tôi giao phó lại cho Đức Thế Tôn sau khi nhập Niết bàn, Ca diếp kết tập Tam tạng xong xuôi, đem lưu hành khắp mọi quốc độ.
Đức Phật bảo Long vương Ta kiệt và Bốn Thiên vương: “Các ông cúng dường cho ta các loại trân châu, ma ni và vàng bạc. Ta sắp tạo nên đền đài dựng kinh tượng của chư Phật đời trước.” Bấy giờ, Thiên long bát bộ lập tức dâng tặng. Đức Phật thọ lãnh xong, liền vận dụng thần lực, chỉ trong khoảnh khắc một bửa ăn, đã hoàn thành tất cả điện đài trân châu và lầu đền vàng bạc trong bảo tháp. Mỗi thứ có tám vạn tòa đựng kinh tượng đời trước. Đức Phật lại bảo các vị hóa Phật: “Mỗi vị các ông đều cúng dường cho ta một bảo tháp và một đền vàng bạc để trấn giữ di giáo của ta trong Đại thiên thế giới đừng bị phá hủy.” Chư Phật nghe xong, đều hoan hỷ dâng tặng. Lại được hằng trăm ức vạn Đức Phật cùng phóng hào quang từ miệng, tất cả đều rất hoan hỷ. Đức Phật lại bảo các Bồ tát: “Khéo léo duy trì bảo vệ đền đài bảo tháp của ta. Phiên dịch kinh điển, phải y theo bản văn trong đền tháp để lưu hành.” Tất cả đền đài bảo tháp ấy đều ở tại đỉnh núi Hương. Khi Đức Phật nhập Niết bàn, có dạy ta và La vân ở đó trụ trì, sau này, nhằm đời hung ác, đem ra giáo hóa chúng sinh, khiến đều được thoát khổ. Xong xuôi, đem lên tôn trí trong vườn Hona hỷ ở Thiên cung Đế thích, đến khi Ma vương đến bảo tháp cúng dường suốt năm trăm năm. Sau đó, Chánh pháp sẽ lưu hành khắp các nước cho đến khi bị hủy diệt. Bảo tháp cũng bay lên Thiên cung Đâu suất Di lặc thấy bảo tháp bay đến, biết rằng Chánh pháp của ta đã bị hủy diệt, liền phóng hào quang to lớn chiếu diệu khắp địa ngục. Về sau, gặp Phật Lâu chí ra đời, tất cả tội nhân ở đấy đều được giải thoát. Qua khỏi thời kỳ ấy, bảo tháp sẽ từ Thiên cung Đâu suất bay xuống long cung của Ta kiệt. Còn các bảo tháp và điện đền do Đức Phật tạo nên, được giáo phó cho Văn thù, Phổ hiền và Quán âm mang đi khắp Đại thiên thế giới. Mỗi nước tôn trí một bảo tháp vàng ròng và một đền bạc trắng giống như ở bên Trung Quốc vậy. Bấy giờ, Văn thù mang bảo tháp và đền sang tôn trí bên động Kim cương tại núi Thnah lương và được lưu hành đến hiện tại. Sai các Bồ tát nói trên đưa kinh tượng cho các vị ấy giữ gìn dễ dàng lưu hành cho đến khi Chánh pháp của ta bị hủy diệt, sẽ nhờ Long vương Ta kiệt thâu thập bảo tháp, đền đài mang về Long cung ở dưới biển lớn.
Lại hỏi: “Tất cả Kinh Tạng đã kết tập, nên tôn trí ở nơi nào? Nay ta muốn kết tập, nên kết tập sâu rộng hay kết tập sơ lược? Xin ông lần lượt giải thích dùm cho.” Đáp: “Ta nghe Đức Phật bảo rằng, dặn lại Ca diếp kết tập sâu rộng. Ngài lại bảo, dặn Văn thù đến chỗ các Bồ tát cư trụ tại núi Thiết vi, chín cõi ấy chỉ có tám vạn người, nên kết tập sơ lược. Dặn lại A xà thế sao thành năm bản và Đế thích cùng Thiên vương Đại Phạm nên hổ trợ cho A xà thế chép lại kinh Di giáo của ta. Bản kết tập của Ca diếp, nên đem tôn trí trong động Tu la.” Lại hỏi: “Khi Đức Phật còn tại thế, ta có nghe từ ngài rằng, nếu kết tập xong, đem Tam tạng giáo pháp của ta giao phó cho Long vương Ta kiệt. Nay nghe ông nói, tại sao khác với ta nghe trước đây?” Đáp: “Ta nghe Đức Phật bảo, kết tập Tam tạng trong động Tu la. Trải qua hai mươi năm, đợi Văn thù kết tập xong xuôi, mới đem giao phó cho Long vương Ta kiệt.” Lại hỏi: “Tại tinh xá Kỳ hoàn có hình tượng các vị Phật thời xưa, Tam tạng giáo pháp viết hai mặt và các pháp khí thờ tự, phải đem giao phó cho ai?” Đáp: “Nhân duyên của chuyện này, kinh Kỳ hoàn tinh xá đồ đều có nói đủ. Mỗi thứ đều có chỗ để giao phó, không cần nói ra đây thêm phiền phức.” Lại hỏi: “Ta nghe từ Đức Phật: “Sau khi nhập diệt, tất cả Luật tạng đem ra truyền bá ở Diêm phù đề và ba Châu kia. Chúng sinh vì tham dục, nên kiến giải không đều. Tại hơn trăm ức quốc độ khác, cũng cho truyền bá.” Ta sắp kết tập. Nay ở trước Trời người, ông nên giải đáp dùm ta.” Đáp: “Ta vâng lời Đức Phật dạy: “Sau khi ta nhập diệt, ông bảo Ca diếp và Văn thù truyền bá Luật tạng khắp ba mươi hai nước thuộc cõi Diêm phù đề này. Chúng sinh ở đây đều có căn cơ to lớn, có thể thực hành được di giáo của Ca diếp. Hai trăm sáu mươi nước thuộ cõi Đông Phất bà đề và một trăm ba mươi nước thuộc cõi Tây Cù da ni đều thực hành được di giáo của Ca diếp. Quốc độ còn lại, chúng sinh mỏng manh phước, không hiểu được Chánh pháp, đừng truyền bá Luật tạng này. Sau khi Như Lai nhập diệt, trong khoảng bốn mươi năm, hãy đem lưu hành Nhị bộ khắp quốc độ này.” Lại hỏi: “Thế nào là giáo pháp Nhị bộ?” Đáp: “Ấy là luật Tứ phần và luật Thập tụng. bốn mươi năm sau, kéo dài ở nước này. Các nước như Trung Quốc, đáng gọi là nước quân tử, có căn cơ lanh lợi, có thể thực hành giáo pháp Tam bộ. Khắp bốn trăm lẻ ba quốc độ cùng chung một loại văn tự này, đều thực hành được giáo pháp Tam bộ.” Lại hỏi: “Thế nào là giáo pháp Tam bộ?” Đáp: “Thực hành giáo pháp Nhị bộ nói trên và thêm vào bộ Đại Tăng chi. Các nước như Cầu lưu ly và hai quốc độ kia, chỉ thực hành pháp Nhất bộ, ấy là bộ Tát bà đa.”
Dưới mái trong đại điện tại tinh xá Kỳ hoàn có bốn đền bạc. Trong hai đền có kinh tạng bằng vàng ròng, giấy bằng bạch ngọc. Còn lại hai đền, trong đó có Luật tạng, giấy bằng vàng ròng, chữ bằng bạch ngọc. Luật tạng do Long vương chép, Kinh tạng do Ma vương chép. Hai tạng này đều là kinh luật của chư Phật thời xưa, từ thời Tinh tú quá khứ. Hai tạng chép tay này đứng hàng đầu ở châu Diêm phù đề. Sau khi Đức Phật nhập diệt, Long vương ta kiệt mới mang về long cung thờ phụng. Lại nữa, vào thời Phật Ca diếp, có một người ở Trung Quốc chép Đại luật tạng và Kinh tạng. Kinh tạng ấy bằng giấy bạc chữ vàng và Luật tạng bằng giấy vàng chữ bạc. Đương thời, hai tạng ấy được chép tại chùa Phổ minh ở Kinh châu. Kinh tạng tôn trí trên hoa sen trong phía Đông nam đền. Luật tạng tôn trí trên lá sen trong phía Tây nam đền. Được thờ phụng trang nghiêm, không thể tả hết. Thư pháp trong hằng trăm ức quốc độ, sánh cùng hai tạng này, dù đến bọn họ Chung, Trương, Vương, Vệ, cũng chẳng đủ khả năng bì kịp. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, Thánh nhân các nước đến thăm, nagì thường lấy kinh luật này cho xem. Sau khi ngài nhập diệt, Văn thù sư lợi thu thập kinh luật này đem về tôn trí tại động Kim cương trong núi Thanh lương. Lại nữa, trong đền còn có sách chép luật nghi do chư Phật thời xưa nói ra, gồm có ba vạn tám nghìn môn. Nếu đem sánh với thư pháp chân phương trong hằng trăm ức quốc độ, đáng xếp hàng đầu.
Hoàng tử thứ ba của Nam Thiên vương là Trương Dư soạn sách Kỳ hoàn đồ gồm một trăm quyển. Hoàng tử thứ mười sáu của Bắc Thiên vương viết sách Ngũ tinh xá ký gồm năm trăm quyển. Hiện tại đều giữ trên Trời Tụng rằng:
Mừng bậc Đại giác,
Lồng lộng thần công, Tứ Thiền Vô tướng, Tam đạt đều Không. Nghìn Phật kỳ bí, Cùng trí, chung lòng, Hiển linh giáng thế, Diễn thuyết khai thông. Hiền
kiếp có bốn, Ba vị còn trông,
Nối dõi là bảy,
Thừa kế nghiêm cung.
Thuyết pháp non Thứu,
An lạc Phạm cung,
Tám tướng thành Đạo, Vạn đức viên dung.
Trời người hưởng phúc,
Ác dẹp, thiện dương, Chúng sinh nhờ cậy, Công đức vô cùng!
NHÂN DUYÊN CẢM ỨNG
Trích dẫn sơ lược 12 chuyện linh nghiệm:
1. Sách Châu thư chép thời điểm Đức Phật giáng sinh. 2/ Sách Châu thư chép thời điểm Đức Phật nhập diệt. 3/ Sách sử chép Đức Phật là bậc đại Thánh. 4/ Thời vua Hiếu Vũ đế đời Tiền Hán đã khai thông Phật giáo. 5/ Thời vua Ai đế đời Tiền Hán đã thực hành trai giới. 6/ Thời Tần Tủy Hoàng cũng đã có Phật giáo du nhập. 7/ Sách Giao chí đời Hậu Hán chép Đức Phật là bậc đại Thánh. 8/ Thời vua Hán Minh đế đời Hậu Hán, Tam bảo đã truyền bá đầy đủ. 9/ Thời Tây Tấn, biển nổi lên hai tượng Phật Duy vệ và Ca diếp. 10/ Thời vua Văn Tuyên đời Tề được hai răng của Đức Phật. 11/ Sa môn Thích Trí Khải ở Thiên thai đời Tùy thấy được ba bậc thang quý. 12/ Sa môn Thích Đàm Vinh ở Lô châu đời Đường thấy Thất Phật hiện ra.
Xét rằng:
Bậc chí nhân đáp ứng nguyện cầu, theo thế sự hưng vong, chìm nổi. Từ tâm hóa độ chẳng phân cương giới, há chấp trước sắc tướng dạy dỗ quần sinh? Đến nỗi, nghe cùng giải khác, nói trắng hiểu đen! Do đó, đăng bảo vị để siêu thăng, dọn đường mê mà giáng hạ. Toàn thân, nát thân chỉ là diệu dụng; tạo tháp, phát tháp cốt tỏ thần uy. Hào quang chiếu diệu khiến tà kiến tiêu tan, linh tích hiển dương để sâu thêm tín phục.
Từ khi suối tháp cuồn cuộn chảy về Đông, ánh Đạo huy hoàng bừng sáng ở Tây Vức, cao hiền hội tụ, linh ứng dẫy đầy. Thế nên, Dục vương dựng tháp, bắt đầu từ thuở Tây Châu, từ phụ tượng hình, hưng thịnh dưới thời Đông Hán. Các đời kế tiếp, tô điểm càng nhiều. Mới hay, chẳng phải Thiên Trúc độc tôn Thánh giáo. Vì vậy, kinh nói: Chánh pháp về sau truyền khắp. Trước hết, ở tại Bắc phương, sang tới Đông độ, đến giữa thì hết.”
Nay tạm liệt kê những điều mắt thấy tai nghe về linh tích của Tam bảo ở Trung Quốc, từ thời Hán Minh đế đến này và đem ra thuật lại mấy phần. Hãy còn vô số sự tích thần kỳ chép đủ trong các truyện lục.
1/ Xét sách Châu thư dị ký chép: “Châu Chiêu vương năm thứ
24, (Giáp dần 607 trước công nguyên) ngày mồng tám tháng tư, sông suối, ao hồ bỗng dâng lớn, nước giếng tràn đầy. Núi non chấn động.
Có đạo hào quang ngũ sắc xuyên suốt bầu trời. Khắp cả phương Tây toàn một sắc xanh hồng. Thái tử Tô Do bảo: “Có bậc đại Thánh sinh ra ở phương Tây. Hơn một ngàn năm sau, tiếng tăm, giáo lý sẽ truyền bá sang đây.” Chiêu vương ban sắc khắc lời này lên bia đá để ghi nhớ và cho chôn trước đền thờ Trời ở Nam giao. Đây là thời điểm Đức Phật giáng sinh. Tướng quốc Lữ Hầu cưỡi xe tám ngựa đi tìm Đức Phật để khấn vái cúng ngài.
2/ Châu Mục vương năm thứ 53, Nhâm thân, vào sáng sớm ngày rằm tháng hai, gió lớn bỗng nhiên nổi lên, phá hại nhà cửa cây cối. Mặt đất chấn động. Trời hóa tối đen. 12 đạo cầu vồng màu trắng bạch hiện lên ở phương Tây. Thái sử Hỗ Đa bảo: “Thánh nhân ở phương Tây mất rồi!” Đây là điềm báo hiệu Đức Phật nhập diệt.”
3/ Lại xét Xuân thu, Lỗ Trang công năm thứ bảy, tháng bốn mùa Hạ (quý Tỵ, 688 trước công nguyên), tinh tú không mọc, đêm sáng như ban ngày. Đây là điềm chỉ cho thời điểm Đức Phật giáng sinh. Vốn do ngài có hai thân là chân thân và báo thân, hai trí là quyền và thật, Tam minh và Bát giải, Ngũ nhãn và Lục thông. Thần uy thật là không thể nghĩ bàn. Diệu chỉ gọi là Tâm hành xứ diệt. Đạo của ngài nhằm đưa bậc Thánh trí tới cõi Niết bàn. Sức của ngài cốt giúp kẻ phàm phu thoát khỏi biển khổ. Thật là lồng lộng nguy nga, chỉ có thể nói qua sơ lược. Thế nên, sách Liệt sử chép rằng: “Ngày xưa, thái tử nước Ngô là Bá Hy hỏi đức Khổng tử đúng là Thánh nhân chăng?” Đức Khổng tử trả lời: “Khâu này là người học rộng nhớ nhiều, không phải là Thánh nhân.” Lại hỏi: “Tam hoàng là Thánh nhân chăng?” Trả lời: “Tam hoàng giỏi sử dụng đức Trí và Dũng. Họ có phải là Thánh nhân chăng, Khâu này không thể biết được.” Lại hỏi: “Ngũ đế là Thánh nhân chăng? Trả lời: “Ngũ đế giỏi sử dụng đức Nhân và Tín. Họ có phải là Thánh nhân chăng, Khâu này không thể biết được.” Lại hỏi: “Tam vương là thành nhân chăng?” Trả lời: “Tam vương hành động hợp thời. Họ chính là Thánh nhân chăng, Khâu này không thể biết được.” Thái tử quá kinh ngạc, hỏi rằng: “Như vậy, ai mới là Thánh nhân?” Phu tử thay đổi hẳn thần sắc, trả lời: “Người bên phương Tây có bậc Thánh nhân. Không cai trị mà không hỗn loạn. Không nói mà có Tín Nghĩa. Không dạy dỗ mà biết hành động. Lồng lộng thay, người ta không thể nào quan niệm được! Nếu cho rằng Tam hoàng Ngũ đế là những bậc đại Thánh, há Khổng Khâu còn giấu diếm không chịu nói ra? Như thế sẽ mang tợi che đây bậc đại Thánh. Đắn đo cho cùng, phải suy tôn Đức Phật làm bậc đại Thánh.” Lại nữa, kinh Lão tử Tây thăng chép: “Thầy ta đi giáo hóa bên Thiên Trúc, thanh thản nhập Niết bàn.” Theo đó mà nói, có thể biết được ai hơn kém vậy.”
4/ Trong niên hiệu Nguyên thú đời vua Hiếu Vũ đế thời Tiền Hán, Hoắc Khử Bệnh đi dẹp Hung nô, đến Dịch lan, vượt núi Cư diên, bắt sống bọn vua Côn Da, Hưu Đồ. Lại còn thu được tượng người bằng vàng, cao khoảng hơn một trượng một thước. Đem về đến cung Cam tuyền, nhà vua cho là tượng bậc đại Thánh, thắp nhang lễ bái. Đến khi thông thương với Tây Vức, sai Trương Khiên đi sứ Tây Hạ. Lúc trở về, tâu rằng: “Các nước Quyên Độc, còn gọi là Thiên Trúc, bắt đầu nghe giáo pháp Phù Đồ.” Đây chính là thời kỳ Tượng giáo bắt đầu vậy.
5/ Niên hiệu Nguyên thọ đời vua Ai đế thời Tiền Hán, sai Cảnh Hiến đi sứ nước Đại Nguyệt Chi. Nhân đó, thỉnh kinh (trong bản văn là chữ tụng ( ), nếu chữ này đặt ở đây, không hợp với ngữ cảnh hơn chữ ( ), chắc do chép lầm về sau, nên dịch theo nghĩa chữ thỉnh) Phật mang về Trung Quốc. Bấy giờ, đã thực hành đôi chút phép trai giới của đạo Phật.
Đời vua Thành đế nhà Tiền Hán, tiểu truyện của Quang lộc đại phu Lưu Hướng làm Đô thủy sứ chép: “Hướng xem nhiều sách sử, thường thấy kinh Phật. Đến khi làm sách Liệt tiên truyện có nói: “Ta sưu tra tàng thư, thấy Thái sử mới soạn sách Liệt tiên đồ, sưu tầm chuyện thật của một trăm bốn mươi sáu nhân vật từ đời Hoàng đế đến nay. Trong đó có bảy mươi bốn nhân vật đã thấy được kinh Phật.” Căn cứ vào đó thì biết rõ trước các đời Châu Tần, đạo Phật đã sớm truyền bá tại Trung Quốc. Làm sao biết được? Nhờ căn cứ vào sách Liệt tiên đồ. Vì thế, trong Phật truyện chép rằng: “Sau khi Đức Phật nhập diệt 11sáu năm, nước Đông Thiên Trúc có vị Thiết luân vương cai trị cõi Diêm phù đề, thu thập xá lợi, động quỷ thần, điều xây dựng tám vạn bốn nghìn bảo tháp. Lãnh thổ chín châu này (Trung Quốc) đều có di tích. Đấy là các tháp do vua A dục xây dựng. Tháp này ở trong số đó. Châu Kính vương năm thứ hai mươi sáu, đinh mùi, trùng hưng lại tháp cũ. Trải qua mười hai đời vua, đến đời Tần Thủy hoàng năm thứ hai mươi bốn, tiêu hủy sách vở, các tháp của vua A dục vì thế, bị mất dấu.
6. Kiểm tra lại sách Đẳng kinh mục lục của Thích Đạo An và Châu Sĩ Hoành, có chép: “Đời Tần Thủy hoàng, có các Sa môn người nước ngoài Thích Lợi Phòng gồm mười bảy vị, mang kinh Phật đến giáo hóa. Thủy hoàng không tin theo, bèn bắt bỏ tù. Ban đêm, Hộ pháp Kim cương cao một trượng sáu xông vào phá ngục giải cứu. Thủy hoàng kinh sợ, phải cúi đầu tạ lỗi.” Theo đó mà nói, trước đời Tần Hán, đã có Phật pháp rồi. Truy tìm danh sách mười hai hiền giả do Đạo An ghi chép, thì cũng nằm trong số bảy mươi vị nói trên. Nay trong sách Liệt tiên truyện hiện còn bảy mươi hai vị. Xét kinh Văn thù bát nê hoàn, nói rằng: ”Sau khi Đức Phật nhập diệt bốn trăm năm mươi năm, Văn thù lên giữa núi Tuyết thuyết pháp cho các tiên nhân.” Lại nữa, xét truyện Tây Vức trong Địa lý chí nói: “Núi Tuyết chính là rặng núi Thông. Phía dưới có 36 nước. Trước đây có đến cống nhà Hán.” Rặng núi Thông dài dằng dặc. Phía Đông đến tận núi Chung Nam. Văn thù đến hóa độ các tiên nhân, chính là chỗ này. Suy nghiệm tường tận, lập luận của Lưu Hướng cũng có bằng chứng
7/ Sách Giao tự chí đời Hậu Hán chép: “Phật, tiếng Hán gọi là Giác, ý chí giác ngộ chúng sinh. Tóm tắt giáo lý, lấy tu sửa thiện tâm làm chính, không sát sinh, cốt giữ thanh tịnh. Kẻ siêng năng tu tập gọi là Sa môn, tiếng Hán là tức ác (dứt ác). Hủy dung nhan, cắt tóc, xuất gia thoát tục, cắt đứt tình dục để hướng đến thanh tịnh vô vi. Lại còn cho rằng người chết đi, nhưng tinh thần vẫn bất diệt. Sau đó lại đầu thai và làm thiện ác, kiếp sau đều có báo ứng. Chú trọng làm thiện tu Đạo để luyện tập tinh thần không ngừng, nhằm đạt đến mức Vô sinh mà thành Phật. Thân cao 1 trượng 6, óng ánh sắc vàng. Cổ đeo vòng hào quang sáng láng như vầng nhật nguyệt. Biến hóa vô lường, đến khắp mọi nơi, nên có khả năng cảm thông cùng muôn vật và cứu độ hết mọi chúng sinh. Kinh sách có mấy nghìn quyển, lấy hư vô làm tôn chỉ. Bao trùm lớn nhỏ, tóm gom tất cả. Khéo dùng lời lẽ tuyệt diệu mênh mông, cốt đưa đến trọng tâm nhất thể. Thuyết minh cái vượt ngoài nhận thức, quy hết về nơi áo diệu khó lường. Thế nên, các bậc vương hầu khanh tướng xem đến chỗ báo ứng sống chết, mấy ai không khỏi giật mình tự trách?”
8/ Các sách khác, như Pháp bản nội truyện chép: “Đời vua Minh đế nhà Hậu Hán, ở chùa Bạch mã tại lạc dương có Nhiếp ma đằng, người nước Trung Thiên Trúc. Dáng mạo hiền hòa, thông hiểu kinh điển Đại thừa. Thường lấy việc hành hóa phương xa làm nhiệm vụ. Niên hiệu Vĩnh bình năm thứ 3, vua Minh đế ban đêm nằm mộng thấy người vàng cưỡi hư không bay đến, bèn thiết đại triều để giải giấc mơ. Bác sĩ Phó Nghị đáp rằng: “Tôi nghe bên Tây Vức có bậc thần nhân gọi là Phật. Người bệ hạ mơ thấy phải chăng là Phật?” Nhà vua cho là phải, liền sai bọn Trung lang Sái Âm và đệ tử là bác sĩ Tần Cảnh đi sứ sang Thiên Trúc dò tìm Phật pháp. Ở bên ấy, bọn Sái Âm gặp được Ma đằng, bèn mời sang Trung Quốc. Ma đằng phát nguyện hoằng pháp, không sợ gian khổ, xông pha lặn lội giữa sa mạc gió cát, đi đến Lạc dương. Vua Minh đế khen thưởng rất long trọng, thân hành ra nghinh đón tận ngoài cửa thành phía Tây. Sai lập tinh xá cho ở. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc có Sa môn.
Lại nữa, vua Hán Minh đế triệu được pháp sư Ma đằng từ đất xa xôi đến tại Lạc dương. Cho lập chùa Bạch mã ở ngoài cửa Ung môn phía Tây kinh thành. Đây là ngồi chùa đầu tiên của Trung Quốc. Tương truyền có vị quốc vương ở nước ngoài hay phá hủy các chùa, chỉ còn chùa Chiêu đề chưa kịp phá. Ban đêm, có con ngựa trắng chạy vòng quanh tháp buồn bả hí vang. Có người đem báo lên. Nhà vua liền đình chỉ việc phá hoại. Nhân đó mới đổi tên Chiêu đề thành Bạch mã. Do đó, các chùa đặt tên, phần nhiều chọn theo lệ này.
Lại nữa, chùa Bạch mã ở Lạc dương có Trúc Pháp lan là người Thiên Trúc, thổ lộ đã tụng mấy vạn chương kinh và làm giáo thọ cho đệ tử ở Thiên Trúc. Khi Sái Âm sang bên ấy, Pháp lan và Ma đằng có hẹn nhau đi hành hóa phương xa, bèn cùng sang Trung Quốc. Bị đồ chúng ngăn cản, Pháp lan đi bằng đường tắt qua Trung Quốc. Khi đến Lạc dương, ở chung với ma đằng. Chẳng bao lâu đã rành tiếng Trung Quốc, liền dịch kinh điển do Sái Âm thu thập từ Tây Vức. Ấy là năm bộ kinh: Thập địa, Đoạn, Kết, Phật bản hạnh và Tứ thập nhị chương. Về sau, khi dời đô bị cướp phá, bốn bộ thất lạc bản thảo, không được lưu truyền ở vùng giang tả. Hiện chỉ còn lại bộ Tứ thập nhị chương khoảng 2000 lời. Bộ còn lại này là bộ đầu tiên của kinh điển Trung Quốc. Về sau, Pháp lan mất tại Trung Quốc, tuổi thọ được hơn 60.
Lại nữa, vào thời Hán Minh đế, Sa môn Pháp lan người Thiên Trúc mang sang tượng vẽ Đức Phật Thích ca đang ngồi. Đây là họa phẩm thứ tư do họa sư Chiên đà của vua Ưu điền vẽ ra. Khi được mang đến Lạc dương, vua Minh đế liền sai họa sư vẽ lại, đem tôn trí trong đài Thanh lương và treo lên trên các tranh cũ ở Thiết lăng. Nay đều không còn. Đây là tượng Phật có trước tiên ở Trung Quốc (Nguỵ thư cũng nói rõ ý nghĩa: vào thời Hán Minh đế, Tam bảo bắt đầu du nhập vào Trung Quốc).
Ngày xưa, vua Hán Vũ đế cho đào ao Côn minh, bắt gặp lớp tro dưới đáy, liền đem hỏi Đông Phương Sóc. Sóc trả lời: “Chưa từng gặp, nên đem hỏi các Sa môn Tây Vức.” Về sau, khi Pháp lan đến, mọi người lại đem ra hỏi, Pháp lan bảo rằng: “Khi tận thế, hỏa tai thiêu cháy rụi tất cả. Đây là tro tàn còn sót lại.” Thấy lời Sóc nói có chứng nghiệm, rất nhiều người tín mộ Pháp lan.”
9/ Ngày xưa, vào niên hiệu Mẫn đế nguyên niên (313) đời Tây Tấn, có hai tượng đá Phật Duy vệ và Phật Ca diếp nổi trên mặt biển, trôi vào cửa sông Hỗ độc ở huyện Tùng giang thuộc đất Ngô. Từ xa, nhìn thấy hai hình người nổi lờ đờ trên mặt biển, ngư dân chẳng dám đến gần xem. Rước đồng cốt thì bảo là thần biển, thầy lễ thì bảo là Linh tiên. Hoặc gõ mõ xin rước, hoặc khăn áo cầu đảo thì sóng nổi, mù che, tượng ngược nước trôi ra xa. Tín đồ đạo Lão cho là Thiên sư, đến xin nghinh đón. Sóng gió lại nổi lên như trước. Châu Ưng ở Ngô huyện, nhà vẫn thờ phụng Chánh pháp, rước Bạch Ni tại chùa Đông linh, cùng mấy chục tín chủ trai giới thanh tịnh đến nghinh đón tượng. Liền đó, mây ta ïnh trời quang, gió ngừng sóng lặn. Tượng theo dòng nước trôi vào, xoay mình cho thấy chữ khắc. Mới đở lên thuyền, tượng nhẹ như lông. Khi đưa lên xe, lại nặng như núi. Bèn rước về tôn trí ở cổ tự Thông huyền tại Ngô quận. Nguồn gốc đầu đuôi, có ghi chép rõ ở bia cũ.
Đến niên hiệu Vĩnh minh thứ bảy đời nhà Nam Tề (489), lại có tảng đá quý nổi trên mặt biển, trôi vào đất Ngô. Chất liệu cứng chắc, sáng láng tươi đẹp. Gối sóng lướt thủy triều, nhẹ nhàng như thuyền gỗ bách. Bấy giờ, có chủ thư Pháp Nhượng, chính là tằng tôn của Châu Ưng đã vớt tượng đá trước đây, bị sai phái sang đất Ngô, bắt gặp tảng đá, liền đem dâng làm đài sen. Khi ấy, Tề Vũ đế vừa dựng bảo tháp Thiền linh, bảy tầng cao vút, hùng tráng tôn nghiêm. Gặp đá báu xa xôi trôi đến, thật hợp cơ duyên. Quần thần đều bàn, nên kính trọng hồng ân, tôn vinh pháp tướng. Nhà vua bèn sai bọn thợ đá Lôi Ty tạc thành tượng Phật Thích ca văn. Thân cao ba thước năm tấc. Chạm khắc đạt mức nhập thần, tô vẽ cực kỳ tinh xảo. Sắc tướng sống độn, xứng hợp âm linh.
Trộm nghĩ, tính đá vốn chìm, hiển linh nên nổi. Vượt biển đến Ngô, cách đời lại gặp. Tuy chế tác xưa nay có khác, nhưng đều quy về thất Phật như nhau. Người bắt được đá, cũng chính họ Châu. Hợp với âm linh, trước sau như một, nên mới nhắc lại chuyện xưa, cốt để trưng ra bằng chứng.
Hai pho tượng bắt gặp đời Tấn có dáng đứng, cao bảy thước. Trên lưng được khắc chữ. Tượng thứ nhất là Phật Duy vệ, tượng thứ hai là Phật Ca diếp. Chẳng biết thuộc đời nào, nhưng nét chữ rõ ràng. Được tôn trí tại chùa Thông nguyên ở Ngô Quận (nên nhớ hai tượng đá trên đây là hai tượng đá có trước tiên ở Trung Quốc). Tượng Phật bằng đá quý do vua Tề sai tạc, xưa kia được tôn trí ở chùa Thiền Linh.
10/ Vào đời vua Văn Tuyên nhà bắc Tề, có tiên sư Thống Thượng,
gia đình lập nghiệp ở Lương Châu. Năm lên 13 tuổi, phát nguyện sang Tây Vức. Vào tháng năm trong niên hiệu Nguyên huy thứ ba (475) mới từ kinh độ khởi hành. Năm năm đến nước Nhuế nhuế, rồi đến Vu điền. Khi ra đi, một vị tăng lấy từ mật thất một hộp bằng đồng, trao tận tay tiên sư, bảo rằng: “Trong này có xá lợi răng của Đức Phật, lớn hai tấc, dài ba tấc, hãy đem về phương Nam để rộng đường làm lợi ích.” Tiên sư hoan hỷ, đảnh lễ thọ nhận, tôn kính như thấy được Đức Phật. Vị tăng còn bảo: “Ta lấy được xá lợi này ở nước Ô triền hết sức gian nan. Còn có thêm một ấn đồng chạm mặt của quốc vương để đóng lên hộp này
” Sau đó, tiên sư nghe chư tăng bàn bạc: “Nước Ô triền mất xá lợi răng của Đức Phật. Không biết vị tăng đầy phước đức của nước nào sẽ thọ lãnh được?” Tiên sư nghe xong, hoan hỷ mừng thầm và càng tăng thêm lòng tôn kính xá lợi ấy. Liền đó, mang về Chung sơn. Suốt mười lăm năm, dù hàng đệ tử thân cận cũng không biết được chuyện ấy. Tiên sư chỉ kín đáo thổ lộcùng luật sư Pháp Dĩnh ở chùa Linh căn. Thành kính ân cần, kể ra lời chư tăng bàn bạc. Luật sư là một tăg sĩ ở Cưu tư, không thể nào biết được giả thật.
Bấy giờ, tư đồ Cánh Lăng vương Văn Tuyên tuổi nhỏ nhưng thông tuệ khác người. Lập chí tìm tòi huyền lý. Khẫn thành cầu nguyện, mau phát hiển linh. Vào ngày mồng tám tháng hai năm Vĩnh minh thứ bảy (489), trong pháp hội ở Tây phủ, mơ thấy Đức Phật từ phương Đông đi đến. Thần uy hiển hách, Văn Tuyên ngước theo hành lễ và đứng hầu cận. Bỗng thấy mũ đang đội dài thòng tận dưới mắt cá chân. Đức Phật nhìn xuống mĩm cười, nhỏ nước bọt trắng như tuyết đọng. Văn Tuyên đưa tay hứng lấy thì biến thành hạt ngọc. Sau đó, dời về phủ thái tử. Ngày hai mươi chín tháng sáu, lại nằm mơ đi đến Định lâm, gặp tiên sư lâm bệnh đang nằm, liền hỏi: “Sinh già bệnh chết, dù có bậc ngũ thông cũng không thoát khỏi. Ngoài chuyện gia phong nhật dụng, pháp sư còn tạo dựng thêm chút công đức gì chăng?” Đáp rằng: “Trong kho của bần tăng có báu vật linh thiêng vô giá. Xin đem giao phó lại. Ngài nên tự mình đi lấy.” Văn Tuyên theo lời, thân hành tìm kiếm. Thấy có hòm rương, liền lần lượt mở ra. Đa số là kinh tượng. Cuối cùng thấy một hộp nhỏ treo lơ lững trong hòm. Cầm ra mở xem, hào quang biến hiện phi thường. Mới cho là tượng, nhưng không phải tượng. Bảo không phải tượng, thì lại là tượng. Văn Tuyên tỉnh mộng, cho là điềm lành. Sáng mai, sai kẻ tay chân Dương Đàm đi làm sáng tỏ điềm mộng. Dương Đàm cho rằng trong kho của pháp sư có báu vật hy kỳ, nên đem tặng thái tử Văn Tuyên. Đang lúc vội vàng, tiê sư suy nghĩ Văn Tuyên muốn tìm kiếm châu báu thế gian, không nhớ đến xá lợi răng. Vì thế, tiên sư tìm cách đối đáp cho qua chuyện. Sau đó, thao thức suy nghĩ, đến nửa đêm mới chợt hiểu ra. Không thể nhờ người bẩm lại, tiên sư phải thân hành đến phủ, kể rõ ngọn ngành. Tiên sư bảo: “Bần đạo chỉ đem nói với một mình luật sư Pháp Dĩnh, lại không có ai hay. Nay thí chủ cảm ứng thông thần, rõ ràng chính xác. Đúng là nhân duyên huyền diệu không thể nghĩ bàn. Dấu tích đã hiện, bần tăng không dám để khuất lấp Thánh uy lâu hơn nữa, đến nỗi phế bỏ Phật sự. Nay kính dâng lên cúng dường.” Ba hôm sau, tiên sư tự mình đến phủ Đông cung. Văn Tuyên được xa lợi, chừng mười hôm sau lại mơ thấy xá lợi ở giữa không trung, hình dáng như sừng bò, dài hơn ba thước. Thần quang chiếu diệu sáng trưng, rọi lên tay phải. Giây lát, lại thấy một tượng bằng thiếc bạc. Cũng cao chừng ba thước, chớp mắt bào 3 lần: “Cực tốt!”
Tại Vu điền, tiên sư lại thưa được mười lăm hạt xá lợi, bèn đem phân chia khắp nơi. Khi bảo tháp Thiền linh ở chùa Chỉ viên được xây lên, tiên sưcũng phân ra cúng dường và tặng cho Văn Tuyên một hạt. Bấy giờ, tại Đông cung, Văn Tuyên dùng nước trong để thử giả thật. Hạt xá lợi nổi lên mặt bát, giây lát biến mất. Đạo tục gồm mấy chục người cố công kiếm tìm, khắp cả trong ngoài, tuyệt đối không thấy. Ai nấy mệt nhoài. Văn Tuyên thành tâm sám hối, giây lát lại hiện ra dưới đất. Hào quang vọt sáng, cao hơn một thước, rực rỡ huy hoàng. Mọi người đều thấy cùng tán thưởng. Còn lại hai hạt, tiên sư đựng mỗi hạt vào một hộp bạc, cho vào tráp, niêm phong gửi tặng Văn Tuyên. Về sau, khi đem kiểm nghiệm thì hạt xá lợi và hộp ấy đều biến mất. Gần ba năm sau, nhân mở hòm lấy xá lợi răng, bỗng nhiên lại thấy hạt xá lợi ấy vẫn ở trong tráp như cũ. Hai hạt xá lợi dài trước đó cùng với hạt ấy, thành ra ba hạt, cùng ở tại một chỗ, nhưng hộp bạc trước đây bỗng dưng biến mất. Sự thần hóa kỳ diệu không thể nào lường.
Trước đây, Văn Tuyên vốn nghe bên Tây Vức có xá lợi răng và tóc của Đức Phật, lòng vô cùng hâm mộ. Đến năm Kiến nguyên thứ 3
(481) bèn tâu lên phụ hoàng Cao đế phái Sa môn người nước ngoài là Đàm ma đa la đi tìm làm của cúng dường, để thỏa lòng kính ngưỡng. Lại chế ra tấm màn quý che lên, đưa Sa môn về tận Tây Vức. Thế rồi, mọi chuyện đình lại. Trong tâm Văn Tuyên bồn chồn như sắp được báu vật. Chẳng bao lâu, tiên sư lên kinh và quả nhiên thâu thập xá lợi linh ứng. Tấm màn quý ấy đem ra cúng dường xá lợi. Chuyện âm linh phù hợp, chẳng phải chỉ trong sớm chiều! Về sau, Văn Tuyên lên ngôi, tạo bảo đài để đựng màn quý, bảo tạng để đựng hộp xá lợi và dốc hết tâm lực kính cẩn phụng thờ. (Những chuyện trên đây rút từ các bội Pháp bản nội truyện, tạp sử và Cao tăng truyện).
11/ Đại sư Thích Trí Khải ở chùa Quốc thanh tại núi Thiên thai là Quốc sư Trí Giả đời Tùy. Vốn họ Trần, người Dĩnh xuyên. Đức cao đạo lớn, xưa nay ít ai sánh kịp. Thường thích ở chỗ núi non để tĩnh lự hành Thiền. Đạo đời sùng kính, vua tôi đều trọng vọng. Khi ngài mới đến Thiên thai thỉ trước đó, Thiền sư Định Quang người Thanh châu đã ở đây trên ba mươi năm. Thiền sư là một dị nhân, định tuệ đều thông. Vừa lên núi, ngài đến ra mắt Thiền sư, trình bày tâm nguyện. Thiền sư bảo: “Đại thiện tri thức còn nhớ trước đây ở trên núi, ta từng vẫy tay gọi nhau chăng?” Ngài vô cùng kinh dị, biết rằng đã có lúc gặp nhau trong mộng. Bấy giờ, nhằm tháng chín năm Thái kiến thứ bảy đời nhà Trần (575). Lại nghe tiếng chuông đổ dồn vang dội cả khe núi. Đại chúng đều lấy làm lạ. Thiền sư bảo: “Chuông cốt để triệu tập khách có nhân duyên hôm nay đến ở vậy.” ngài bèn chọn chỗ đất tốt tại đầu khe Loa phía Nam núi Phật lụng và phía Bắc nơi ấn cư của Thiền sư. Địa thế cao ráo, bằng phẳng, nước suối trong trẻo, thuận lợi cho sự cầu Đạo. Bèn lưu luyến dừng chân nghỉ lại. Bỗng có ba người, khăn đen áo đỏ, cầm sớ thỉnh cầu: “Nên ở đây hành Đạo.” Ngài liền dựng lên thảo am, trồng tùng có quả. Trng khoảng vài năm, tiếp tục phát triển, thành ra đường sá lưu thông khắp nơi. Thiền sư bảo rằng: “Hãy tạm ở yên chờ thời. Đến khi đất nước thanh bình, ba phương thống nhất, sẽ có bậc quý nhân giúp ngài lập chùa, đinệ đài đầy núi!” Bấy giờ, chẳng ai lường được lời ấy hư thực thế nào.
Sau đó, ngài một mình thực hành phép khổ hạnh trên chóp núi
Hoa đỉnh ở phía Bắc chùa. Gió lớn bứt cây, sấm sté nổ rền. Yêu quái nghìn bầy, biến hóa một hình trăm dáng. Phun lửa reo hò, đe dọa đủ cách, khó tả hết được. Ngài nén lòng nhẫn nhục, cuối cùng bọn chúng cũng đều biến mất. Rồi lại chịu thân tâm đau đớn như bị lửa thiêu. Rồi lại thấy cha mẹ đã chết hiện về, dập đầu trên gối, kêu rên khổ sở, xin hãy xót thương. Ngài điềm tĩnh giữ hạnh nhẫn nhục vững vàng như núi đá, khiến cho hai duyên mềm cứng khiêu khích đều bị tiêu diệt. Bỗng có vị thần tăng Tây Vức đến bảo rằng: “Chế ngự địch thủ, chiến thắng oán thù mới đáng gọi là dũng mãnh. Điều này sách vở ít ghi chép lại!”
Vua Tuyên đế nhà Trần ban chiếu rằng: “Thiền sư Phật pháp cao siêu, đương thời tôn kính. Dạy khắp Đạo tục, là biểu tượng của quốc gia. Xứng đáng cắt huỵên Thủy phong để sung vào chi phí. Tha thuế hai bộ để rảnh rang lo việc củi nước. Đổi huyện núi Thiên thai thành An lạc lịnh.”
Viên Tử Hùng, người quận Trần, sùng mộ Chánh pháp, mỗi mùa Hạ an cư, thường đến nghe giảng kinh Tĩnh danh. Bỗng thấy ba bậc thang báu từ trời hạ xuống, có vài chục vị tăng Ấn độ theo nấc thang bước xuống, vào điện hành lễ, tay cầm lò hương đi vòng quanh ngài ba lần rồi biến mất. Mọi người đều thấy, cùng nhau reo hò vang động núi non. Đạo hạnh của ngài đạt đến linh cảm, đại khái như thế, không thể nói hết.
Vào ngày hai mươi hai tháng mười một năm Khai hoàng thứ bảy đời nhà Tùy (587), ngài bỗng nhiên bảo các đệ tử: “Ta sắp đi đây.” Nói xong, ngồi ngay ngắn như nhập định rồi viên tịch ở trước tượng đá lớn ở núi Thiên thai, thọ sáu mươi bảy tuổi. Sau đó, ngài vẫn linh hiển rất nhiều. Tính đến cuối niên hiệu Nhân thọ, ngài đã hiện về chùa cũ tất cả bảy lần, chống tích trượng, mặc cà sa giống hệt thuở còn tại thế. Một lần ngài hiện về núi Phật lũng, bảo các đệ tử: “Sống giữa gia phong, tất cả đều ổn cả chứ?” Đại chúng đều thấy, bùi ngùi thỉnh an, một hồi lâu ngài mới biến mất.
12/ Sa môn Thích Đàm Vinh ở chùa Pháp trụ tại Lộ Châu đời Đường, vốn họ Trương, người Định châu. Thần sắc tôn nghiêm, Phạm hạnh thanh tịnh. Siêng năng Thiền quán, hóa độ rộng rải tùy duyên, không hề chấp trước. Hằng năm, đến các mùa Xuân Hạ, mở Pháp hội Phương đẳng tam muội. Các mùa Thu Đông, mở pháp hội tụng Thiền. Ngài bảo đại chúng: “Công đức của xá lợi vượt bực, biến hóa vô biên, không hạn chế nơi chốn. Nếu nghiệp khổ tiêu trừ, nhất tâm cầu nguyện, chắc chắn sẽ được toại nguyện.” Thế là trước mắt mỗi người đều đặt một bát nước, có thêm lò hương, chân thành suốt đêm cầu nguyện. Đến sáng, trong bát thâu được hơn bốn trăm viên xá lợi. Về sau, điện đường đang ở bỗng nhiên sụp đổ, nhưng khám thờ, tượng Phật và xá lợi bày ra sừng sững giữa sân, y nhiên như cũ không bị hư hao.
Đến năm Trinh Quan thứ bảy (633), các đệ tử giữ giới thanh tịnh như bọn Thường Ngưng Bảo xin lập Pháp đàn sám hối Phương đẳng ở chùa. Vào ngày mười bốn tháng bảy, Sa môn Tăng Định trong chùa, vốn giữ giới hạnh tinh nghiêm, thấy trong điện đường, hào quang ngũ sắc lớn lao, rành rành từ trên chiếu xuống. Trong đó có Thất Phật sắc tướng phi phàm, bào Sa môn Tăng Định rằng: “Ta là Phật thành tựu Đẳng chánh giác vô trước Tỳ bà thi. Vì nhà ngươi đã tiêu tan tội nghiệp, nên đnế chứng minh giúp, nhưng ta không pahỉ là bổn sư của nhà ngươi, nên không thể thọ ký dùm được.” Lần lượt sáu Đức Phật ấy đều nói như thế. Đức Phật cuối cùng bảo: “Ta là Phật Thích ca mâu ni, bổn sư của nhà ngươi. Do nhà ngươi đã hết tội, nên đến đây thọ ký. Đàm vinh là nhân duyên diệt tội của nhà ngươi. Trong thời hiền kiếp, tên là Phật Phổ Ninh. Thân nhà ngươi đã thanh tịnh, sau này sẽ thành Phật, hiệu là Phổ Minh.” Cảm ứng hiện thành điềm lành như thế, thật khó ngĩ bàn. Đến niên hiệu Trinh quan thứ mười ba (639) Sa môn Đàm Vinh viên tịch ở chùa Phật trụ, thọ tám mươi lăm tuổi. (Hai truyện trên đây rút từ sách Đường cao tăng truyện.)