Kính bạch quý Thầy cô! Kính thưa quý Phật tử!
Hôm nay, tôi xin chia sẻ với quý vị một câu chuyện được trích từ kinh Tạp thí dụ, trong Đại Chánh tạng, quyển 4, trang 526a13 b19.
Thuở xưa, có vị vua ở một nước lớn bị bệnh rất nặng, điều trị suốt mười hai năm mà vẫn không khỏi. Triều đình mời tất cả các lương y giỏi trong nước đến, nhưng bệnh tình của vua vẫn không có dấu hiệu khởi sắc.
Lúc đó, trong một nước nhỏ ở vùng biên địa, thuộc quyền cai quản của đại quốc ấy, có một vị lương y rất tinh thông y thuật, có khả năng đặc biệt chữa trị được mọi loại bệnh. Sau khi biết tin này, nhà vua liền hạ lệnh, truyền ông ta đến hoàng cung trị bệnh. Chỉ trong thời gian ngắn, bệnh lâu năm của vua đã dần dần thuyên giảm.
Nhà vua cảm niệm ân đức của vị lương y này nên nhiều lần phái sứ giả đến chỗ vua nước nhỏ, truyền đạt mệnh lệnh của nhà vua rằng: “Vị lương sư này đã trị lành bệnh của ta, lập được công lớn. Thế nên, hãy trọng thưởng cho ông ấy nhiều voi, ngựa, xe, bò, dê, ruộng đất, nhà cửa, tùy tùng và các món trang sức”.
Vị vua của nước nhỏ đó vâng theo mệnh lệnh của vua nước lớn, liền xây dựng lại cho vị lương y một ngôi nhà mới, lầu gác, lại ban cho vợ ông ta rất nhiều y phục, thức ăn, vàng bạc châu báu, nhiều món trang sức và voi, ngựa, bò, dê, v.v., tất cả đều đầy đủ.
Vị lương y luôn bên cạnh trị bệnh cho nhà vua, nhưng chưa bao giờ nghe thấy nhà vua nói với ông lời nào. Trong lòng ông ấy nghĩ rằng: “Mình đã tốn rất nhiều tinh lực và thời gian để trị bệnh cho nhà vua, bệnh tình đã chuyển biến tốt, không biết ngài ấy có ban thưởng hay báo đáp gì không?”.
Trải qua một thời gian nữa, sức khỏe của nhà vua dần bình phục, vị lương y đó muốn cáo biệt trở về quê. Nhà vua đồng ý và chuẩn bị cho ông ấy một con ngựa gầy và cỗ xe tồi tàn.
Lúc đó, vị lương y này vô cùng ngao ngán và hối hận, ông thầm nghĩ: “Ta đã hao phí rất nhiều tinh lực và công phu để trị lành bệnh cho nhà vua, nhưng ngài ấy lại không biết tri ân, báo đáp hay tiến cử, mà lại để cho ta trở về tay không”. Vì thế, cả đoạn đường về nhà, trong lòng ông ấy đầy âu sầu, than trách và oán hận.
Thế rồi, ngay lúc ông về đến quốc gia của mình thì trông thấy một đàn voi, ông ta liền hỏi người chăn voi:
- Đây là voi của nhà ai?
Người chăn voi đáp:
- Đây là voi của một vị lương y nào đó.
Ông ta hỏi tiếp:
- Vì sao vị ấy có được đàn voi này?
Người chăn voi đáp:
- Vì ông ta trị lành bệnh cho vua nước lớn, nên được ban thưởng.
Lương y đi tiếp, lại trông thấy một đàn ngựa, ông ta liền hỏi người chăn ngựa rằng:
- Đây là ngựa của nhà ai?
Người chăn ngựa đáp:
- Đây là ngựa của một vị lương y nào đó.
Ông ta lại đi tiếp thì thấy một đàn bò và dê, ông lại
hỏi người chăn bò và dê rằng:
- Số bò dê này là của ai?
Họ đáp:
- Đây là bò và dê của một vị lương y nào đó.
Ông ta tiếp tục đi, nhìn thấy ngôi nhà cũ của mình nay biến thành một ngôi nhà rộng lớn, khang trang, với nhiều lầu gác, khác hẳn với ngôi nhà cũ. Ông ta liền hỏi người gác cửa:
- Đây là nhà của ai?
Người gác cửa đáp:
- Đây là nhà của một vị lương y nào đó.
Ông ta bước vào nhà thì nhìn thấy một vị phu nhân dáng dấp mỹ miều, đoan trang xinh đẹp, khoát trên người nhiều lụa là gấm vóc lộng lẫy. Ông ta cảm thấy rất kì lạ nên hỏi:
- Vị phu nhân này là vợ của ai?
Đứa tớ gái đáp:
- Đây là vợ của một vị lương y nào đó.
Từ lúc nhìn thấy đàn voi, ngựa, bò, dê, cho đến bước vào nhà, thì ông ta biết rằng, tất cả đều do công của ông đã trị lành bệnh cho nhà vua, nên được đền đáp. Lúc đó, ông ta cảm thấy rất hối hận, lúc trị bệnh cho nhà vua, ông không dốc hết tâm lực nên nhận được phước đức không nhiều.
Sự khó khăn và chướng ngại của việc tu phước đức giống như bệnh tình của nhà vua. Vị lương y ví như người đang tu phước đức. Chữa bệnh cho nhà vua ví như những việc mà người đang tu tạo phước đức làm. Bệnh của vua được trị lành ví như việc tu phước đức đã thành tựu viên mãn. Nhà vua hạ lệnh ban thưởng voi, ngựa, nhà lớn v.v., đều là sự báo đáp do tích lũy phước đức mà có được.
Hầu hết, mọi người đều hy vọng sớm đạt được nguyện vọng của mình, nhưng lại thường suy tư, tại sao nguyện vọng của mình chưa thành hiện thực. Điều này cũng như người có lòng tin mỏng manh, buổi sáng mới tu tạo được chút ít phước đức, tối đến đã mong chờ có được sự báo đáp. Một khi rơi vào cảnh bệnh, già, chết thì cho rằng tu tạo thiện pháp không có thiện báo.
Có người sau khi chết được sanh lên cõi trời, đang lúc thân trung ấm còn chưa lên tới đó thì thấy được muôn vàn cảnh tượng tốt đẹp hiện bày. Giống như vị lương y chưa về đến nhà, dọc đường đã thấy voi, ngựa v.v.; sau khi thân trung ấm lên đến cõi trời và tái sanh, thấy được cảnh thiên đường lộng lẫy, trang nghiêm, lúc đó, họ mới hối hận không thôi. Họ tiếc nuối, tại sao lúc trước không tu tạo phước đức nhiều thêm nữa. Giống như vị lương y, sau khi thấy được ban thưởng bổng lộc, thì mới hối hận, sao lúc đầu không dốc lòng điều trị cho nhà vua!
Câu chuyện này nhắn nhủ chúng ta:
Vị lương y hối tiếc, vì nếu ban đầu tận tâm trị bệnh cho nhà vua thì nhận được phước đức nhiều hơn nữa! Có người bị bệnh thì lương y mới có thể phát huy sở trường của mình, cũng vậy, có người khốn khổ, thì chúng ta mới có cơ hội tu phước đức, cho nên phải cảm ơn họ. Lương y là dụ cho người tu phước đức, việc trị lành bệnh ví như phước đức đã thành tựu viên mãn.
Chúng ta làm việc gì, cũng đừng quá để ý là làm cho quốc gia, cha mẹ, công ty hay cho một ai đó. Thật ra, làm được một việc lành, thì phước đức đó thuộc về bản thân mình, người khác muốn lấy đi cũng không được.
Phước đức và phước báo không giống nhau. Phước đức là nhân, phước báo là quả. Muốn có được phước báo lớn, thì cần phải siêng năng tu tập ‘phước đức’. Ngược lại, nếu không tích lũy phước đức, cho dù có được phước báo lớn, thì sẽ cũng có ngày dùng hết!
Ngoài ra, những vị tu phước đức, mà trong tâm còn nhiều tạp niệm tham lam hay háo thắng, thì sẽ đạt được phước đức là pháp hữu lậu, không thanh tịnh. Vả lại, sau khi có phước báo thì chỉ bản thân hưởng thụ, hay cùng lắm là chia sẻ với bà con, bạn bè cùng chung hưởng mà thôi. Nhưng hàng Bồ tát thì khác, lúc tu tạo phước đức thì tâm các ngài thanh tịnh, không có tham sân si. Phước báo có được đều dùng để làm lợi ích cho chúng sanh. Đây là sự khác biệt giữa Bồ tát và phàm phu.
Đại trí độ luận nói:
Năm pháp ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, là để trồng các công đức, còn bát nhã ba la mật có công năng trừ bỏ tâm niệm chấp trước và tà kiến. Giống như có người trồng lúa, thì cũng có người diệt trừ cỏ dại, như vậy thì lúa mới sinh trưởng tốt và bội thu.
Ý nói: Tuy chúng ta tu phước đức thì có thể hưởng được phước báo, nhưng cần phải tu thêm trí huệ bát nhã, để phá trừ tà kiến và vọng niệm chấp trước. Chúng ta cần phải phước huệ song tu, như thế mới được.
Từ câu chuyện trên, mong mọi người cùng nhau cố gắng!
Lớp Giáo dục mở rộng Phước Nghiêm, ngày 26.03.2016