Theo tục nhân cầu và nguyện thường đi đôi với nhau và có cùng chung ý nghĩa, nên hợp thành danh từ cầu nguyện. Kỳ thật cầu và nguyện có ý nghĩa khác biệt, ta sẽ phân tích các sự khác biệt giữa hai từ này.
Cầu xin.
Khi xin một điều gì từ tha nhân thì đó là cầu, còn gọi là cầu xin. Phàm nói xin thường hàm nghĩa "cho mình" hơn là cho người.
Cầu xin là dựa vào tha lực, nên tâm cầu thuộc về yếu hèn vô lực. Những người bám trụ tâm này sẽ phải ăn xin một đời, nên tâm cầu là tâm cùng tử. Thế nhân thường coi khinh sự xin ăn của người nghèo khổ, nhưng ai cũng quên mất bản tính ăn xin của tự thân trong đời sống. Thật vậy con người có nhiều thứ làm ăn mày, họ ăn xin tình yêu, danh lợi, vật chất, quyền hành bằng sự lấy lòng, luồn cúi, a dua, dối trá bất kể thủ đoạn miễn sao được tha nhân ban bố thứ họ cầu xin. Nào phải chỉ có người nghèo ăn xin, kẻ giàu có cũng cầu xin với Phật trời hay quỷ thần để được thêm của cải dục lạc.
Người cầu xin cho bản thân tất nhiên chẳng bao giờ biết đến sự bố thí chia sẻ cho tha nhân, đơn giản chỉ vì đã xin tất có thấy dư đâu mà cho, như thế cầu xin đồng nghĩa với sự không thể làm cho chúng sinh được lợi lạc, vì vậy tâm cầu xin là chướng ngại lớn nhất cho Bồ tát đạo những người tu tập lục độ mà đại biểu là bố thí ba la mật đa. Do lẽ này muốn tu học Bồ tát đạo điều tiên quyết là phải phát tâm bồ đề, nguyện làm các việc nhiêu ích hữu tình, cho hơn là xin, giúp người hơn giúp mình. Bồ tát thường nguyện độ sinh, chúng sinh cầu được cứu độ, vì vậy Bồ tát là trưởng giả, chúng sinh là cùng tử.
Tâm cầu xin đã không thể khiến chúng sinh lợi lạc, tất nhiên sự cầu xin không thể mang lại công đức, có chăng cũng chỉ là thứ phúc báo vô thường, gọi là nhân thiên phúc báo. Thứ phúc này thoạt có rồi không như mũi tên bắn lên trời, hết lực sẽ lao trở lại mặt đất. Do không thông hiểu điều này nên phàm nhân vì cầu xin mới chịu làm phúc, thế nhưng tâm xin xỏ phúc này thực sự chẳng mang lại phúc đức đáng kể nào, bởi chung quy động lực làm phúc đều vì mình hơn là vì chúng sinh, do đó Tổ sư Đạt Ma phán Lương Vũ đế vị vua có biệt danh Phật tâm thiên tử không hề có công đức dù xây chùa tạo tháp rất nhiều nhưng chỉ để cầu phúc báo, thế mới biết công đức chỉ có trong tâm nguyện cứu khổ cứu nạn của Bồ tát tâm, nên Lục tổ Huệ Năng nói "công đức tại pháp thân trung", công đức ngay trong tự tính pháp thân sẵn có mà không do các hành động tu phúc không được thực hiện bằng tâm bồ đề. Kinh Hoa Nghiêm còn nhấn mạnh "ly bồ đề tâm, nhất thiết sở tác, giai thành ma nghiệp", bỏ tâm bồ đề làm bất cứ gì cũng thành ma nghiệp.
Nguyện hành.
Khi tha thiết muốn thực hiện điều gì cho mọi người thì gọi là phát nguyện, hàm ý nguyện làm thứ gì đó nên nguyện thường đi chung với hành, gọi là nguyện hành. Phàm nói nguyện hàm ý mong mỏi thực hiện một việc tốt lành cho tha nhân hơn là cho bản thân.
Trái với cầu là hoàn toàn dựa vào sự ban bố cứu giúp từ tha nhân hay quỷ thần, nên người cầu xin hoàn toàn vô lực, chỉ nằm chờ sung rụng; Nguyện là phát huy tự lực thực hiện điều mong muốn, nên nguyện là hùng lực, là sức mạnh duy nhất có thể đánh đổ mọi nghiệp. Những người phát tâm sẽ cả đời là trưởng giả, viễn ly nghiệp cùng tử, do vậy tâm phát nguyện không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho người tu bồ tát đạo mà đồng thời cũng chính là chỗ cho muôn loài nương nhờ, thế nên mọi công đức thù thắng vô lậu đều sinh ra từ tâm này. Vì lẽ này ngài Tỉnh Am nói "tu hành cấp vụ lập nguyện cư tiên", lập nguyện là việc tu hành cấp bách nhất cần phải tu. Tuy nhiên đại đa số tín đồ coi cầu xin là chuyện tu hành cấp bách và chính yếu nhất, đến độ chùa chiền đành phải phục tùng coi việc cúng bái cầu xin cho đồ chúng quan trọng hơn việc khai mở Phật tri kiến cho họ. Bất kỳ ai tìm đến với Phật giáo chỉ để cầu xin như kẻ cùng tử đều không sẵn lòng phát nguyện và điều này đi ngược lại với bản hoài cứu hộ chúng sinh của chư Phật.
Đức Phật và chư Bồ tát đều lập nguyện và giáo hóa chúng sinh phát nguyện, bởi lẽ người tu có lập nguyện độ sinh mới là phúc điền của chúng sinh, nếu không lập nguyện thì đúng nghĩa là kẻ ăn mày vô dụng. Hàng xuất gia mà không lập nguyện độ sinh thì chỉ là cùng tử sống bám vào hình nghi của nhà Phật để được đồ chúng nuôi dưỡng và rồi đời sau mang thân trâu ngựa trả nợ cơm áo cho tín chúng như lời ngài Triệu Châu.
Nhờ phát nguyện nên hành được mọi pháp nhiêu ích hữu tình từ bố thí ba la mật đa, và nhờ đó thành tựu Bồ tát hành. Tâm phát nguyện mở toang cánh cửa bồ đề khiến cho bi trí bị nhốt kín lâu nay hiện hành ra thế gian, rải lợi ích đến muôn loài, giúp thế giới ác trược vơi đi ô nhiễm, tăng trưởng công đức.
Cầu và Nguyện nên hay không nên.
Nguyện hay cầu đều có hai mặt thiện và ác, mặt ác như cầu cho kẻ ta ghét phải chịu đau khổ, hay phát nguyện báo thù hoặc nguyện tiêu diệt một chủng tộc nào đó, như Lưu ly nguyện tiêu diệt xứ Ca tỳ la. Đây là những điều không nên cầu hay nguyện.
Đối với hàng Phật giáo đồ, chúng ta chỉ bàn đến mặt tích cực của cầu và nguyện. Trong những sự cầu xin thông thường của đồ chúng phần lớn là cầu xin ngũ dục thuộc pháp thế gian, ngược lại với chính pháp xuất thế gian. Lý do là vì hàng tín đồ này ôm giữ vọng tâm nên bám chấp vào pháp thế tục, coi thân tâm và cảnh giới của thân tâm này là chân thật nên không thâm nhập được sự hiểu biết chân chính của Phật tri kiến qua lời chỉ dạy của đức Phật, vì thế cứ mãi u mê cầu xin ngũ dục thay vì phát tâm cầu được giác ngộ. Tâm cầu xin ngũ dục là sợi dây trói chặt chúng sinh trong cõi nhân thiên, bởi mọi thiện pháp của tâm này không chỉ loay hoay trong nhân thiên mà còn cản trở sự giác ngộ giải thoát, nên phẩm Ly thế giới kinh Hoa nghiêm khuyến cáo "xả bồ đề tâm, phàm sở tu thiện, ma sở nhiếp thọ", lìa tâm bồ đề, làm bất cứ điều thiện nào cũng thành nghiệp ma. Thế nên cầu xin ngũ dục cho bản thân chính là pháp hủy hoại công đức.
Tuy nhiên có những điều nên cầu, và những thứ cầu này phát sinh công đức, đó là cầu cho chúng sinh phát bồ đề tâm. Nhiều người tụng kinh hồi hướng cầu cho người người khỏe mạnh, những ai bị gông cùm tù tội đều được tự do… cầu như vậy thực vô ý thức vì gây nguy hiểm bởi biết bao nhiêu kẻ khủng bố, giết người cướp của mà mạnh khỏe lại tự do nữa thì xã hội bất ổn, cuộc sống đầy bất trắc, ai cũng khỏe thì nơi nào cũng thành võ đài, ai cũng tự do thì kẻ ỷ mạnh sẽ bất trị thế giới sẽ là chốn rừng hoang, nếu thương yêu chúng sinh và có trí tuệ hãy cầu cho họ phát tâm vì mọi người, nếu ai cũng phát tâm thì thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc, cầu như vậy tất phát sinh công đức.
Hồi hướng công đức cũng là một thứ cầu có công đức, dụ như khi bố thí nên hồi hướng cầu cho người nhận và ta do nhân duyên bố thí này sẽ đời đời kiếp kiếp có nhân duyên với pháp bố thí. Khi phóng sinh cũng hồi hướng cho ta và chim cá muôn đời cùng kết duyên giải thoát khổ nạn cho nhau. Cầu như vầy là hồi hướng cho ta và người tăng thượng duyên với thiện pháp thay vì tăng dục lạc nên có công đức. Phàm nhân quen mượn thiện pháp bố thí để hồi hướng cầu ngũ dục cho bản thân, thói quen này phá hỏng cơ hội phát sinh công đức. Tựu chung thay vì cầu dục lạc cho ta hay người hãy cầu cho chúng sinh có nhân duyên với tịnh pháp và biết phát tâm.
Điều duy nhất nên cầu và nguyện.
Chư Phật thị hiện nơi đời chỉ bày Phật tri kiến cho chúng sinh gọi là thắng giải, sự hiểu biết thù thắng ấy giúp chúng sinh phát sinh niềm tin vào chính pháp. Niềm tin này đồng với sự xuất hiện của tâm bồ đề, gọi chung là sơ phát tâm, đây là bước đầu của Bồ tát hành thẳng tiến đến chỗ cùng tột của bồ tát đạo gọi là Vô thượng bồ đề.
Đức Phật thị hiện nơi đời đã không để dạy đồ chúng thờ cúng ngài, mặc nhiên cũng sẽ chẳng có chuyện hứa ban ngũ dục nếu họ cầu xin, ngài là người duy nhất đến thế gian với mục đích duy nhất là giác ngộ cho chúng sinh, ngoài đó ra đều chỉ là phương tiện của Phật pháp. Tất cả những người tiếp thọ được pháp giác ngộ của ngài đều phát nguyện được giác ngộ viên mãn tức tự giác, giác tha, giác hành viên mãn, sự lãnh thọ thắng pháp đó chính là phát tâm lập nguyện sau khi được khai mở Phật tri kiến.
Phật giáo đồ bao gồm hai xu hướng. Xu hướng thế tục chỉ thờ Phật cầu xin ngũ dục, do không thể phát tâm cầu giác ngộ. Xu hướng xuất thế gian y giáo phụng hành phát nguyện thành Phật độ sinh. Xuất gia thực nghĩa chính là xu hướng xuất thế gian phát tâm lập nguyện, mà không ngu ngơ mê muội tin rằng cứ cạo tóc khoác cà sa là đã xuất gia. Nếu dùng thức phân biệt trên hình tướng thì xuất gia là mặc cà sa, nhưng dùng trí quán thì xuất gia đích thực là phát tâm xuất thế gian tức tâm bồ đề mới thực sự là xuất gia, bất kể vào y phục và đầu tóc, thế nên có câu "chiếc áo không làm nên tu sỹ", và phần lớn hình tướng các vị Bồ tát đều không hẳn là tướng tỳ kheo.
Thật vậy! Do thiếu vắng trí xuất thế gian mà nhất thiết chúng sinh từ con người đến thú cưng được nuôi đều không cầu cải thiện thân tâm mà chỉ cầu được tốt hơn trong vị trí hiện hữu của mình, thế nên mọi cầu xin này đều là những cầu mong không xứng đáng được cầu nguyện, mà hẳn nhiên chỉ những người học Phật chân chính khai mở được Phật trí sẽ chẳng bao giờ cần đến sự cầu xin này.
Chú cún dẫu được đại gia nuôi dưỡng chăm sóc, nhưng vẫn là kiếp chó cần phải có chủ biết thương yêu và nuôi mình no đủ, nếu nó biết cầu xả thân chó thì chẳng còn cần đến các cầu xin nọ. Con người cũng thế, cầu cho tôi lấy được người tôi thương, cầu cho tôi được buôn may bán đắt, cầu cho tôi thoát khỏi khổ nạn, luôn được mạnh khỏe, thậm chí khi nghĩ đến sự chết thì cầu được siêu thoát, cầu được vãng sinh… nếu họ cầu xả được thân tâm này tất họ không cần cầu "lắm chuyện" như vậy.
Cho dù con người có cầu cho "cái tôi" u mê này được lên thiên đường hay về cõi Phật đi nữa vẫn chẳng bằng như cầu cho "cái tôi" u mê đó không còn là tôi nữa. Vậy mới biết thế nhân chưa biết "nguyện" hay "cầu" là gì cả, và mọi sự cầu nguyện của phàm phu đều rất vớ vẩn nếu không nói là cực kỳ dở hơi.
Đã không nhận chân được ý nghĩa thù thắng của "cầu" và "nguyện", nên mọi điều "cầu" và "nguyện" của họ vẫn vô nghĩa, vì chỉ lẩn quẩn trong cảnh biến đổi vô thường của thế gian, đã cầu sướng tất phải kề bên khổ mới thấy được sướng, đã cầu thiên đường, tất có địa ngục cạnh bên… cứ thế mà suy ra mọi thứ. Nói chung đã cầu cho cái tôi thì mọi ước nguyện đều có 2 đặc tính, một là vị kỷ, hai là đầy tính nhị nguyên.
Do vậy "nguyện" hay "cầu" của Bồ tát đều "đương nguyện chúng sinh" không có tôi trong đó, chỉ có vì chúng sinh, chính vì thế mà mọi cái tôi trong ba đời mười phương đều nhất trí cho đó là điều "khó làm", nhưng tâm "đương nguyện chúng sinh" lại thấy cần làm cho dù khó khăn đến mấy đi nữa vì đó là lợi ích thật sự duy nhất cho ta và người, còn như xin xỏ là chuyện dễ hơn nhưng không thật sự đem đến sự an lạc và bình an lâu dài nên cứ xin suốt đời này qua đời khác, như thế xem ra xin không những không thực lợi mà còn chẳng hề dễ nếu không nói là điều nan cầu nan hành nhất trong mọi cái nan. Nguyện tuy có vẻ như khó hơn xin nhưng đem lại lợi ích và bình an muôn đời cho ta và người, và đó lại là nguồn sinh mọi công đức nên chung cục lại dễ hành và dễ thành hơn.
Những "nguyện" và "cầu" mang hương vị dục lạc của tính vị ngã kia chính là xiềng xích trói buộc mới thật chặt ta vào cảnh giới không "hành" không "nguyện" nên không tài nào giải thoát được cho ta và người. Đức Phật nói kệ "sắt dây gai trói buộc, người trí xem không chặt, tham châu báu vợ con, trói buộc mới thật bền".
Thế nên cần phân biệt rõ "xin xỏ" và "nguyện". Phát tâm xin xỏ Phật và Bồ tát điều gì cho bản thân đều không phải là nguyện, mà nguyện là phát tâm y giáo phụng hành thực hiện sự cứu độ muôn loài của chư Phật và Bồ tát mà quý ngài đã luôn mong mỏi chúng sinh có được, để gia nhập hàng ngũ thánh chúng thanh tịnh.
Nên người đệ tử Phật chân chính "không xin, chỉ nguyện". Xin là cầu cho mình, nguyện là cầu cho nhất thiết chúng sinh. Chỉ cần ghim ý tưởng này trong tâm khảm mãi mãi không quên thì phát sinh trí huệ và công đức vô lượng. Phát tâm cầu cho chúng sinh duy nhất một điều là cầu cho họ biết phát tâm, lập nguyện lợì lạc chúng sinh cũng một điều duy nhất là làm mọi thứ, nói mọi lời sao cho họ phát tâm, vì hễ phát tâm sẽ vĩnh viễn không cần đến mọi thứ cầu an hay siêu, đó là công đức của phát tâm lập nguyện mà chư Phật muốn chúng sinh tin hiểu thực hành và chứng nghiệm.
Những lời lẽ này tuy không là vật chất nhưng có trọng lượng rất nặng mà chỉ có người phát tâm mới vác nổi.
VH 9.4.22