Hẳn là mọi Phật giáo đồ đều biết từ Buddha hay Phật có nghĩa là giác ngộ, thế nên đạo Phật là đạo giác ngộ. Giác ngộ là sự nhận chân được cả hai phương diện mê và tỉnh, giả và thật của vạn pháp bao quát tình và vô tình, khi nói Phật là bậc giác ngộ tất nhiên chúng sinh đều là quần mê, tỉnh có cảnh giới của tỉnh, mê có cảnh giới của mê, và như thế sự xuất hiện nơi thế gian u mê của đức Phật không ngoài việc thức tỉnh những kẻ u mê. Để giác ngộ, chúng sinh cần phải trải qua hai tiến trình là nhận thức được sự mê lầm chấp thế gian huyễn mộng và mộng ngã là thật đưa đến tập và khổ, nhờ vậy mọi sự thật về cảnh giới và ngã sẽ hiển bày, gọi đó là đạo diệt, như khi bóng tối tan thì ánh sáng sẽ hiện.
Tuy quy y bậc giác ngộ, tu học đạo giác ngộ nhưng tuyệt đại đa số tín đồ không nhắm đến giác ngộ thay vào đó họ hướng đến cầu nguyện đức Phật và chư Bồ tát giúp họ xây dựng thứ đạo trong thế giới mộng ảo theo ý họ, đạo đó nằm gọn trong vòng hư huyễn của thế gian vô thường, nói nôm na là đạo mộng, tu học mộng pháp, chứng mộng quả, không liên quan gì đến đạo giác ngộ xuất thế gian.
Nhưng vì đâu khác với mọi tôn giáo hứa hẹn giúp nhân loại được một cõi mộng tuyệt vời, đạo Phật lại đề cao sự giác ngộ và cho thế gian cùng ngã đều là mộng huyễn nên bác bỏ hoàn toàn mọi thành quả của ngã nơi thế gian vì đó chỉ là mộng không thật? Để nắm vững vấn đề này Phật giáo đồ trước nhất cần phải hiểu rõ về hai đế khổ tập, tức nhận chân được tính mộng huyễn và hư vọng của ngã và thế gian, sau đó mới có thể hướng tới tu tập giác ngộ qua hai đế đạo diệt.
Thế gian và ngã.
Thế gian là môi trường cho mọi sinh hoạt từ sống đến chết của muôn loài, chẳng có nghiệp khổ lạc, sinh tử gì của bất kì loài nào nằm ngoài thế gian. Thế gian đã bao quát mọi nghiệp của vạn vật, mỗi vật lại có mỗi nghiệp riêng nên có cảnh giới riêng biệt, và như vậy thế gian là cõi nhiếp hết mọi cảnh giới của muôn loài. Chẳng qua vì nghiệp của mọi vật đều có liên hệ với vô số nghiệp khác, nương vào nhau mà thành tựu phúc họa, khổ lạc, sống chết, vì vậy dù mỗi vật có mỗi nghiệp riêng nhưng các nghiệp đó liên hệ chồng chéo phức tạp tạo thành một thế giới nghiệp hỗn độn không thể độc lập tách biệt ra khỏi nhau, và thế gian chính là hiện thân như một đại nghiệp gói trọn mọi nghiệp của vạn vật.
Ngã là tôi, là hiện thân của một tiểu nghiệp trong thế gian đại nghiệp. Tuy nhiên do có một bước mới thành ngàn dặm, nên tiểu nghiệp sinh đại nghiệp, vì nếu ngã thay đổi thì thế gian cũng đổi thay. Do vậy muốn thế gian tốt đẹp thì ngã phải tốt đẹp, Nho gia khẳng định muốn thế gian thái bình an vui, trước hết phải tu sửa thân tâm của ngã, qua bốn tiến trình "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", thực hiện mọi lý tưởng từ nhỏ đến lớn, bắt đầu từ chính mình mới có thể đem phúc lợi đến cho thế giới được. Dùng ngã không tu thân làm mọi sự đều gây thảm họa cho thế gian. Ai trong đời cũng muốn tận hưởng một thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc nhưng ai cũng ngại tu thân, nên mọi tư duy của họ không những luôn lạnh lùng nói không với sự hòa hợp đùm bọc chia sẻ, lại còn thường xuyên nghĩ cách tranh đoạt giết hại nhau, đó là lý do vì sao đức Phật gọi thế gian là nhà lửa, và kiếp sống trong nhà lửa hẳn nhiên là kiếp "nhân sinh thị khổ".
Tâm và thế gian.
Nghiệp là những thói quen trải qua bao đời kết tập thành cái tôi kiên cố khó thay đổi, như kẻ nghiện ngập không những khó bỏ được thói hư tật xấu ấy mà còn bị các thứ tệ hại ấy chi phối dẫn dắt trong mọi suy nghĩ và biến thành một thứ đạo Phật gọi là vọng tâm. Nghiệp tạo thành vọng tâm, vọng tâm lại tạo tác mọi nghiệp, vọng tâm và vọng nghiệp không khác mà chính là. Vọng tâm làm nên ngã, ngã làm nên thế giới, vì vậy cả chúng sinh lẫn thế giới đã do vọng thành nên đều huyễn hóa không thật, do đó mọi tư duy đều là vọng tưởng và mọi tạo tác đều là vọng hành, các vọng đó hợp thành xây dựng nên một môi trường sinh trưởng và nuôi dưỡng vọng nghiệp đầy ô nhiễm bất an và tai ương gọi là thế gian, được ví như căn nhà lửa. Như vậy nói theo sắc thì nhà của chúng sinh là thế gian, nói theo phi sắc thì nhà của chúng sinh là vọng tâm, do vậy thế gian và vọng tâm không khác mà chính là, thế nên xuất thế gian chính là lìa vọng tâm, và phát tâm giác tức tâm bồ đề là cách duy nhất xả bỏ vọng tâm, vì lẽ này mà đức Phật bảo A Dật Đa "thành Phật không khó nhưng khó bởi vì khó phát tâm", ngài Tỉnh Am cũng khẳng định "phát tâm là cánh cửa chính yếu để vào đạo". Nếu hỏi khoảng cách giữa Phật và chúng sinh bao xa, thì câu đáp là chỉ cách có một tâm, gần ngay trước mắt, xa đến muôn đời, bởi vậy tam tổ Tăng Xán ngậm ngùi "chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch" đạo cả không khó, chỉ do ưa phân biệt mà thành khó.
Nghiệp là thứ biến đổi vô thường và phi thật thể nên những sáng tạo phẩm của nghiệp như thế giới và muôn loài đều huyễn hóa không thật, vô ngã và vô thường. Bệnh của chúng sinh là chấp thật các thứ không thật, đức Phật gọi là si mê vọng tưởng và điên đảo, bệnh mê này phát sinh từ tâm, nên cần phải trị liệu nơi tâm, thay tâm si mê bằng tâm giác tức tâm bồ đề thì nhìn thấu được ba pháp vô thường, vô ngã và niết bàn. Như vậy chúng sinh và Phật rõ ràng chỉ cách nhau một tâm, tâm mê thì Phật thành chúng sinh, tâm giác thì chúng sinh cũng thành Phật. Lục tổ Huệ Năng nói "Phàm phu tức Phật, phiền não tức bồ đề, tiền niệm mê tức phàm phu, hậu niệm giác tức Phật", phàm phu cũng là Phật, phiền não cũng chính là bồ đề, niệm trước mê là phàm phu, niệm sau giác là Phật. Tâm mê tạo tác mọi vọng nghiệp, và là chỗ cho các nghiệp ấy hiện hữu, thế nên tâm mê là nhà thế gian của muôn loài, muốn ra khỏi nhà thế gian tất phải chuyển tâm mà không thể cứ bằng thay chỗ ở và y phục cùng đầu tóc là ra khỏi nhà thế tục này được. Tâm giác không tạo vọng nghiệp, nên không có bất kỳ quả báo khổ lạc, đắc thất, sinh tử nào của thế gian, cũng do đặc tính vô vi không tạo tác nên tâm giác có tính tịch diệt gọi là niết bàn, ngài Huệ Năng nhấn mạnh tâm giác vốn "xưa nay không một vật". Do vọng tâm tạo mọi vọng nghiệp, nên muốn sám hối các vọng nghiệp cần phải diệt vọng tâm, tâm diệt thì tội mất. Người cầu giác ngộ cần cầu tâm hơn cầu Phật, nên đức Phật nhắc nhở y pháp bất y nhân.
Khi đã biết nghiệp cùng với tạo phẩm của nó là ngã và thế gian vốn vô thường không thật, như thế sự hiện hữu của ngã và thế gian chỉ là giả hữu, nhưng chúng sinh đều chấp mọi thứ đó là thật nên đạo Phật gọi chúng sinh là quần mê đồng với vô minh.
Xuất thế gian và ngã.
Thế gian đã là cõi mộng huyễn của mọi mộng nhân, hễ nhập mộng thì thành mộng nhân và xuất mộng thì là giác nhân, nói cách khác hễ xuất thế gian thì là Phật, nhập thế gian thì là chúng sinh, trừ trường hợp chư Phật nhập thế gian bằng nguyện lực độ sinh qua hóa thân còn gọi là thị hiện. Xuất thế gian đơn giản là ra khỏi thế gian, thế gian là cõi mộng nên chỉ vào được bằng tâm mê, và ra khỏi bằng tâm giác, xuất nhập do tâm mà hoàn toàn không do thân, lại nữa cõi mộng là huyễn không thật nên kỳ thực không có hai cõi tỉnh và mộng, cũng như không có người lìa mộng vào thật hay từ thật vào mộng, nhưng khi mê thì có tất cả. Nói bờ giác và bến mê, Phật và chúng sinh là phương tiện dùng kiến thức của phàm tục phân biệt cho thế nhân mộng mị hiểu phần nào về mê và ngộ, đạo Phật gọi kiến thức phân biệt đó là thế tục đế. Về mặt chân đế xét theo trí huệ đã là huyễn thì làm gì có việc xuất nhập, cũng như có người tỉnh và kẻ mộng, do vậy chân thật giác ngộ là không hề có trừ vọng chứng chân, bởi xưa nay không một vật.
Nói theo tục đế thì mộng hay thế gian có y báo là mộng cảnh và chính báo là mộng ngã, giác hay xuất thế gian có y báo là cõi thật tức niết bàn và chính báo là Phật. Mộng vốn huyễn hóa do bao gồm cảnh mộng vô thường và ngã mộng vô ngã. Tỉnh tức giác vốn thường hằng chân thật bao gồm Phật và niết bàn. Ba pháp vô ngã vô thường và niết bàn là ba pháp ấn, pháp nào mang các dấu ấn này mới đúng là Phật pháp.
Khác với thế gian là ổ chứa mọi nghiệp thiện ác được coi là nhiễm, xuất thế gian hay niết bàn không có vọng nghiệp nên thuần tịnh. Đạo Phật gọi thế gian là nhà của mọi ngã, mỗi ngã tuy có vọng nghiệp riêng nhưng các nghiệp đó đều có chung tính tham sân si, do vậy mà căn nhà thế gian bị chúng sinh dùng tâm tham dục vô tận đốt cháy bằng sự đấu tranh kiên cố giữa nhau, hơn thế nữa con người đang nhân danh phát triển một đời sống văn minh tốt đẹp hơn bằng cách khai thác tài nguyên vô giới hạn gây tổn hại cho thiên nhiên, thứ nuôi dưỡng con người và thế giới, khiến cho thiên tai phát sinh trợ lực cho tham sân của loài người hủy diệt hạnh phúc và an lành của muôn loài nhanh hơn và tàn bạo hơn.
Xuất thế gian và xuất gia.
Đức Phật dạy "thắng giải sinh tín tâm" có nghĩa một sự hiểu thù thắng sẽ đem lại đức tin. Qua sự chỉ dạy ban sơ của đức Phật hay của các bậc trí huệ tuy người nghe chưa hiểu rõ hoàn toàn nhưng đã thấy thấp thoáng bóng dáng của chân lý, nên sinh tín tâm, phát tâm tu học theo con đường dẫn đến giác ngộ. Tùy theo tín tâm mà phát tâm chia làm hai bậc thượng và hạ, hạng hạ chỉ giới hạn ở phát tâm quy y sống theo năm giới, gọi là cận sự tại gia, hạng thượng thì lìa nhà sống theo quy củ của tập thể xuất gia gọi là tăng.
Xuất gia có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất gia là nhà ở của một gia đình, xuất gia là từ bỏ mọi thứ thuộc về gia, bỏ nhà, bỏ gia đình, bỏ mọi sinh hoạt về gia đình như không cưới hỏi, không nối dõi hương hỏa, không kinh doanh nuôi thân quyến, vân vân, để gia nhập hàng ngũ Tỳ kheo sống theo khuôn khổ giới luật, tu tập giới định huệ.
Nghĩa thứ hai gia là thế gian, nhà ở của chúng sinh, và cũng là nơi sinh hoạt tạo tác các vọng nghiệp tham sân si của chúng sinh, nơi đây là hang ổ ô nhiễm của mọi tư duy và hành động mê muội điên đảo nên luôn bất ổn, hết khổ này đến khổ khác, khổ cuối cùng là theo thần chết đi thác sinh thân khác nhưng vẫn trong phạm vi của căn nhà thế gian. Để chào vĩnh biệt với mọi khổ phải ra khỏi nhà thế gian, gọi là xuất thế gian gia, nói tắt là xuất gia. Xuất gia ở đây là từ bỏ mọi thứ của thế gian như không làm mọi ngành nghề của thế gian, không tham gia vào mọi thế sự, không coi trọng tiền tài, danh lợi, ăn ngon mặc đẹp, không coi hạnh phúc của thế gian là thứ cần cầu, nói chung là ngao ngán các thứ dục lạc của thế gian, thân tâm lìa bỏ dục lạc đó được gọi là người ly dục thanh tịnh. Sự phát tâm xuất gia này gọi là phát yếm ly tâm, tâm này là nền tảng tu học của hàng tăng nhân được gọi là tỳ kheo tăng, y vào tâm thanh tịnh lìa dục này thì lìa được nhà thế gian và đạt được giải thoát.
Như vậy một vị tỳ kheo chân chính hẳn là một vị nhờ sức thắng giải, sinh tín tâm nên phát tâm yếm ly ngay từ bước ban sơ vào hàng ngũ tăng nhân, trải qua năm tháng tu tập chưa từng lìa tâm yếm ly, xả bỏ mọi thứ tập tục thói quen từ nhà đến thế gian, nương vào tâm này diệt tận vọng tâm thành bậc Thánh tăng A la hán vô nhiễm bất động, cứu cánh giải thoát.
Rất nhiều người xuất gia ngây ngô ngỡ là lìa nhà vào chùa sinh hoạt là đã thành tựu xuất gia, những người này không phát tâm, không tâm tu trì nên dễ bị tâm tham dục chi phối, chỉ cầu lợi dưỡng không cầu xuất thế gian, họ chỉ khéo giữ gìn chùa và chiếc áo trên thân là những thứ nuôi dưỡng và cho họ một địa vị được tôn kính, còn tâm thì nuôi dưỡng lợi lộc, họ không hiểu chùa và cà sa chỉ là cửa nẻo canh phòng không cho tham dục vào trong vấy bẩn tâm, nên chỉ biết bảo vệ chùa và cà sa vì đó là nguồn lợi mà nào dè hành động đó chính là đổi đạo tâm lấy lợi dưỡng, giống như gã ngu "giữ gìn cửa nẻo" trong Chuyện ngu (kinh Bách dụ).
Do ngưỡng mộ tu sĩ, nhiều người thích làm tu sĩ hơn phát tâm cầu đạo, nên chỉ cầu xuất gia làm tu sĩ mà vô tâm cầu giải thoát, vì vậy không nên đồng hóa tu sĩ với phát tâm, người tu sĩ cũng cần phải phát tâm, nếu không phát tâm tu sĩ cũng bị đức Phật quở là hạng thân xuất gia mà tâm không xuất gia, ngược lại người cư sĩ phát tâm được đức Phật khen là thân tuy tại gia nhưng tâm xuất gia. Xuất gia hay tại gia đều do có phát tâm hay không, mà không do thay hình đổi tướng, và như thế xuất gia chân chính là phát tâm cầu giải thoát mà không phải là khoác áo cà sa. Một số u mê cho hễ là tu sĩ đều là mạng mạch của chư Phật, họ quên rằng tu sĩ mới thành sư tử trùng được. Bất luận tăng tục hễ phát tâm đều được chư Phật thọ kí, và những ai được thọ kí mới là mạng mạch của mười phương ba đời chư Phật.
Xuất gia và Bồ tát đạo.
Xuất gia đơn thuần được hiểu là những người thọ giới tỳ kheo tăng hay ni, và tỳ kheo được gọi là người xuất gia. Có điều tỳ kheo thuộc Thanh văn giới tức tiểu thừa giới, nên trong các cảnh giới tịnh độ của đại thừa thường chỉ có Bồ tát mà thiếu vắng các Thánh tỳ kheo là A la hán, nguyên do là vì cảnh giới đại thừa được phát sinh từ tâm bồ đề, nên chỉ những ai phát tâm mới hiện hữu ở tịnh độ. Như vậy trong đại thừa không có đủ tứ chúng sao? Nhưng do đâu trong kinh điển đại thừa vẫn nói đến tứ chúng cho đến thất chúng, đó chẳng qua là vì khi đức Phật thuyết đại thừa pháp tại thế gian đã sẵn đủ thất chúng nên trong kinh vẫn đề cập đến các chúng ấy.
Tăng được coi là bảo, vì sống đời sống giác ngộ thanh tịnh, Tăng bảo phải có đầy đủ giới định và huệ, thân tâm và giới luật bất khả ly đó là định, nhờ định trong thiện pháp thân tâm thanh tịnh, do tâm thanh tịnh nên phát sinh huệ giác, đó là nghĩa bảo của Tỳ kheo tăng.
Với đại thừa thì Tăng bảo là người gánh vác độ sinh vô ngại như Bồ tát Văn Thù nói với Bồ tát Hiền Thủ trong kinh Hoa Nghiêm "tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại", tự quy y Tăng xin nguyện chúng sinh gánh vác đại chúng hết thảy không ngại, nhưng để đảm đương việc nan hành này, trước hết phải nương theo Phật phát tâm vô thượng, nhờ tâm này nhập vào mọi thật pháp thành tựu trí huệ bao la như biển, hợp cả tâm vô thượng và trí huệ như biển mới đảm đương nổi việc thống lý đại chúng không chút quản ngại, vì vậy để thành Tăng bảo phải quy y Phật và pháp trước, kinh Hoa Nghiêm nói "Tự quy y Phật, thiệu long Phật chủng, phát vô thượng tâm, tự quy y pháp, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải", tự quy y Phật nguyện cho chúng sinh, xiển dương Phật chủng phát tâm vô thượng, tự quy y pháp, vào sâu kinh nghĩa trí huệ như biển.
Như vậy để trở thành Tăng bảo đúng nghĩa cần phải phát tâm vô thượng. Đại thừa liễu nghĩa xét Tăng theo nghĩa tức y vào sự thanh tịnh tích cực phát tâm và hành pháp cứu độ khác với tiểu thừa xét Tăng theo hình thức tức y vào tướng cạo tóc khoác cà sa. Xét về nghĩa bảo, Tăng thuộc tỳ kheo giới vốn là biệt giải thoát giới, nên không phát tâm độ sinh chỉ riêng mình được giải thoát, vì thế chỉ là tiểu bảo, Tăng thuộc Bồ tát giới phát tâm bồ đề thệ độ nhất thiết chúng sinh, tự giải thoát và giải thoát cho muôn loài, đây mới thực là vô thượng bảo, như thế xét về nghĩa bảo là độ nhất thiết chúng sinh thì Bồ tát thực sự là Tăng bảo.
Do vậy căn cứ vào nghĩa xuất gia và độ sinh để thẩm định một vị Tăng thì Bồ tát có trọn đủ cả hai nghĩa trên, còn tỳ kheo tăng chỉ có thiểu phần mà thôi. Vì vậy cõi Phật không có A la hán và tỳ kheo tăng nhưng thay vào đó có Bồ tát là các vị Tăng bảo trợ thủ độ sinh của đức Phật cùng với Thánh chúng là những người phát tâm vãng sinh bất kể tăng tục. Mọi Thánh chúng ở các Phật độ đều phát tâm độ sinh nếu không phát tâm thì không về cõi Phật được, thế nên cõi Phật toàn bộ đều là tam bảo, không hề có chúng sinh, do đó A la hán tự có niết bàn mà không về cõi Phật.
Giả như các vị Bồ tát không phải là Tăng bảo thì Tăng ni ở các xứ theo đại thừa đều phạm luật vì đảnh lễ cư sĩ, điển hình như lễ tượng thiếu nữ được gọi là Quan Thế Âm, ngoài Bồ tát Địa Tạng ra, tất cả các Bồ tát khác đều có hình tướng cư sĩ. Do các vấn đề xoay quanh việc đồ chúng đại thừa xuất gia đều thọ giới tiểu thừa trái với tinh thần độ sinh của đại thừa nên ngài Tối Trừng sáng tổ của Thiên thai tông Nhật bản đã quyết định bỏ tỳ kheo giới, chỉ cho chúng xuất gia của tông này thọ giới Bồ tát. Tuy nhiên sau này các tông phái của đại thừa khi xuất gia đều thọ cả hai giới tỳ kheo và Bồ tát, như thế chung cục là tỳ kheo tăng hay Bồ tát tăng?
Một tín đồ Phật giáo trong đời có thể thọ nhiều giới khác nhau từ thấp lên cao, như học sinh từ tiểu lên đến đại học, càng lên cao càng thay đổi danh xưng, từ học sinh đến sinh viên rồi giáo sư, cũng vậy tín đồ ban sơ thọ ngũ giới gọi là ưu bà tắc, sau đó thọ sa di, rồi tỳ kheo và cứ sau mỗi lần thọ giới cao hơn lại thay đổi danh xưng theo giới, và như thế khi một tỳ kheo thọ Bồ tát giới là giới cao hơn sẽ không gọi là tỳ kheo nữa mà gọi là Bồ tát, song có lẽ do thói quen tôn kính các vị đại Bồ tát nên người thọ giới ngại ngùng không dám xưng mình là Bồ tát, dù vậy do tỳ kheo tăng theo đại thừa phải phát tâm bồ đề nguyện độ chúng sinh khi thọ Bồ tát giới nên họ đều có khả năng trở thành Tăng bảo đúng nghĩa, do vậy Bồ tát tăng coi chúng sinh là phúc điền cần được phụng sự để thành tựu công đức của Tăng bảo khác với Tỳ kheo tăng không độ sinh nên không coi chúng sinh là phúc điền vì vậy không cần phụng sự và ngược lại được tín đồ phụng sự và coi họ là phúc điền, đây là điểm nhận ra chính xác một vị Tăng là đại thừa hay tiểu thừa hơn là chỉ đánh giá qua giới đã thọ.
Nói tóm lại nếu coi việc độ sinh là công đức thì chúng sinh chính là công đức điền của đại thừa Bồ tát tăng, những vị này là chân thật Tăng bảo nên cũng đích thật là công đức điền của chúng sinh, còn như chỉ nhận sự cúng dường vì cho mình là phúc điền của chúng sinh nhưng không hề phát tâm độ sinh thì đây không phải là Tăng bảo mà chỉ là phàm phu tăng, những người này không đủ là phúc điền nói gì đến công đức điền của chúng sinh.
Tín chúng thường được dạy chư Tăng là phúc điền của người tại gia, vì vậy từ người dạy tới người học đều chỉ hiểu biết ngón tay của phúc điền mà không hiểu ánh trăng của phúc này, do vậy Tăng nhân luôn tự cao coi mình là phúc điền, tục gia đồ chúng cũng do vậy mà thích cúng Tăng hơn bố thí và cứu giúp tha nhân, những người này cần hiểu sở dĩ Tăng là phúc điền do Tăng gánh vác độ sinh, nếu không độ sinh chỉ cạo tóc vác cà sa thì phúc điền là cái áo hay đầu tóc thôi ư? Nếu do độ sinh mới là phúc điền thì chúng sinh là chỗ tu phúc điền của mọi người bất luận là Tăng tục, và do đó kết luận phúc điền của cả Tăng lẫn tục là độ sinh, tuy nhiên một số Tăng nhân cho việc cứu khổ cứu nạn chúng sinh không phải là việc của tu sĩ, đó chỉ là việc của các hội từ thiện thế gian, còn tu sĩ chỉ quan tâm tới học các pháp ngón tay, thỉnh tượng xây chùa, tụng kinh cầu nguyện, tất cả hồi hướng cho mình, họ sống dựa người tại gia nhưng chỉ biết tu phúc cho bản thân, không biết đến ân chúng sinh trong bốn trọng ân, lại cũng không biết mục đích của đạo Phật là vì độ nhất thiết chúng sinh mà thực hiện các thứ ngón tay như xây chùa tạo tượng, thực bó não.
Chỉ có Bồ tát đạo là pháp cứu độ chúng sinh, nên chỉ có người hành đạo đó là các Bồ tát mới đưa chúng sinh cùng mình ra khỏi thế gian mộng huyễn này theo tinh thần "ngã đẳng dữ chúng sinh giai cộng thành Phật đạo", và Bồ tát mới thực sự là Tăng bảo, là mạng mạch của chư Phật, là công đức điền của chúng sinh.
Thật pháp và các pháp phương tiện.
Đại thừa khẳng định Tăng là bảo nhờ vào thệ độ nhất thiết chúng sinh, vì vậy chúng sinh nên quy y tập thể Tăng để tiếp thọ được sự cứu độ của chư Tăng. Độ sinh là trách nhiệm của Tăng, nguyện được độ là phúc báo vô thượng của đồ chúng, quy y Tăng là để được cứu, Tăng giao tiếp với tín đồ không ngoài sự cứu độ. Có điều tuyệt đại đa số tín đồ ngỡ cứu là giúp họ được dục lạc như ý nên họ không bận tâm đến việc cầu trí huệ, thiểu số chính tín hiểu cứu là được chỉ bày trí huệ giác ngộ nên cầu pháp mà chẳng màng đến việc cầu phúc báo, bởi trí huệ giác ngộ là bảo tối thắng trong mọi bảo. Phàm mọi sự dạy bảo không liên quan gì đến giác ngộ giữa thầy trò đều là phi chính pháp, muốn giác ngộ phải nhận chân ra sự thật, đạo Phật gọi là thật pháp, người nào nhận ra thật pháp người ấy là người giác ngộ, được gọi là Phật.
Tu học thật pháp là con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ thành Phật, con đường này được gọi dưới nhiều tên như Phật đạo, chính đạo, thật đạo. Ngoài thật đạo ra tất cả các pháp liên quan đến Phật pháp được gọi chung là phương tiện đạo. Thật đạo có thật pháp, phương tiện đạo có phương tiện pháp, song thật đạo chỉ có một nên còn gọi là nhất thật đạo, phương tiện đạo thì có nhiều thứ như các tông phái, kinh điển và quả vị khác biệt, sở dĩ phương tiện có nhiều môn là để đáp ứng với các sự hiểu biết và tu tập khác nhau theo các căn tính bất đồng của chúng sinh, tuy nhiên hết mọi pháp phương tiện vẫn có cùng cứu cánh giác ngộ, như lời dạy của lục tổ Huệ Năng "thuyết tức tuy vạn ban, hợp lý hoàn quy nhất" (nói thì đến muôn vàn, lý chỉ duy có một), và đây cũng là lý do đức Phật phán "nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính", hết thảy chúng sinh đều có Phật tính hay "nhất thiết pháp giai thị Phật pháp", pháp nào cũng đều là Phật pháp. Chỉ cần nhận rằng thật tính của mình là Phật tính thì kẻ cướp gã ngu đều thành Phật, hễ nhận ra tính thật nơi mọi pháp thì pháp nào cũng đều là thật pháp. Đại sư Huyền Giác nói "vô minh thật tính tức Phật tính", thật tính của vô minh chính là Phật tính. Bất luận có vô vàn căn tính nhưng vẫn chỉ có chung một thật tính là Phật tính, bất kể có vô số phương tiện pháp nhưng cũng chỉ có chung duy nhất một thật pháp, vì vậy nói nhất thiết chúng sinh đều là Phật, pháp nào cũng là Phật pháp tức thật pháp, vì vậy tu pháp môn nào đi nữa khi chứng thật pháp đều thành quả bồ đề như nhau. Nếu chỗ chứng có sai khác, có cao thấp thì đều còn trong phương tiện chưa đạt được cứu cánh viên mãn.
Quyền pháp và hóa pháp.
Phương tiện pháp bao quát hóa pháp và quyền pháp. Chư Phật thị hiện hóa thân nơi đời khai mở pháp giác ngộ cho chúng sinh, các pháp do hóa thân thuyết tại thế gian mộng ảo gọi chung là hóa pháp như ngón tay chỉ trăng. Do chúng sinh quen dùng thức phân biệt để nhận định sự vật nên chỉ nhận ra sự tương nghịch mà không nhận ra chỗ đồng nhất của sự vật, nói ví dụ như thấy điểm khác biệt giữa Phật và chúng sinh qua hình tướng rất dễ nhưng thực khó để nhận ra Phật và chúng sinh vốn đồng vì có cùng tự tính là Phật tính, vì vậy để chúng sinh có thể lãnh thọ được pháp, đức Phật từ một thật pháp phân thành nhiều pháp cho các căn tính sai khác, và đó là quyền pháp, Thai gia gọi việc này là từ bản thùy tích hay "vị thật khai quyền", vì thật mà mở quyền, sau khi đồ chúng hiểu được quyền pháp thì đức Phật lại giảng giải đưa mọi quyền pháp gom về một thật, gọi là từ tích quy bản, Thai gia gọi là "phá quyền hiển thật".
Do chúng sinh đa căn tính nên đức Phật lập ra đa phương tiện để căn tính nào cũng có phương tiện đạt đến cứu cánh, Thai gia gọi là vị thật khai quyền, cũng có nghĩa để chúng sinh ngộ nhập thật tính không, vì thế giả lập các pháp gọi là phương tiện. Khi chúng sinh hiểu được pháp phương tiện rồi thì lìa bỏ các pháp giả lập này để chứng cứu cánh, đó là từ cứu cánh thật tính không phá bỏ các phương tiện giả lập. Đây là cứu cánh huệ thành Phật và phương tiện huệ độ sinh của tâm bồ đề, từ giả đế tự tại lập mọi pháp phương tiện (vị thật khai quyền), từ không đế phá bỏ mọi giả phương tiện (phá quyền hiển thật).
Cứu cánh pháp và phương tiện pháp.
Kinh Viên giác phân sự tu tập ra ba trình tự bao gồm tri huyễn, ly huyễn và giác huyễn. Tri huyễn tức nhận ra bản chất vô thường và vô ngã của thế gian và chúng sinh, nhờ vậy ly huyễn tức xuất thế gian, sau khi tri huyễn và ly huyễn thì giác huyễn, đó là nhận ra đã là huyễn tất nhiên chẳng có thật để tri và ly, vậy thì tri và ly cũng là huyễn, cả huyễn và thật lẫn tri và ly đều không còn, khi ấy mới là cảnh giới chân thật duy nhất không gì nằm ngoài được, cảnh giới này không danh, không tướng, chỉ cưỡng gọi là niết bàn.
Phương tiện pháp bao gồm thế tục đế và chân đế. Tục đế thấy có mê và giác, Phật và chúng sinh, chân đế thấy Phật và chúng sinh vốn đồng, mê và giác không hai. Cứu cánh pháp thấy thực chẳng có chân đế lẫn tục đế để phân biệt, cũng chẳng có Phật hay chúng sinh, bổn lai vô nhất vật, và đó mới là viên giác, ở cảnh giới này có là Phật hay chúng sinh, ở niết bàn hay sinh tử đều vô phân biệt và tự tại như nhau.
Cứu cánh huệ thuộc không đế là trí huệ thành Phật, phương tiện huệ thuộc giả đế là trí huệ độ sinh, cả hai là diệu dụng thượng cầu hạ hóa của tâm bồ đề. Theo tam đế (không giả trung) của Thiên thai tông thì đức Phật từ giả đế tự tại lập mọi pháp phương tiện (vị thật khai quyền), từ không đế phá bỏ mọi giả phương tiện (phá quyền hiển thật), từ trung đế tự tại vô ngại lập và phá các pháp, đó là viên giác huệ của bậc Pháp vương vô thượng tôn.
Vào biển đếm cát tự hành xác.
Cầu giác ngộ tất phải cầu chứng thật pháp, song thật pháp vượt ngoài tầm tư duy và biện luận của tâm thức đồ chúng, nên trở thành bí mật tạng, vì vậy việc chứng thật pháp trở thành bất khả tư nghì đối với đa phần người học đạo và dễ dẫn đến ngộ nhận chấp hóa thân và hóa pháp là thật Phật và thật pháp, nên thay vì tu tập thật trí để chứng nhất thật pháp, những người này lại nghiên cứu học tập kiến thức phân biệt các quyền pháp vốn đã được đức Phật bất đắc dĩ phân biệt thành, lẽ ra họ phải dùng trí quán quy kết các quyền pháp về một thật duy nhất, họ lại phân biệt thêm nữa các pháp được đức Phật tạm phương tiện phân biệt, cứ thế càng tu học càng đi xa khỏi thật pháp và rơi vào biển vọng thức phân biệt danh tướng. Ngài Huyền Giác tự thuật sự lầm lẫn của bản thân thuở trẻ trong Chứng Đạo ca "Ngô tảo niên lai tích học vấn, diệc tằng thảo sớ tầm kinh luận, phân biệt danh tướng bất tri hưu, nhập hải toán sa đồ tự khốn, khước bị Như Lai khổ ha trách, sổ tha trân bảo hữu hà ích, tùng lai tắng đăng giác hư hành, đa niên uổng tác phong trần khách", tôi thuở trẻ góp chứa học vấn, cũng từng tra cứu kinh luận viết sớ giải kinh, không ngừng phân biệt danh với tướng, như kẻ vào biển đếm cát tự làm khổ mình, bị Như lai quở mắng ích gì cho kẻ lo đếm của người, lâu nay lạc lõng trong chốn không đâu, uổng công lang thang khổ nhọc hằng bao tháng ngày.
Vì đâu ngài Huyền giác lại than công phu bao lâu nay miệt mài học hỏi, trích kinh luận viết sớ giải, phân biệt mọi danh tướng, rốt cục chỉ là kẻ vào biển đếm cát tự làm nhọc thân? Trang tử nói "Ngô sinh dã hữu nhai, nhi tri dã vô nhai, dĩ hữu nhai tùy vô nhai, đãi dĩ. (đời ta có giới hạn, cái biết vô hạn, đem cái giới hạn truy cầu cái vô hạn, nguy mà thôi).
Chân thật giác ngộ chỉ duy có một, không hề có hai, đức Phật thị hiện nơi đời để chỉ bày cho mọi chúng sinh thứ giác ngộ duy nhất này, hiềm vì chúng sinh đa căn tính nên ngài đành dùng phương tiện thiện xảo từ một pháp thân ứng hiện mọi hóa thân, từ một thật pháp thuyết thành mọi hóa pháp tương ưng với các căn tính chúng sinh, nên nói phương tiện hữu đa môn, cứu cánh quy nhất lộ, với mục đích nhận chân được thật pháp nhất lộ trong các hóa pháp đa môn, khi ấy các pháp quy về một tức niết bàn, và các hóa thân cũng thành một tức Phật.
Song do vọng thức quen phân biệt, thay vì tìm ra nhất lộ trong một môn, các pháp sư học giả lại bỏ qua và quên bẵng nhất lộ, mải mê miệt mài gom chứa kiến thức đa môn, phân biệt danh tướng những thứ đa môn ấy, họ ngỡ rằng càng đa môn càng được hiểu là trí tuệ siêu việt, thế nhưng kỳ thật thì chỉ là tương tợ trí, một thứ trí ngây ngô vô trí không khả thi, chẳng chút liên quan gì đến thật pháp giác ngộ, ngài Huyền giác gọi là hư hành, Trang tử thì cho rằng đem cuộc đời ngắn hạn truy cầu các thứ học vấn nhiều như cát biển thì quả là hại thân, đánh mất cả thời gian của cuộc đời vào chuyện vô ích, ngài Huyền giác tự than bao năm tháng nhọc nhằn khổ luyện kiến thức đa môn ấy rút cục chỉ là quãng thời gian làm kẻ thang thang lạc lối đi đếm cát biển và không có lối thoát, nên bị Như lai mắng là đồ ngốc nghếch lo đếm của cải cho các đa môn kia để được ích gì.
Học giả và hành giả.
Bất luận môn nào cũng thuộc về học vấn, nên đều học được, nhưng lộ thì không thể học mà phải hành mới chứng được, nếu cứ chỉ học mà giác ngộ thì cần gì phải lập tự viện, phải tu tập thực hành tam vô lậu học, cứ xem các tăng sĩ tu tập được gọi là hành gỉa, hành giả là bước đầu của cao Tăng thạc đức. Những người chuyên về học vấn, nghiên cứu được gọi là học giả, đó là những người có bằng cấp học vị thuộc thế gian pháp, nên thực sự không liên quan gì đến xuất thế gian pháp, các pháp xuất thế không có học vị và bằng cấp, chỉ có quả vị được chứng bởi chính trí tuệ xuất thế gian của bản thân, nên tuyệt đối không có tiến sĩ Bồ tát hay A la hán tiến sĩ, thậm chí cũng không thể có tỳ kheo tiến sĩ, phải đến đời mạt pháp mới xuất hiện danh xưng này, ngay thời phong kiến cũng chưa từng nghe Tỳ kheo trạng nguyên hay bảng nhãn, đạo Phật cho Tăng là bảo tối thắng, thời nay trong Tăng đoàn tự cho tiến sĩ bảo hơn Tăng, nên tỳ kheo không giá trị bằng tỳ kheo tiến sĩ, có khi nào một tỷ phú xưng mình là tỷ phú bạc triệu để oai hơn chỉ đơn thuần xưng là tỷ phú không? Tăng đã là bảo rồi thì cần phải thêm mắm muối gì cho bảo hơn nữa.
Người học đạo phải học thuộc bài học vỡ lòng thế gian là nhà của mọi huyễn nghiệp, mọi thứ thuộc thế gian đều vô thường, khổ và không thật, do chưa thông qua lớp vỡ lòng này nên coi trọng thứ bằng cấp và học vị của thế tục ban cho. Một số khác tuy không bận tâm với thế pháp nhưng lại chưa ngộ ra mọi thứ ở thế gian đều giả hữu nên chư Phật phương tiện dùng thân không thật thị hiện nơi đời gọi là hóa thân, nói các hóa pháp như ngón tay chỉ trăng, những pháp sư học giả này không lo tìm trăng, cả ngày nghiên cứu lịch sử ngón tay, phân biệt vì sao dùng ngón này mà không phải ngón nọ, do đâu chỉ tây mà không chỉ đông, vân vân. Chung cục biết đủ thứ mà vẫn không biết trăng thật nơi mô, cứ vậy mà truyền dạy nhau, để rồi những người tích chứa kiến thức cao siêu đó chỉ uổng phí bao năm làm kẻ phong trần lạc lối không biết chỗ về.
Bất cứ ai nghiên cứu đại thừa cũng đều biết về Hoa Nghiêm tam Thánh với pháp thân Phật Tỳ Lô Giá Na cùng hai vị Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền. Tam Thánh là biểu tượng phổ độ nhất thiết chúng sinh bằng vô lượng pháp môn mà kinh Pháp Hoa gọi là phổ môn. Từ pháp thân thanh tịnh dùng thật trí của Văn Thù quán sát căn tính của chúng sinh mà hành sự độ sinh Phổ Hiền bằng hóa thân nói pháp. Thật trí của Văn Thù nhiếp hết mọi căn tính chúng sinh nên là nhất thiết trí, sự hành độ sinh Phổ Hiền nhiếp hết muôn loài nên là đại nguyện hành, đại hành này cũng chính là đại bi. Pháp thân là tổng hợp của pháp phổ môn độ sinh bằng giải của Văn Thù và hành của Phổ Hiền nên thanh tịnh viên mãn, và như thế cũng cần hiểu rõ trí huệ và nguyện hành của tam Thánh đều thanh tịnh, trí huệ thanh tịnh là trí huệ độ sinh, nguyện hành thanh tịnh là nguyện hành độ sinh, nếu không độ sinh thì mọi trí huệ cũng như nguyện hành đều không hề thanh tịnh, một khi đã không thanh tịnh lại giới hạn tất nhiên không phải là đạo giác ngộ giải thoát.
Khi đức Phật tại thế giảng pháp cho các đệ tử, sau đó ai về phương nấy hành trì pháp đã nghe và chứng tứ thánh quả cho đến những vị phát tâm được thọ kí, không người nào trong số này nhờ vào việc theo sát đức Phật học hết pháp này đến pháp kia để chứng quả, ngoại trừ ngài A Nan, thế nhưng đệ nhất đa văn chỉ chứng quả thấp nhất là Tu đà hoàn, vì vậy chỉ có từ tu chứng mà không hề có từ học chứng.
Bao năm lãng phí làm khách phong trần.
Hành giả đại thừa khi phát sinh thanh tịnh huệ, tất sẽ thúc đẩy nguyện thanh tịnh và hành thanh tịnh độ nhất thiết chúng sinh. Nếu có trí huệ nhưng lấn cấn không biết phải làm gì tiếp theo để lần ra con đường giải thoát thì trí huệ ấy chỉ là một thứ kiến thức thế gian gọi là tương tợ trí, một thứ trí khuyết tật không khởi tác dụng độ sinh, như thường thấy nơi các học giả tiến sĩ và một số pháp sư đầy ắp kiến thức về "Phật học" nhưng vẫn mông lung không biết đâu là bờ giải thoát, nên cứ vẫn tử thủ trong cõi vô thường. Bỏ bao công phu năm tháng góp nhặt các kiến thức đa môn vô công dụng chỉ là kẻ chịu nắng mưa lang thang vào biển đếm cát, để rồi một môn cũng không biết hành nói gì đến hành nguyện phổ môn độ nhất thiết chúng sinh. Họ có mọi điều hiểu biết của Tổ sư nhưng vẫn chưa từng có cái biết của riêng mình, họ biết chỗ đến của các bậc Thánh nhưng họ vẫn luôn là con thuyền không bến, chẳng biết về đâu. Đó là kết quả nơi sự dùng vọng thức phân biệt của thế gian tu học kiến thức đa môn rời xa nhất lộ, để chỉ mãi làm khách phong trần đếm cát lãng phí bao năm tháng mỏi mòn không lối thoát.
Con thuyền không bến.
Mọi sai lầm trong sự nghiệp tu học cầu giác ngộ là do không khéo tư duy lời đức Phật nhấn mạnh chỉ bày rõ các pháp được hóa thân Phật thuyết đều là hóa pháp như ngón tay chỉ trăng, cần y vào nhưng phải ly mới nhận ra trăng, vì vậy đức Phật thuyết "Như Lai thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp", các pháp Như Lai nói giống như thuyền bè, đến pháp thượng cũng phải bỏ huống là chẳng phải pháp. Y vào thuyền hóa pháp để qua sông sinh tử, đến bờ giải thoát thì phải lìa bỏ thuyền. Nếu cứ mãi bám vào thuyền thì vẫn trôi nổi trên con sông sinh tử, ngày nay đa phần người tu học đạo chấp chặt vào con thuyền hóa pháp, cho đó là đạo mà không hay biết việc qua bờ kia mới chính là đạo, nên họ nỗ lực một cách lệch lạc do ngỡ rằng học hỏi góp nhặt kiến thức càng nhiều môn càng làm con thuyền thêm vĩ đại, để rồi họ trở thành thuyền trưởng đưa đồ chúng đi ngắm bờ giải thoát từ xa trên sông rồi quay về bến cũ, thuyền trưởng thì tự mãn với con thuyền của mình, thuyền nhân thì tôn kính thuyền trưởng như Phật sống, dù cả hai chưa từng đặt chân lên và chứng thực cảnh giới của bờ kia, cứ thế đời này sang đời nọ dạy nhau đóng thuyền, người theo học chỉ ao ước được làm thuyền trưởng trong tương lai, coi thuyền là cứu cánh của sự tu học, và quên hẳn cứu cánh lên bờ bên kia, đó chẳng qua là do nhận hóa pháp làm cứu cánh, nếu hiểu rõ hóa pháp chỉ là thuyền bè qua sông ắt sẽ bỏ thuyền lên bờ, và những người mong muốn lên bờ chẳng ai mong làm thuyền trưởng cả. Đó là ý nghĩa của câu "pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp".
Chấp quyền là thật, nhận hóa làm chân.
Khi ngộ nhận hóa thân là chân thật sẽ không chỉ khiến ta trở thành gã phong trần xơ xác đi đếm cát ngoài biển hay kẻ lái đò đưa chúng đi dạo, mà ngay cả những công phu tu tập nhật thường cũng trở thành các vấn đề tai hại gây trở ngại cho sự nghiệp giác ngộ giải thoát, và dĩ nhiên là không đạt được công đức.
Công đức và phúc báo khác nhau thế nào? Phúc báo là những quả báo tốt đẹp thuộc cõi nhân thiên như trường thọ, phú quý, kiện khang, vân vân, công đức là quả báo xuất thế giải thoát như trí huệ và từ bi. Đa phần tín chúng tu tập cầu được phúc báo nhân thiên, nên chỉ đắc phúc mà không đắc công đức, thiểu số tu tập trí huệ giải thoát và từ bi độ sinh nên thành tựu công đức.
Xây chùa tạo tượng vẫn không công đức.
Khi các tín đồ nhận hóa Phật là chân Phật nên dựng chùa tạo tượng tôn thờ các hóa thân với mục đích để cầu nguyện cho mọi thế dục được như ý, bởi lẽ những người này thường có tâm lý muốn cầu Phật ban dục lạc hơn là mong trở thành vị Phật buồn tẻ và mệt mỏi, buồn tẻ vì phải kiêng bỏ mọi dục lạc, không còn gì để vui hưởng, giống người sợ hóc xương mà không dám ăn cá, mệt mỏi vì cả ngày phải lo đáp ứng vô số lời cầu xin, có điều họ quên không thắc mắc do đâu ngài kiêng dục lạc vì cho rằng các thứ đó đã hư vọng lại gây đau khổ mà lại ban cho mình những thứ gieo sầu ấy, quả là đầu óc chúng sinh điên đảo khó lường nhưng cũng chính vì tâm lý tham dục đó mà đồ chúng thẳng tay gạt bỏ sự giác ngộ của đức Phật và tự trói mình muôn thuở bằng sự từ chối cầu giải thoát. Nếu chùa được xây để dùng làm chỗ cho đồ chúng cầu xin mọi thứ trói buộc của ngũ dục, hay chỉ là con thuyền không bến đỗ, khai tử pháp giải thoát giác ngộ và tạo tượng phụng thờ một vị Phật chỉ ban bố dục lạc thay vì giác ngộ chúng sinh, thử hỏi lập chùa dựng tượng với mục đích như thế là công đức hay tạo nghiệp tội?.
Tuy nhiên đa số tín đồ tăng tục đều rao truyền và tin rằng mọi thứ liên quan đến dựng chùa tạc tượng đều là công đức, họ không màng đến mục đích là để giải thoát hay gây mê tín làm tha hóa đạo pháp. Chùa là vật vô tri, công đức hay không là do cách tăng ni hành sử có đúng chính pháp không. Về việc tạo tượng, nếu chỉ biết tạo tượng hóa thân thì không thể là công đức, có chăng cũng chỉ là phúc nhân thiên, bởi hóa thân không phải pháp thân chân Phật, thế nên Đạt Ma sư tổ mới dạy đúc tượng pháp thân, hay Bố đại hòa thượng khoe pho tượng Phật không thể vẽ, không thể đúc hay tạc được của bản thân, bao giờ đúc tạc được pho tượng không thể đúc tạc, vô hình nhưng có bi trí vô ngại gánh vác chúng sinh mới đạt được công đức, còn như đúc tạc tượng hóa thân hữu hình không hề là công đức, nếu thực là công đức thì người thợ tô họa, điêu khắc, đúc tạo đều có công đức vô lượng hơn cả tu sỹ ư?, kẻ bỏ tiền ra thuê mướn làm tượng công lao không thể sánh bằng người tự làm nên phúc cũng yếu kém hơn, các kinh về quyền pháp ủng hộ việc đúc tượng hóa thân để tín chúng được phúc báo hữu lậu, vẫn hơn là vô phúc báo, song những người tu tập có trí tuệ nhắm đến việc xây dựng đúc tạo pho tượng pháp thân Phật bằng chính tâm trí huệ và thân từ bi, thượng cầu hạ hóa, khiến tâm thành chân Phật, thân thành hóa Phật có công năng độ sinh, thành tựu công đức báo thân, đúc một tượng mà có tam thân như vậy mới là công đức vô lượng. Người tu học thật pháp đều là những tay thợ khéo đúc tượng tam thân Phật như Đạt Ma tổ sư chỉ bày.
Tụng kinh lễ Phật cũng không công đức.
Tâm lý tham muốn dục lạc luôn quay lưng lại với đời sống giác ngộ giải thoát, do vậy mà thờ phụng kinh kệ lễ bái cả đời vẫn không nhích nổi một ly trí huệ từ bi nào, ngược lại còn làm tăng động lực giúp cho si nghiệp tiến thêm cả muôn vạn dặm theo tháng ngày, để rồi đâu chỉ có phúc mỏng nghiệp dày mà quanh mình chỉ thấy dày đặc nghiệp não phiền, như bóng tối vây quanh người mù, càng nhiều si nghiệp càng khó hồi đầu, Những người này dùng tụng kinh làm nhân cầu quả ngũ dục, mê muội đã khiến họ biến kinh điển vốn là cam lồ giải thoát thành độc dược dục lạc và như thế có tụng kinh suốt đời cũng không công đức.
Bố thí tạo phúc cũng vô công đức.
Phật giáo đồ quy y Phật là bậc giác ngộ, nhưng đa phần không quy y để cầu giác ngộ mà để mong nhờ bậc giác ngộ ban cho họ những phúc báo thế tục không có tính giác ngộ, điều này tuy đi ngược với bản hoài độ sinh của đức Phật nhưng được đại đa số tăng tín đồ hành xử như thể đó là giáo pháp chính thống của đạo Phật. Họ chăm hành thiện bố thí, phóng sinh, trai tăng cúng dường cầu phúc hơn là tu tập tăng trưởng trí huệ giác ngộ và từ bi độ sinh, bởi họ nghĩ rằng phúc sẽ cho hạnh phúc và cứu khỏi khổ đau. Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đã khuyến cáo họ rằng "các vị cả ngày chỉ cầu phúc báo, không cầu thoát ly sinh tử luân hồi, khi tự tính bị mê mất rồi thì phúc nào cứu cho nổi". Chỉ có công đức mới thành tựu giác ngộ giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, Lục tổ Huệ Năng dạy "không nên lầm lẫn phúc báo với công đức, phúc báo là xây chùa tạo tượng, bố thí cúng dường, còn công đức là từ nơi tự tính", ngài lại nói kệ "mê nhân tu phúc bất tu đạo, chỉ ngôn tu phúc tiện thị đạo, bố thí cúng dường phúc vô biên, tâm trung tam ác nguyên lai tạo, nghĩ tương tu phúc dục diệt tội, hậu thế đắc phúc tội hoàn tại.", người mê lo tu phúc không tu đạo, họ ngỡ tu phúc là hành đạo, bố thí cúng dường dù phúc nhiều đến mấy đi nữa song tam ác vẫn còn nguyên trong tâm, nếu nghĩ là phúc sẽ diệt tội, thì cần nhớ là đời sau tuy được phúc nhưng tội vẫn còn, vì vậy dù có tu phúc đến đâu đi nữa cũng không công đức. Bố thí chỉ vì lợi ích chúng sinh mà không vì tâm đổi chác dùng bố thí đổi lấy phúc mới được công đức.
Chăm lo thờ tượng cũng vô công đức.
Một số người xuất gia nghĩ rằng muốn kết chặt nhân duyên với các vị Bồ tát nên tuyển chọn thỉnh tượng như ý về thờ phụng riêng, ngày đêm đốt đèn dâng hương trang nghiêm bàn thờ, đối trước tôn tượng ngồi thiền lễ bái tụng niệm, thủ thỉ tâm sự và giao mọi ước vọng thế tục của mình cho Bồ tát nhờ ngài hoàn thành cho, song họ nào nghe ngài thường bảo họ hãy bỏ cái ngã bất tịnh vô thường và những ước nguyện thế tục ấy đi để thành bậc Tăng bảo gánh vác chúng sinh, và cứ thế chẳng ai nghe ai kéo dài cái đối diện vô duyên này đến muôn thuở, chưa từng gặp nhau trong phút giây.
Ôi! do không đủ huệ nhận ra thật Bồ tát nên mối duyên họ kết chung quy là mối duyên hão huyền không thật, vì họ chỉ kết duyên với tôn tượng biểu tượng của hóa thân, thế nên dù kết duyên lâu năm vẫn cùng thật Bồ tát đối diện bất tương phùng, ai đi đường nấy, ngài vẫn dạo bước trên con đường cứu khổ muôn loài, họ vẫn bo bo cầu lợi cho bản thân. Biết đến thuở nào họ mới nhận ra muốn kết duyên với thật Bồ tát cần phải phát bồ đề tâm, vì đó là nơi Bồ tát xuất sinh ra các hóa thân độ sinh, phát tâm sẽ nhận ra thật Bồ tát với ta không hai, bao giờ còn thấy ta và ngài là năng và sở thì nên hiểu rằng đó không phải là thật Bồ tát. Trên sắc tướng giả hữu thì ta với ngài thật sự là hai, nhưng về chân tính thì ta với ngài chỉ là một vì đều chung bản tính không tịch. Tính không tịch là thật tính nên là thật Bồ tát và cũng là ta thật, song chớ nên ngộ nhận ta và Bồ tát là hai không tịch, bởi không tịch là thật tính duy nhất chỉ có một, nên cả ta lẫn Bồ tát đều tan biến vào không tịch, chỉ còn lại duy nhất tính không tịch, đại sư Huyền Giác nói "năng sở song vong tính tức chân", năng và sở đều mất thì đó là chân tính, kệ lễ Phật nói "năng lễ sở lễ tính không tịch", người lễ và bậc được lễ đều tính không tịch. Huệ Trung quốc sư gọi thị giả "Phật à" ba lần, thị giả không biết gọi mình, đến khi quốc sư gọi "thị giả" khi ấy mới lên tiếng "dạ", quốc sư bảo "tôi chưa từng phụ chú, nhưng chú phụ tôi ba lần". Đạo Nhất thiền sư hỏi "chỉ dùm tôi nơi nào không có Phật để tôi nhổ đàm", các vị cao tăng này đều chỉ bày ra bệnh hôn mê thật pháp của đồ chúng.
Nhưng đa phần đồ chúng không nhận ra cái vô duyên đó của ta với chư Phật hằng bao lâu năm, phí phạm một đời cho đến muôn đời làm kẻ phong trần lam lũ biến mọi thứ tưởng như tu tập giải thoát thành hư hành. Một đời thờ hóa thân mong cầu dục thế gian, đã đưa đến kết quả thảm họa đoạn mất mọi thắng duyên, vừa chôn vùi thật Phật vừa vô duyên với trí huệ vô lậu giải thoát.
Thế mới biết do tâm mê biến Phật pháp thành phúc báo hữu lậu, do tâm ngộ biến mọi pháp đều thành công đức vô lậu. Bản tính các pháp vốn không nên là vô định pháp chỉ do nơi tâm mê ngộ dẫn các pháp đến công đức giải thoát hay các nghiệp phúc họa luân hồi của thế gian. Nếu xây và ở chùa với tâm lợi dưỡng thì chùa này là nhà thế gian, nếu xây nhà, trường học, y viện với tâm giúp đời, thì nhà cửa ấy là chùa xuất thế, vì vậy mới rõ do đâu tổ sư Đạt Ma phủ nhận việc xây chùa tạo tượng của Lương Vũ đế là không công đức, câu chuyện này hầu hết ai cũng nghe qua song hầu hết đều không hiểu.
Đạo dục và thế dục.
Hầu hết đồ chúng tại gia đến với đạo Phật để cầu xin thế dục, họ luôn cầu mong đức Phật rũ lòng từ bi giúp cho họ được mọi thứ dục ở thế gian mà họ khát cầu, trái với bản hoài của đức Phật là giúp họ giác ngộ thoát ra khỏi cảnh giới khát dục, nhưng vì nguyên nhân hiện tại là do truyền thống của đa số người đi chùa là để cầu xin, và nguyên nhân sâu xa là trải qua bao kiếp luân hồi đều huân tập thói quen này, nên không dễ gì gặp được nhân duyên với thiện tri thức và chính pháp, lại cho dù có gặp đi nữa cái thân tâm phúc mỏng nghiệp dày ấy cũng sẽ không đủ phúc huệ để nhận ra con đường giải thoát, như kẻ mù trước ánh sáng, họ vẫn nhận biết sai lầm từ vị cứu tinh là Bồ tát cho đến phương cách tiếp nhận được sự cứu.
Một số tín chúng xuất gia nhận hóa Phật là thật tuy không cầu thế dục, chỉ cầu thứ họ nghĩ là đạo dục như xây chùa tạo tượng, cúng dường bố thí, tu học quyền pháp, lễ bái tụng kinh và nghĩ đó là công đức giải thoát. Tuy nhiên các thứ đạo dục này khác nào đóng chiếc thuyền đặt tên chùa để ta cùng đồ chúng đến hẹn lại lên dạo thuyền xa trông bờ niết bàn mông lung mờ ảo, rồi ai về gia nấy, chung cục con thuyền đó không có khả năng cặp bờ bên kia, dù vậy vẫn xúm nhau bảo trì gìn giữ con thuyền để được công đức, nếu thuyền thường đưa người qua bờ thì đó quả là thuyền công đức, còn như chỉ là thuyền du lịch tâm linh đi ngắm niết bàn hư ảo thì công đức ở đâu?, thế nên Đạt Ma tổ sư đã trả lời vua Lương rằng không công đức. Đâu là con thuyền đưa người qua được sông sinh tử, chùa chiền, kinh tượng hay trí huệ và từ bi? chỉ có trí huệ của thật pháp mới là giác ngộ giải thoát, trí huệ này ai cũng có nhưng nhận được hay không tùy vào mê ngộ, mê là bị dục lạc chi phối thích làm gã phong trần đi lục lạo tìm kiếm dục lạc hay kiến thức hơn là thích làm người yên ổn vứt rác dục lạc, vì vậy càng tham đắm dục lạc càng khó nhận ra thật pháp thứ bảo vật tối thắng trong chéo áo rách của chúng sinh. Nương vào hóa Phật và hóa pháp để nhận ra chân Phật và thật pháp, bằng con thuyền hóa pháp do hóa Phật chỉ dạy đã tự đưa mình và chúng sinh sang bờ kia, nếu xây chùa tạo tượng nhưng không chấp thật coi đó chỉ là hóa pháp phương tiện thì tượng cũng như chùa đều là thuyền bảo đưa người sang sông, khi ấy xây chùa tạo tượng mới thực sự là công đức, nếu ngộ nhận hóa là chân dĩ nhiên chẳng có công đức gì. Kinh Kim cương đã khuyến cáo những người kết duyên với Phật bằng cách ôm tượng thủ thỉ cầu xin bằng bài kệ "nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai", nếu nhận sắc là ta, dùng lời lẽ cầu ta, người này đi lạc hướng, không thể thấy Như lai.
Tổng quan.
Thiền tông tam tổ Tăng Xán nói "hào ly hữu sai, thiên địa huyền cách" nói nôm na là sai một ly đi một dặm, chỉ vừa nhận lầm ngón tay là trăng thì mọi sự từ chân lý bỗng biến thành đại si mê, khi chấp hóa thân là thật thân thì mọi công phu tu tập đều trắng tay. Song sở dĩ nhận lầm là do ngã chấp, cái gì ngoài ngã đều là tha, và không thể có tha nào cùng ngã làm một, thế nên Phật và Bồ tát đều là tha nhân, dù trên thật pháp thì cùng ta là một, tam tổ Tăng Xán giải thích "tâm nhược bất dị, vạn pháp nhất như", nếu tâm không chấp ngã và tha (khác nhau) thì muôn pháp đều là một. Tâm vừa mới dị lập tức nhất như biến thành vạn pháp, tâm nếu không dị thì vạn pháp hóa nhất như, nên mới nói chỉ sai một ly đã cách xa muôn trùng, và như thế chỉ cần hàng phục tâm thường dị mà Tam tổ cho là tâm giản trạch quen phân biệt chọn lựa thì thật pháp tự hiển bày, Tam tổ nói "nhãn nhược bất thùy chư mộng tự trừ", nếu mắt không ngủ thì mộng có đâu mà trừ. Lục tổ Huệ Năng trong Vô tướng tụng cũng xác quyết "bồ đề bổn tự tính, khởi tâm tức thị vọng, tịnh tâm tại vọng trung, đản chính vô tam chướng", tự tính vốn sẵn giác, khởi tâm là thành vọng, tuy trong vọng nhưng tâm giác vẫn tịnh không vướng ba chướng.
Mọi vấn đề phát sinh từ tâm nên phải giải quyết tại tâm, thế nên Thiền tông chủ trương kiến tính thành Phật, đó là khi nhận ra tự tính tức thật tính thì là Phật, mê mất tự tính thì thành chúng sinh, thành Phật hay chúng sinh đều ngay tự tâm, nên người tu giác ngộ không thể cầu Phật ngoài tâm mà phải cầu kiến tính minh tâm, và muốn vậy phải tu huệ để nhận ra nguồn gốc của mọi pháp, như rễ thì đồng nhất mà cành lá thì có muôn ngàn sai khác, cái học phân biệt mọi lá cành là kiến thức thế gian, sự nhận thức được chỉ một gốc rễ là trí huệ của xuất thế. Kiến thức do học thành, trí huệ do hành thành, sở dĩ nói hành là vì trí huệ liên quan đến từ bi, do từ bi có công năng phát triển lòng vị tha, tiêu trừ thói vị kỷ. Từ bi là sự hành của trí huệ, trí huệ là lý giải của từ bi, bi trí không khác mà chính là, trí huệ thiếu bi là tà huệ, từ bi mà thiếu huệ là tình cảm ngã ái. Tham ái là sự hành của kiến thức, kiến thức là lý giải của tham ái. Đó là lý do y trí không y thức, để giác ngộ phải chuyển bát thức thành tứ trí.
Tựu chung bất kể mọi thiện pháp như xây chùa tạo tượng, tụng kinh lễ bái, thờ cúng Phật tượng nếu không phát khởi từ bồ đề tâm đều vô công đức như kinh Hoa Nghiêm khuyến cáo "lìa bồ đề tâm tu các thiện nghiệp đều thành nghiệp ma", cũng do không phát tâm nên không nhận ra thật pháp, chỉ biết tu học hóa pháp, lại vì hóa pháp đa môn nên chỗ chứng quả thành có đại tiểu sai khác, nếu tu học thật pháp vốn chỉ một thì đều chứng cùng một quả vô thượng bồ đề.
ĐT 3.3.23