Home > Khai Thị Phật Học > -Sau-Ba-La-Mat
Sáu Ba La Mật
| Hòa Thượng Thích Pháp Chánh, Việt Dịch


J3. Thứ tự tu học như thế nào
K1. Pháp tổng quát hành giả phải tu học
L1. Học hành sáu độ thành thục chính mình
M1. Học xứ bố thí
N1. Tự tánh của bố thí
N2. Sự khác biệt của bố thí
O1. Sự khác biệt giữa người bố thí
O2. Sự khác biệt giữa các tự tánh của bố thí
N3. Pháp sanh khởi của thân tâm
M2. Học xứ trì giới
N1. Tự tánh của giới
N2. Sự khác biệt của giới
N3. Pháp sinh khởi của thân tâm
M3. Học xứ nhẫn nhục
N1. Tự tánh của nhẫn nhục
N2. Sự khác biệt của nhẫn nhục
N3. Pháp sinh khởi của thân tâm
M4. Học xứ tinh tiến
N1. Tự tánh của tinh tiến
N2. Sự khác biệt của tinh tiến
N3. Pháp sinh khởi của thân tâm
M2. Học xứ thiền định
N1. Tự tánh của thiền định
N2. Sự khác biệt của thiền định
N3. Pháp sinh khởi của thân tâm
M2. Học xứ trí tuệ
N1. Tự tánh của trí tuệ
N2. Sự khác biệt của trí tuệ
N3. Pháp sinh khởi của thân tâm
L2. Học hạnh tứ nhiếp thành thục hữu tình

J3. Thứ tự tu học như thế nào.

K1. Pháp tổng quát hành giả phải tu học.

L1. Học hành sáu độ thành thục chính mình.

M1. Học xứ bố thí.

N1. Tự tánh của bố thí.

Tự tánh của bố thí là thiện tâm sở tư và xả, cùng những nghiệp thân và miệng do hai tâm sở này phát động. Tư tâm sở chính là sự tư duy dẫn khởi thân và miệng phát động hành vi bố thí. Trong pháp bố thí ba la mật không đề cập đến vấn đề đem tài vật bố thí diệt trừ bần khổ cho chúng sinh, mà chỉ đề cập đến sự tu tập diệt trừ tự tâm tham chấp, cùng tu tập tâm thí xả quả báo bố thí cho chúng sinh. Nếu tu tập tâm này viên mãn thì thành tựu Bố thí ba la mật đa.

N2. Sự khác biệt của bố thí.

O1. Sự khác biệt giữa người bố thí.

Bồ Tát Biệt Giải Thoát Kinh cho rằng “chỉ có người tại gia tu tập tài thí, còn người xuất gia tu tập pháp thí, không tu tập tài thí.” Tập Bồ Tát Học Luận nói: “Đây là mật ý, có nghĩa là [vì tài thí có thể] chướng nạn cho sự tu tập văn tư tu, cho nên ngăn cấm người xuất gia không cho tu tập tài thí.” Nhưng điều này chỉ ngăn cấm không cho người xuất gia không tài sản, đi tìm cầu tài vật để bố thí, chứ còn đối với những người xuất gia không cần phải tìm cầu mà vẫn có nhiều tài vật [do thí chủ cúng dường], hoặc do phước lực đời trước chiêu cảm có nhiều tài vật, thì những người xuất gia này cũng phải cần tu tập tài thí. Ngài Hạ Nhạ Ngõa nói: “Đối với những người xuất gia, tôi không nói đến công đức của tài thí, mà chỉ nói đến họa hoạn của sự chấp giữ tài vật.” Lời dạy này có thể va chạm mạnh đến những người xuất gia đang bận rộn truy cầu tài vật, tích tập tài sản để bố thí, nhưng lại thường vi phạm giới luật.

O2. Sự khác biệt giữa các tự tánh của bố thí.

Có ba loại bố thí: (1) Pháp thí, nghĩa là tuyên thuyết chánh pháp, cùng các môn công xảo thế gian, dạy dỗ đúng pháp các sự nghiệp chánh đáng, đồng thời khiến cho họ thọ trì giới pháp Bồ tát. (2) Vô uý thí, nghĩa là giúp chúng sinh vượt qua những nỗi sợ hãi về sự hà hiếp của chính quyền, sợ hãi bị cướp giật, sợ hãi cọp, beo, hùm, sói, cùng các thiên tai nước lửa, v.v...

(3) Tài thí, nghĩa là dùng tài vật bố thí cho kẻ khác.

N3. Pháp sanh khởi của thân tâm.

Nếu bỏn sẻn thân mạng, tài sản, không thể thành tựu bố thí ba la mật. Bỏn sẻn là một phần của tâm tham. Ngay cả các vị A la hán và Bích chi phật cũng đã đoạn trừ tận gốc các chủng tử tham, cho nên hành giả Đại thừa không chỉ đoạn trừ sự bỏn sẻn chướng ngại bố thí, mà còn phải tu tập ý nguyện bố thí tất cả tài sản đến tất cả chúng sanh. Lại phải tu tập quán sát: (1) họa hoạn của sự chấp giữ và (2) công đức của sự thí xả. Phần (1), như đã được nói trong Nguyệt Đăng Kinh: “Quán sát thân thể bất tịnh, sinh mệnh chuyển biến như giọt nước chảy trên triền núi, thân mạng đều bị nghiệp lực sai khiển, không được tự chủ, hư vọng như mộng huyễn, cho nên cần phải đoạn trừ tâm tham luyến. Nếu không, do tâm tham bức bách, tạo nhiều tội ác lớn mà phải bị đọa vào ác đạo.” Phần (2), như Tập Bồ Tát Học Luận nói:

Như vậy, thân tâm ta,
Nhớp nhúa, lại vô thường,
Từng sát na biến hoại,
Nếu dùng thân vô thường,
Chứng Bồ đề thường tịnh,
Há chẳng phải tuyệt vời.

Phương pháp chánh thức sinh khởi [tâm thí xả], như Nhập Bồ Tát Hành Luận nói:

Vì muốn lợi hữu tình,
Nguyện cho không sẻn tiếc,
Thân, tiền và vật dụng,
Những việc lành ba đời. (Phẩm Ba, kệ 10)

Nghĩa là thường thường tu tập tâm mong ước dùng thân, thọ dụng, và thiện căn để bố thí cho tất cả hữu tình. Lại nữa, hành giả phải nên biết rằng hiện tại thắng giải chưa thành thục, quán lực yếu ớt, đối với hữu tình, tuy đã có tâm mong muốn bố thí thân mạng, thế nhưng không nên [thực sự] bố thí xương thịt. Hơn nữa, nếu không nỗ lực tu tập lòng mong ước thí xả thân mạng, không chịu huân tập, thì trong những đời sau cũng không thể thực hiện. Tập Bồ Tát Học Luận nói: “Hiện tại tuy nhẫn, nhưng chưa thể bố thí thân mạng, cho nên bắt đầu từ hiện đời phải tu tập ý chí thí xả.” Lại nói: “Đối với các tài vật, như y phục, thực phẩm, phòng xá, v.v..., mà mình đã thật lòng bố thí cho hữu tình [nhưng chưa bố thí], nếu như [vì nhân duyên nào đó] mình phải thọ dụng [những đồ chưa bố thí], thì phải khởi ý niệm “vì muốn lợi ích hữu tình mà thọ dụng”, nếu như quên mất ý niệm này, vì ưa thích tự lợi (tự mình hưởng dụng), sẽ vi phạm [học xứ] với tâm nhiễm ô. Nếu như không có tâm tham luyến [đồ vật đã bố thí], hoặc quên mất [vật thọ dụng] là đồ vật đã hứa bố thí, hoặc vì muốn lợi ích tất cả hữu tình, thì không vi phạm với tâm nhiễm ô. Nếu đã bố thí, vật đã thành của người khác, mà lấy lại để tự mình thọ dụng, sẽ phạm tội bất dữ thủ (trộm cắp). Nếu giá trị của đồ vật đạt đến một mức nào đó, thì sẽ phạm tội tha thắng (ba la di). Nếu như khởi tưởng “dùng đồ vật của người khác để làm lợi ích cho hữu tình”, thì lúc thọ dụng, không bị phạm tội. Mật ý của câu “phạm tội tha thắng” nghĩa là nếu đối tượng của sự bố thí là người, mình đã thật lòng bố thí cho họ, người thọ nhận cũng đã biết điều đó, đã nghĩ đồ vật là của họ, nếu như mình vì tự lợi mà lấy thọ dụng, thì sẽ tùy theo giá trị của đồ vật, có thể sẽ phạm tội tha thắng . Du Già Sư Địa Luận nói: “Lại nữa, nếu thật lòng thanh tịnh, phân biệt biến hoá vô lượng vật dụng, bố thí tất cả chúng sinh, hoặc những hành giả đã đạt được thắng giải, đem sở học bố thí cho hữu tình (bố thí pháp), thì tuy dùng ít công lực, cũng được vô lượng phước báo.” Đây là sự bố thí của những Bồ tát đầy đủ trí tuệ. Trong lúc tu tập bố thí, có thể tu tập đầy đủ sáu pháp ba la mật, nếu được như vậy công năng sẽ vô cùng to lớn. Lúc hành bố thí, tác ý phòng hộ giới luật nghi của Thanh văn, dùng pháp chủng trí tu tập nhẫn chịu sự mạ lỵ của chúng sinh; vì muốn pháp thí tăng trưởng cho nên nỗ lực tinh tiến; vì không muốn sự “chuyên tâm nhất cảnh” lẫn lộn với Tiểu thừa, bèn hồi hướng công hạnh lành này về Vô thượng Bồ đề, đây gọi là thiền định; hiểu rõ người cho, người nhận và vật bố thí tất cả đều như huyễn hóa, đây gọi là bát nhã. Đầy đủ Sáu ba la mật mà thực hành bố thí.

M2. Học xứ trì giới.

N1. Tự tánh của giới.

Trì giới là dứt trừ sự tổn hại kẻ khác, và đồng thời, khiến tâm nhàm chán việc ác. Ở đây, chủ yếu là phòng hộ giới luật nghi. Đây có nghĩa là tu tập tăng trưởng tâm nhàm chán việc ác đến trình độ viên mãn thì gọi là trì giới ba la mật, chứ không có nghĩa phải khiến tất cả chúng sinh ngừng dứt sự tổn hại. Nhập Bồ Tát Hành Luận nói:

Khi đoạn hết ác tâm,
Gọi là tròn giới độ. (Phẩm Năm, kệ 11)

N2. Sự khác biệt của giới.

Giới có ba loại: (1) Luật nghi giới: Có hai loại, (a) từ phương diện phát khởi thì giới là đoạn trừ mười pháp bất thiện (thập ác), (b) từ phương diện tự tính thì giới là đoạn trừ bảy loại bất thiện của thân và miệng. Bồ Tát Địa nói: “Nói giới luật nghi [giới Thanh văn] của bảy chúng là giới luật nghi [tương tục] của Bồ tát, nghĩa là hành giả đầy đủ giới biệt giải thoát luật nghi an trụ trong giới Bồ tát luật nghi, hoặc hàng tại gia, hoặc hàng xuất gia, có đầy đủ giới luật nghi chân thực, cùng các giới luật nghi năng đoạn24F, đây là giới luật nghi. Nếu hành giả không thể thọ giới luật nghi [của Thanh văn] (chẳng hạn như loài rồng hoá hiện thân người), nhưng thọ đầy đủ giới luật nghi của Bồ tát, tương đồng với giới luật nghi, đoạn trừ tánh tội và giá tội, đây là giới luật nghi. Nên biết, giới biệt giải thoát luật nghi cũng là một phần của giới Bồ tát luật nghi, nhưng không phải chân thật là giới Bồ tát, còn các giới Bồ tát khác, lấy giới Bồ tát luật nghi làm căn bổn, hòa hợp mà hiện hữu. (2) Nhiếp thiện pháp giới: là các pháp thiện duyên với Sáu ba la mật, đối với thân tâm, chưa sinh khởi khiến cho sinh khởi, đã sinh khởi khiến cho không suy thoái, hướng thượng tăng trưởng. (3) Nhiêu ích hữu tình giới: lấy giới làm nền tảng, thực hiện những công hạnh lợi ích chúng sinh mà không vi phạm giới luật.

N3. Pháp sinh khởi của thân tâm.

Giới pháp thanh tịnh là do sự tiến chỉ, tuân thủ giới luật chế định đúng pháp mà được tự tại; điều này cũng tùy thuộc vào tâm thủ hộ giới pháp mạnh mẽ kiên cố, cần phải thường xuyên tu tập quán sát họa hoạn của việc chưa thủ hộ và công đức thù thắng của việc thủ hộ để phát khởi tâm ưa thích hộ trì giới pháp. Điều này đã được trình bày tỉ mỉ trong phần Trung sĩ đạo.

Nhiếp Ba La Mật Đa Luận nói:

Hủy giới không thành tựu tự lợi,
Làm sao đủ sức để lợi tha,
Cho nên người siêng tu lợi tha,
Nếu không giữ giới, thật phi lý.

Lại nói:

Giới giúp thành tựu đạo thù thắng,
Bình đẳng tu với pháp đại bi,
Dùng trí thù thắng làm thể tính,
Xa lìa tội lỗi, thắng trang nghiêm,
Giới hương ngào ngạt xông ba cõi,
Hương thoa tăng trưởng hạnh xuất gia,
Hình tướng tuy đồng, nếu đủ giới,
Kẻ đó thù thắng trong loài người.

Nghĩa là nếu nương vào giới, thì thân tâm sẽ thượng thượng thăng tiến, cùng chung sở học với chư Đại bồ tát đầy đủ tâm đại bi, đạt được trí tuệ thanh tịnh diệt trừ mầm mống của tất cả ác hành. Dụng cụ trang sức thế gian, nếu đem trang sức những đứa bé con, hoặc những người già lão thì trông không được đoan nghiêm, ngược lại còn bị chê cười; nhưng nếu dùng giới luật để trang nghiêm, thì bất luận già, trẻ, trung niên, nếu đầy đủ giới đức, thì mọi người trông thấy đều hoan hỷ, cho nên giới là dụng cụ trang sức thù thắng vi diệu đoan nghiêm. Hương thơm thế gian chỉ lan tỏa theo chiều thuận, không lan tỏa theo chiều nghịch, chỉ lan tỏa một phương, còn mùi hương của giới thì lan khắp mười phương. Các loại hương thoa chiên đàn thế gian tuy giảm trừ sự nóng bức, nhưng người xuất gia không thể sử dụng, còn hương thoa giới luật, diệt trừ nóng bức của sinh tử, thì lại thích ứng với người xuất gia. Tuy cùng hiện hình tướng xuất gia, nhưng những người đầy đủ giới đức thì thù thắng hơn những người khác. Luận trên lại nói:

Tuy không khoa trương, không tà ngữ,
Không bôn ba tích tụ tài sản,
Nhưng vật thọ dụng đều đầy đủ,
Không dùng lời ác để thị uy,
Nhưng được mọi người đều cung kính,
Không tham, không cầu, được tự tại,
Đối tượng không phải người thân quyến,
Chưa từng làm lợi ích cho họ,
Lại cũng chưa hề quen biết nhau,
Nhưng giới đức khiến họ kính nể,
Đất dưới bước chân thành cát tường,
Trời người giập đầu cung kính lễ,
Mang đi thờ cúng như ruộng phước.

Nên như lời dạy mà suy ngẫm. Như vậy, giới tuy có ba loại, nhưng luật nghi giới là chủ yếu. Gìn giữ các điều chế tội của giới luật nghi, cùng các giới “chung cho giới biệt giải thoát và giới Bồ tát” là điều quan trọng bậc nhất trong ba tụ tịnh giới của Bồ tát. Nếu hộ trì giới luật nghi thì các giới khác cũng sẽ thành tựu, còn như phá hoại giới luật nghi của Bồ tát thì cũng sẽ phá hoại tất cả giới luật nghi. Đây là lời dạy trong Nhiếp Quyết Trạch Phần. Cho nên, nếu hành giả cho rằng biệt giải thoát luật nghi là giới Thanh văn, không cần phải tuân giữ, rồi đi tìm học Bồ tát giới luật nghi ở nơi khác, thì hành giả đó hoàn toàn không hiểu rõ điểm chủ yếu của Bồ tát giới học. Luật nghi giới là nền tảng của hai loại giới nhiếp thiện pháp và nhiếp hữu tình. Điều này đã được nhắc đến nhiều lần. Điểm chủ yếu của giới luật nghi là đoạn trừ tính tội, mà điều quan trọng để diệt trừ họa hoạn lớn của tính tội là phải đoạn trừ mười nghiệp ác. Đối với mười nghiệp ác này, khi tâm an trụ trong thiền định, cũng có thể áp chế khiến chúng không phát khởi, cho nên hành giả cũng phải nên thường xuyên tu tập thiền định. Nhiếp Ba La Mật Luận nói:

Con đường thiện dẫn đến giải thoát,
Không nên phá hoại mười nghiệp lành.
An trụ, tư duy lợi chúng sinh,
Sẽ sinh quả ý nhạo thù thắng,
Phải nên phòng hộ thân khẩu ý,
Đây là giới luật do Phật chế,
Bao gồm tất cả giới căn bổn,
Đối với giới này nên tịnh tu.

Nói tóm, dùng giới luật nghi làm căn bổn, đối với giới pháp mà mình đã thọ, phải nên thường xuyên tu học, đây gọi là tu trì giới luật. Hành giả gọi là đầy đủ Sáu ba la mật, nếu tự mình an trụ trong giới luật, lại cũng dùng giới luật để an trụ trong pháp bố thí, thì gọi là thi la bố thí; những ba la mật khác cũng tương tự như vậy.

M3. Học xứ nhẫn nhục.

N1. Tự tánh của nhẫn nhục.

Nhẫn nại sự hãm hại của người khác, an nhiên nhận chịu sự khổ do tự thân sinh khởi, hơn nữa, tâm an trụ trong pháp thắng giải . Trái nghịch với tâm an nhẫn có ba loại là (1) tâm sân khuể, (2) tâm khiếp nhược, (3) không tin hiểu, không có tâm mong cầu sự hiểu biết. Viên mãn nhẫn nhục ba mật có nghĩa là hoàn toàn diệt trừ sự sân hận, v.v..., của chính mình, chứ không phải là sự diệt trừ toàn diện sự bạo ác của tất cả hữu tình.

N2. Sự khác biệt của nhẫn nhục.

Nhẫn nhục có ba loại: (1) bị kẻ khác hãm hại, không hề oán hận, (2) tự thân sinh khổ, an nhiên chịu đựng, (3) an nhẫn trong việc quyết trạch chính pháp.

N3. Pháp sinh khởi của thân tâm.

Phải nên biết (1) lợi ích của sự tu nhẫn nhục, và (2) họa hoạn của sự không tu nhẫn nhục.

(1) Lợi ích của sự tu nhẫn nhục: Nên suy ngẫm trong tương lai sẽ không có nhiều oán địch, người thân bè bạn không lìa bỏ mình, được hưởng nhiều sự an lạc, khi lâm chung không có sự hối tiếc, sau khi mạng chung được sinh về cõi trời, v.v...

Nhiếp Ba La Mật Luận nói:

Giả như muốn bỏ tâm lợi tha,
Phật nói nhẫn là pháp đối trị,
Việc thiện thế gian được thành tựu,
Là do nhẫn nhục vượt tâm sân,
Nhẫn nhục trang nghiêm bậc đại sĩ,
Là sức mạnh lớn vượt tai chướng,
Mưa lớn diệt trừ lửa hãm hại,
Đời đời ngăn chận sự hiểm nguy,
Là áo giáp cho đại trượng phu,
Khiến lời hủy nhục của kẻ ác,
Trở thành lời khen ngợi thơm tho,
Hoặc thành vòng hoa thơm tán thán.
Nhẫn giúp sắc thân thành vi diệu,
Là trang sức thắng diệu trang nghiêm.

Hành giả đối với những sự lợi ích này, trong lúc chưa đạt được sự nhẫn nhục kiên cố quyết định, cần phải thường thường quán sát tu tập.

(2) Họa hoạn của sự không tu nhẫn nhục: Nhập Bồ Tát Hành Luận nói:

Một niệm sân hủy diệt,
Ngàn kiếp từng tích tụ,

Bố thí, cúng dường Phật,
Tất cả chư phước thiện. (Phẩm Sáu, kệ 1)

Văn Thù Du Hý Kinh nói: “Một niệm sân hận hủy hoại tất cả phước thiện đã được tích tập trong trăm kiếp.”

[1] Đối tượng của sự sân hận: (a) có chỗ nói cần phải là một Bồ tát, (b) có chỗ nói là tất cả hữu tình. Lập luận (a) tương tự như Nhập Trung Luận nói:

Nếu như sân hận chư Bồ tát,

Trăm kiếp tích tập thí, giới, thiện,
Sẽ bị hủy hoại trong sát na.

[2] Thân sinh khởi sân hận: Hành giả Bồ tát khởi tâm sân hận đối với một Bồ tát đồng học còn bị hủy hoại thiện căn, huống chi không phải Bồ tát mà lại sân hận với một vị Bồ tát. Bất luận (1) hành giả có biết đối tượng là Bồ tát hay không, hoặc giả, (2) hiện tướng sân hận là thực không thực, đều tự hủy hoại thiện căn, giống như Nhập Trung Luận Chú đã nói ở trên. Nói tóm, bị hủy hoại thiện căn, không phải chỉ riêng sân hận với Bồ tát. Tập Bồ Tát Học Luận trưng dẫn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Luật nói: “Giả sử có một vị tỳ kheo ở trước tháp thờ tóc, hoặc móng tay [móng chân] của Phật, dùng lòng tin thanh tịnh, năm vóc sát đất kính lễ, thì ngay chỗ đó, sâu xuống đến tận lòng đất kim cang, có bao nhiêu vi trần, vị tỳ kheo đó sẽ hưởng phước báo ngôi vị chuyển luân thánh vương số lần nhiều gấp trăm ngàn lần số vi trần đó.” Lại nói: “Vị tỳ kheo đó, nếu như đối với một vị tỳ kheo đồng phạm hạnh mà khởi tâm sân hận, thì bao nhiêu thiện căn đã lễ Phật vừa nói trên sẽ bị hủy hoại hoàn toàn. Cho nên, đối với một gốc cây khô còn không nên khởi tâm sân hận, huống chi đối với một người đầy đủ tri thức.” Có một số người cho rằng hủy hoại thiện căn có nghĩa là phá hủy công năng sinh khởi nhanh chóng quả báo của các công đức thiện, khiến cho quả báo thiện bị trì trệ lâu dài, và quả báo của sự sân hận sẽ được sinh khởi trước, chứ không có nghĩa là trong tương lai các công đức thiện sẽ không sinh khởi quả báo. Theo đạo lý thế gian, dù dùng phương pháp nào cũng không thể đoạn trừ chủng tử, cho nên không thể đoạn trừ chủng tử phiền não. Nhưng điều này cũng không nhất định. Ví như các phàm phu dùng bốn lực đối trị những pháp bất thiện khiến trở nên thanh tịnh, tuy không phải là đoạn trừ chủng tử, thế nhưng, sau này dù gặp duyên, quả dị thục của pháp ác đó nhất định sẽ không sinh khởi. Lại như, các hành giả gia hành đạo, lúc đạt được nhẫn vị, đỉnh vị, tuy chưa đoạn tà kiến và chủng tử bất thiện (nhân của ác đạo), nhưng dù gặp duyên, cũng nhất định không sinh khởi tà kiến, không bị đọa vào ác đạo. Như nói “nghiệp nặng kéo đi trước”, nghĩa là nếu một nghiệp thiện hoặc nghiệp ác nào chín muồi trước, thì các nghiệp khác tạm ngừng tác dụng, chờ đợi cơ hội khác. Nhưng nếu chỉ dựa vào lý lẽ này thì vẫn chưa thành lập được sự hủy hoại nghiệp thiện và bất thiện. Hơn nữa các kinh điển cũng chưa đề cập đến. Nếu như thiện nghiệp tạm ngừng phát khởi quả báo thì không có thể gọi là hủy hoại thiện căn. Nếu không như vậy, thì tất cả nghiệp ác lớn đều có thể gọi là hủy hoại thiện căn. Đối với vấn đề này, ngài Thanh Biện Luận Sư nói, như phần trên đã đề cập, hai việc (1) dùng bốn lực để đối trị bất thiện, và (2) do tà kiến sân hận hủy hoại thiện căn, đều giống như làm cho hạt giống hư hoại, tuy gặp trợ duyên cũng không thể nảy mầm, sau đó dù gặp nhiều duyên cũng không thể sinh quả. Điều này cũng giống như phần trên đã nói, tuy tu bốn lực sám hối tội chướng khiến cho thanh tịnh, nhưng vẫn bị trì trệ trong việc chứng đắc quả vị. Hai quan điểm này không có mâu thuẫn. Có người cho rằng “nghiệp ác tuy có thể hủy hoại quả báo viên mãn của sự bố thí, trì giới, và sự thọ dụng thân thể tài sản, nhưng vẫn không thể hủy hoại quả đẳng lưu của sự bố thí, trì giới, hoặc sám hối thanh tịnh, và trong tương lai, thiện căn của sự bố thí, trì giới, v.v..., đã tu tập từ trước vẫn có thể phát sinh dễ dàng.” Có người cho rằng “tuy hủy hoại tác dụng đẳng lưu của sự bố thí, trì giới, v.v..., nhưng không thể hủy hoại sự phát sinh viên mãn thân thể, tài sản, thọ dụng, v.v...” Lại có người cho rằng, giống như trên đã đề cập, “giả như không sân hận một Bồ tát đã được thọ ký thì trong một kiếp có thể tu hành chứng đạo, hiện nay, tuy vẫn không xả bỏ sự tu hành miên mật, nhưng do vì sinh khởi một niệm sân hận, cho nên trong kiếp đó, sự tu tập trở nên trì trệ chậm chạp.” Nói tóm, giống như sự tu tập sám hối thanh tịnh không cần phải thanh tịnh tất cả tác dụng, thì sự hủy hoại thiện căn cũng không hủy hoại tất cả tác dụng. Đây là điều vô cùng trọng yếu.

Hành giả nên y cứ vào lời dạy của Đức Phật, và chánh lý mà quán sát, lại cần phải khéo léo trong việc tìm hiểu kinh điển và tư duy quyết trạch. Như vậy, sự chiêu cảm quả báo đau khổ mãnh liệt, cùng sự giảm thiểu quả báo an lạc đều không phải là họa hoạn hiện đời, mà họa hoạn [của sự sân hận] hiện đời là ý niệm không điều nhu, tâm ý không được tịch tĩnh, sự hỷ lạc có được đều vĩnh viễn tiêu tán, ngủ không ngon giấc, tâm không thể an trụ trong chánh niệm. Nếu sự sân hận gia tăng, tuy đối tượng có công ơn nuôi dưỡng bảo bọc, không những quên ơn, mà còn tìm cách sát hại. Người thân bạn bè đều tìm cách xa lánh mình, tuy ban bố cho họ ân huệ, họ cũng không dám gần gũi. Đây là những lời dạy trong Nhập Bồ Tát Hành Luận. Luận này lại nói:

Ác không gì hơn sân,
Khó không gì hơn nhẫn,
Nên phải dùng đạo lý,
Nỗ lực tu an nhẫn. (Phẩm Sáu, kệ 2)

Cho nên cần phải tư duy công đức của sự an nhẫn và họa hoạn của sự không an nhẫn, và từ các phương diện khác nhau mà tu tập sự an nhẫn. Thế nhưng, những ác hành đưa đến những quả báo khổ, hoặc phá hủy thiện căn, không nhất định phải là sân hận, mà còn những hành động như tà kiến phỉ báng nhân quả, phỉ báng chánh pháp, đối trước Bồ tát sư trưởng, v.v..., khởi tâm ngã mạn, khinh miệt, v.v... Điều này trong Tập Bồ Tát Học Luận có nói rõ.

Đối với việc tu tập an nhẫn sự oán hại, phải nên quán sát kẻ tác động có được sự tự tại trong khi gây hại hay không, do bởi họ không được tự tại cho nên mới gây hại cho kẻ khác. Điều này có nghĩa là họ bị chủng tử phiền não đời quá khứ, cùng những nhân duyên phi lý khiến họ khởi lên ý niệm tổn não, và nhân đây tạo tác sự tổn hại. Hơn nữa, kẻ gây tổn hại đó bị sự tổn hại sai khiển, giống như kẻ tôi tớ vâng lệnh chủ nhân. Nếu như kẻ gây tổn hại đó hoàn toàn không được tự tại, mà chúng ta lại sân hận với họ thì thật là phi lý. Ví như có một người bị ma nhập, đối với những kẻ đến tìm cách giải cứu cho mình lại khởi tâm sân hận, nhẫn đến đánh đập họ, nhưng những kẻ bị đánh đập biết rằng người sân hận đang bị ma nhập, hoàn toàn không tự chủ cho nên mới hành động như vậy, vì thế không hề tỏ ra phiền hà, mà lại càng gắng sức giải cứu cho người đó thoát khỏi sự sai khiển của ma. Bồ tát đối với chúng sinh cũng hành động tương tự. Tứ Bách Tụng nói:

Vì sân do ma khiển,
Thầy thuốc không phiền hà,
Năng Nhân thấy phiền não,
Không phải là chúng sinh.

Nguyệt Xứng Luận Sư cũng nói:

Không phải lỗi hữu tình,
Mà là lỗi phiền não,
Người trí khéo quán sát,
Chớ sân hận hữu tình.

Lại nữa, do tạo tác sự tổn hại dẫn đến quả báo khổ, thọ nhận quả báo của những ác nghiệp tích tập trong quá khứ, sự thọ khổ này sẽ kéo dài cho đến khi thọ hết quả báo của những ác nghiệp đã tạo. Nếu như có thể nhẫn chịu sự khổ này, thì sẽ không còn tạo tác thêm nghiệp mới [để phải nhận chịu sự khổ về sau], còn như ngược lại, nếu vì khổ mà sinh khởi sân hận, thì nghiệp lực lại tăng trưởng, lại sẽ phải chịu quả báo khổ. Ví như một người bệnh nhận chịu sự khổ [nhỏ] của sự châm cứu, để diệt trừ nỗi khổ lớn [của sự bệnh hoạn], đây là điều hoàn toàn hợp lý.

Tu tập an nhẫn sự khổ: Nếu sự khổ có thể cải thiện được, thì trong lòng không nên buồn khổ; còn nếu không thể cải thiện được, thì dù có sầu khổ cũng không ích gì, lại còn gây thêm tai hại. Nếu chúng ta quá sủng ái một đối tượng, thì tuy họ bị chút khổ, chúng ta cũng không thể nhẫn chịu nổi, trái lại, nếu chúng ta không sủng ái họ, thì dù họ có bị khổ lớn, chúng ta cũng có thể không quan tâm. Sự thọ khổ có nhiều ý nghĩa: (1) nếu không bị khổ, ắt sẽ không khởi tâm mong cầu xuất ly sinh tử, cho nên sự khổ có công năng khuyến tấn sự giải thoát; (2) nếu bị khổ nạn, ắt sẽ giảm trừ sự kiêu căng, cho nên sự khổ có công năng trừ diệt sự ngã mạn. Lại nữa, nếu phải lãnh thọ sự khổ mãnh liệt, ắt sẽ tư duy biết rõ sự khổ phát sinh từ hành động ác, và vì không muốn lãnh thọ quả khổ, cho nên tu tập dứt trừ nhân của sự khổ, vì lý do này sự khổ cũng có công năng khiến hành giả biết hổ thẹn đối với nghiệp ác của mình. Bởi vì khi bị khổ bức, ắt sẽ mong muốn sự an lạc, và vì muốn an lạc cho nên tu tập các pháp lành. Do đây sự khổ cũng có công năng khiến hành giả sinh tâm hoan hỷ đối với việc tu pháp lành. Lại nữa, do quán sát tự tâm, nghĩ đến sự khổ của kẻ khác, đối với những chúng sinh đang luân lạc trong sinh tử, phát sinh lòng thương xót. Dùng sự khổ làm đối tượng, an trụ trong đó mà tu tập.

Nhập Bồ Tát Hành Luận nói:

Không có sự việc nào,
Tập lâu mà không quen,
Tập nhẫn những khổ nhỏ,
Mới nhẫn được khổ lớn. (Phẩm Sáu, kệ 14)

Nếu có thể giữ chặt tấm áo giáp “không màng sự khổ”, thì từ sự chịu đựng các khổ nhỏ, dần dần tu tập, ắt có thể an nhẫn những khổ lớn.

Đối với “pháp”, tu tập tâm nhẫn “thắng giải kiên cố”: (1) thanh tịnh cảnh là Tam bảo, (2) hiện chứng cảnh là nhân vô ngã và pháp vô ngã, (3) nhạo dục cảnh là uy lực của chư Phật Bồ tát, (4) (5) thủ xả cảnh là nhân của thiện hành, ác hành và quả báo của chúng, (6) (7) tu tập cảnh là sẽ chứng đắc đại Bồ đề và phương tiện của nó là tu tập Bồ tát học xứ, (8) văn tư cảnh là chánh pháp, tức là mười hai phần giáo, v.v... Đối với các cảnh này dùng tâm không thiên chấp mà tu tập tăng trưởng lòng tin.

M4. Học xứ tinh tiến.

N1. Tự tánh của tinh tiến.

Bồ Tát Địa nói: “Vì muốn tu tập thiện pháp và lợi ích hữu tình, dùng tâm dũng mãnh vượt bực làm tiền đạo, phát khởi ba môn [thân khẩu ý] động nghiệp.”

N2. Sự khác biệt của tinh tiến.

Có ba loại tinh tiến: (1) Mặc áo giáp tinh tiến: Các Bồ tát trước khi phát khởi tinh tiến gia hành, tâm ý dũng mãnh, mặc áo giáp “mong cầu”, dù phải trải qua trăm ngàn vạn lần ba đại a tăng kỳ kiếp, vì muốn diệt trừ sự khổ của tất cả hữu tình, nhẫn đến ở mãi trong địa ngục để được thành Phật, cũng vẫn dũng mãnh không hề lui bước. Vì muốn thành tựu Phật quả nên tu hành tinh tiến, một khi đã tinh tiến thì sẽ không bao giờ biếng nhác, huống hồ việc tu tập những công hạnh nhỏ nhặt trong một thời gian ngắn ngủi. Đây gọi là mặc áo giáp tinh tiến. (2) Nhiếp thiện pháp tinh tiến: vì muốn tu tập Sáu ba la mật nên phát tâm tinh tiến. (3) Nhiêu ích hữu tình tinh tiến: giống như phần trên.

N3. Pháp sinh khởi của thân tâm.

(1) Lợi ích của sự tinh tiến. Trang Nghiêm Kinh Luận nói:

Trong các pháp thiện, tinh tiến thắng,
Do tinh tiến, đạt được tất cả,
Do tinh tiến, được trụ thắng lạc,
Thành tựu thế gian, xuất thế gian,
Tinh tiến được thế gian thọ dụng,
Đầy đủ sự thanh tịnh rộng lớn,
Tinh tiến vượt tát ca da kiến (thân kiến),
Tinh tiến thành tựu Phật Bồ Đề.
Nhiếp Độ Luận cũng nói:
Nếu như tinh tiến, không khiếp nhược,
Không thể nào không đắc, không thành.

Lại nói:

Phi nhân ưa lợi ích tinh tiến,
Có thể chứng đắc tam ma địa,
Ngày đêm sáu thời không luống uổng,
Công đức tư lương đều không khuyết,
Vượt mọi lợi ích của thế gian,
Tăng trưởng rực rỡ như sen xanh.

(2) Họa hoạn của sự không tinh tiến: Hải Tuệ Vấn

Kinh nói: “Đối với kẻ biếng nhác (Hán: giãi đãi), đạo Bồ đề cực kỳ xa vời. Họ không thể tu tập bố thí, nhẫn đến không thể tu tập trí tuệ. Họ cũng không thể tu tập công hạnh lợi tha.” Niệm Trụ Kinh cũng nói:

Nhân chính của phiền não,
Không gì hơn biếng nhác,
Người nào ưa biếng nhác,
Chẳng đạt được pháp nào.

Hãy nên như lời dạy mà suy ngẫm. Nghịch duyên của sự tu tập tinh tiến, có hai: (a) đối với thiện pháp, tuy biết có thể tu tập nhưng không chịu tu; (b) có tâm khiếp nhược cho rằng mình làm sao có thể tu tập pháp lành.

(a) Có hai trường hợp: (i) nghĩ rằng trong tương lai sẽ được rảnh rỗi để tu tập, thành thử hưỡn đãi; (ii) lo bận rộn những công việc tầm thường. Để đối trị trường hợp (i), nên quán sát đã được thân người, sự già bệnh chết sẽ đến nhanh chóng, sau này khó mà có được lại tấm thân quý báu này. Pháp tu tập ba điều này đã được đề cập ở phần trước (trong phần Hạ sĩ đạo). Đối trị trường hợp (ii), nên tư duy chánh pháp là nhân cho sự phát sinh bao nhiêu sự hỷ lạc đời sau, còn những việc tán loạn như sự hý luận vô nghĩa, hoặc điệu cử, không những làm mất đi những cơ hội quý báu hiện đời, mà còn gây tạo những quả báo khổ trong đời vị lai.

(b) Có ba trường hợp: (i) nghĩ rằng công đức của Phật là vô biên, rồi cho rằng mình không thể nào đạt được; (ii) nghĩ rằng những công hạnh Bồ tát, như bố thí đầu, mắt, tay chân là khó làm, rồi cho rằng mình không thể làm; (iii) nghĩ rằng sinh tử dài lâu, thọ bao nhiêu thân, phải chịu bao nhiêu sự khổ não của luân hồi, rồi sinh tâm khiếp nhược. Để đối trị trường hợp (i): Nên nghĩ rằng chư Phật đời quá khứ cũng không phải mới phát tâm là đạt đến địa vị tối cao, mà cũng chỉ như mình, dần dần tu học rồi mới thành Phật. Đức Bạc Già Phạm cũng đã nói những chúng sinh kém hơn mình bao nhiêu lần mà còn có thể thành Phật, nếu mình tinh tiến không ngừng, lo gì mà không thành Phật. Hành giả nên suy ngẫm như vậy. Để đối trị trường hợp (ii): Nên nghĩ rằng tuy vẫn phải làm những công hạnh như thí xả thân mạng, v.v..., nhưng nếu đang nghĩ là khó làm, cũng chưa cần phải vội xả bỏ thân mạng, khi tu tập đến trình độ cao, thấy việc thí xả thân mạng cũng dễ dàng như bố thí cơm rau, thì lúc đó việc thí xả không còn khó khăn nữa. Để đối trị trường hợp (iii): Nên nghĩ rằng Bồ tát đoạn trừ tội ác thì khổ quả không sinh, nếu như kiên cố thông đạt sinh tử không có tự tính, như huyễn như mộng, thì tâm không còn cảm thấy sợ hãi khổ não nữa. Dùng thân tâm làm tăng trưởng sự an lạc, tuy an trụ tại thế gian, cũng không nhàm chán các công hạnh Bồ tát. Nên tư duy như vậy để diệt trừ sự khiếp nhược.

(3) Thuận duyên của sự tinh tiến, có bốn: (a) Thắng giải lực: tu tập nghiệp quả, đối với sự thủ xả sinh khởi tâm ưa thích. (b) Kiên cố lực: khi chưa quán sát kỹ lưỡng, không bị dẫn dụ bởi bất cứ sự việc gì; khi đã quán sát cặn kẽ, phát khởi công hạnh ắt sẽ làm đến rốt ráo. (c) Hoan hỷ lực: giống như đứa trẻ đang ham chơi, không nhàm không chán, tinh tiến không ngừng. (d) Chỉ tức lực: vì siêng năng quá độ, thân tâm mỏi mệt, nhưng chỉ cần tạm nghỉ ngơi, khôi phục sức lực, lại vẫn có thể tiếp tục không ngừng. Như vậy, do diệt trừ nghịch duyên, nương vào thuận duyên, thân tâm khinh an, nhẹ như bông lau, theo gió bay đi, tinh tiến không biết lười mỏi. Trong lúc tu tập tinh tiến, phải nên đầy đủ Sáu ba la mật, tự mình tinh tiến, mà cũng khiến cho kẻ khác tinh tiến. Đây là bố thí tinh tiến. Các ba la mật khác cũng giống như vậy.

M5. Học xứ thiền định.

N1. Tự tánh của thiền định.

An trụ trong cảnh sở duyên lành, tâm nhất cảnh tính, gọi là thiền định.

N2. Sự khác biệt của thiền định.

Từ phương diện tự tánh, có hai loại là thế gian thiền và xuất thế gian thiền. Từ phương diện phẩm loại, có ba loại là xa ma tha (chỉ), tỳ bát xá na (quán) và chỉ quán song vận. Từ phương diện tác dụng, có (a) hiện pháp thân tâm an lạc trụ định, (b) dẫn phát công đức định, và (c) nhiêu ích hữu tình định. (a) có nghĩa là an trụ trong bất cứ loại định nào dẫn phát sự khinh an của thân tâm; (b) các loại định dẫn đến sự thành tựu thần thông, giải thoát biến xứ, thắng xứ, v.v..., cùng phát sinh công đức của Thanh văn; (c) các loại định dẫn đến sự thành biện mười một loại nhiêu ích hữu tình.

N3. Pháp sinh khởi của thân tâm.

Tư duy về công đức của sự tu tập và họa hoạn của sự không tu tập tĩnh lự. Phần dưới, trong phần xa ma tha sẽ nói chi tiết. Tu học tĩnh lự cần phải đầy đủ Sáu ba la mật. Tự an trụ trong tĩnh lự, và đồng thời an trụ trong các ba la mật khác. Các phần khác cũng giống phần trên.

M6. Học xứ trí tuệ.

N1. Tự tánh của trí tuệ.

Đối với quán cảnh, hoặc sự vật hoặc pháp, có thể quyết trạch (Hán: giản trạch). Ở đây bao gồm cả trí tuệ thiện xảo của ngũ minh.

N2. Sự khác biệt của trí tuệ.

Có ba loại: (a) trí tuệ thông đạt thắng nghĩa, (b) trí tuệ thông đạt thế tục, và (c) trí tuệ thông đạt nhiêu ích hữu tình. (a) thông đạt thắng nghĩa tức là thông đạt ý nghĩa chân thật của vô ngã; từ tổng tướng (tỷ độ) hoặc từ hiện lượng (lượng độ) mà thấu rõ ý nghĩa chân thật của vô ngã; (b) là trí tuệ thông đạt sự thiện xảo của ngũ minh; và (c) có nghĩa là thông đạt phương cách làm việc nghĩa lợi (mà không gây tạo tội chướng) đời này và đời sau cho tất cả hữu tình, và phương cách tu hành đúng lý.

N3. Pháp sinh khởi của thân tâm.

Nên tư duy công đức của sự sinh khởi trí tuệ và họa hoạn của sự không sinh khởi trí tuệ.

(1) Công đức của sự sinh khởi trí tuệ: Bát Nhã Bách Luận nói:

Thấy, không thấy công đức,
Trí tuệ là căn bổn,
Vì tu hai pháp này,
Nên nhiếp trì trí tuệ.

Bồ tát đối với người đến xin, bố thí thân thể mình giống như hái thuốc, nhưng không khởi lên sự phân biệt, khinh mạn, hoặc khiếp nhược, đây là do trí tuệ hiện chứng thực tướng của các pháp. Lại dùng trí tuệ thấy rõ sự suy tổn của ba cõi (phàm phu) và Niết bàn (nhị thừa), vì muốn lợi ích chúng sinh, cho nên tu học thi la, khiến giới thanh tịnh. Lại dùng trí tuệ thấu rõ sự tổn ích của bất nhẫn và nhẫn, khiến tâm được điều phục, không bị các tà hạnh khổ sở lay chuyển. Lại dùng trí tuệ biết rõ sự việc cần phải tinh tiến, cho nên tu tập tinh tiến rất nhanh chóng. Lại có thể an trụ trong sự hỷ lạc thù thắng của tĩnh lự chân thực nghĩa, lại do trí tuệ y vào chánh lý dẫn phát, cho nên có thể thành biện năm ba la mật bố thí, trì giới, v.v... Do bát nhã ba la mật mà được tự tại. Lại nữa, ví như hai công hạnh, tuy ngoài mặt có vẻ trái nghịch, nhưng dưới sự điều hòa của trí tuệ, trở nên hòa hiệp. Ví như Đại bồ tát làm chuyển luân vương, thống trị bốn châu thiên hạ, nhưng không bị cảnh dục lạc lay chuyển, đó là nhờ lực lượng của bề tôi là trí tuệ. Tương tự, thấy một hữu tình rất khả ái, tuy khởi từ tâm mạnh mẽ làm lợi ích cho họ, nhưng hoàn toàn không khởi tâm tham ái. Thấy hữu tình bị khổ não, tuy thường sinh khởi lòng đại bi, bất nhẫn đối với cảnh huống khổ đau, nhưng không bao giờ biếng nhác, sợ hãi, hoặc không ưa thích công hạnh lành. Tuy đầy đủ vô lượng sự hỷ lạc, nhưng tâm đối với cảnh sở duyên, hoàn toàn không tán động. Tuy đầy đủ bình đẳng xả tâm, nhưng đối với sự việc lợi ích chúng sinh, dù trong khoảng sát na, cũng không bỏ phế. Đây đều là do trí tuệ sai khiến. Lại có thể dùng sức mạnh của trí tuệ diệt trừ những chướng ngại vượt bực. Như Tán Sở Ưng Tán nói:

Không xả pháp tính,
Tùy thuận thế tục.

Nghĩa là các pháp mà thế gian chấp là thực có, tuy nhỏ như vi trần cũng “bất khả đắc”, thế nhưng, những hành giả đã thông đạt thực tướng, hoàn toàn tùy thuận các pháp nhân quả thế gian, không có sự trái nghịch. Cho nên có những sự việc, đối với những người tuệ lực yếu ớt, có vẻ trái ngược đến cực điểm, nhưng đối với những hành giả đầy đủ trí tuệ, sự việc không những không trái ngược, mà còn hòa thuận. Bát Nhã Bách Luận cũng nói:

Cho phép, hoặc cấm đoán,
Lời Phật, hoặc nhất định,
Hoặc là không nhất định,
Hai bên không trái nhau.

Nghĩa là trong các pháp Tiểu thừa, Đại thừa, hoặc Hiển giáo, Mật giáo, sự khai mở và cấm đoán có sự bất đồng, nhiều loại khác biệt. Những hành giả thọ trì hai loại (ví dụ vừa tu Hiển giáo vừa tu Mật giáo), tìm cầu mật ý trong nhiều loại kinh điển khác nhau, đối với hành giả thiếu tuệ lực, tuy có vẻ trái ngược, nhưng đối với hành giả thiện xảo ắt không có sự trái ngược, đây cũng là do trí tuệ lực quyết đoán.

(2) Họa hoạn của sự không sinh khởi trí tuệ: Nếu như xa lìa trí tuệ, năm ba la mật và kiến giải đều không thể thanh tịnh. Nhiếp Ba La Mật Đa Luận nói:

Nếu không trí tuệ, mà cầu quả,
Tự tánh bố thí không thanh tịnh,
Chỉ có lợi tha là thù thắng,
Ngoài ra chỉ tăng trưởng tiền tài.

Lại nói:

Không dùng trí tuệ trừ hắc ám,
Không thể đầy đủ giới thanh tịnh,
Phần nhiều là giới, ..., không trí tuệ,
Vì tuệ nhiễm ô, thành phiền não.

Lại nói:

Vì do tà tuệ nhiễu loạn tâm,
Không tin an trụ nhẫn công đức,
Không chịu phân biệt việc thiện ác,
Giống như ác vương được danh xưng.

Lại nói:

Không siêng tu tuệ, tâm lại chấp,
Kiến giải trở thành không thanh tịnh.

Trong đây, “ác vương được danh xưng”, nghĩa là một ác vương, vừa được quyền hành, liền mất nhân nghĩa. Vì lý do này, phải nên sinh khởi trí tuệ. Hơn nữa, tùy theo năng lực mà nghiên cứu kinh điển thanh tịnh dẫn phát trí tuệ. Nhiếp Ba La Mật Đa Luận nói:

Người ngu ít học, không biết tu,
Không nghe pháp, làm sao tư duy,
Cho nên cần phải nghe chánh pháp,
Y pháp tu hành, tăng trí tuệ.
Bồ tát Di Lặc cũng nói:
Sự phân biệt tam luân,
Gọi là sở tri chướng,
Sự phân biệt san, tham,
Gọi là phiền não chướng,
Tuệ là pháp duy nhất,
Để xa lìa các chướng,
Nghe là gốc của tuệ,
Nghe pháp là thù thắng.

Tập Bồ Tát Học Luận cũng nói:

An nhẫn cầu đa văn,
Sau đó vào núi rừng,
Siêng tu tập thiền định.

Các bậc cổ đức cũng nói: “Trước tiên cần phải nghe pháp, ghi nhớ trong tâm, thường phải tư duy quán sát. Nếu như quên pháp, chỉ chuyên nhất tâm, thì sẽ không có người bạn trợ giúp tu tập. Cho nên người nghe pháp cao sẽ tu tập bậc cao, người nghe pháp bậc trung sẽ tu tập bậc trung, tuy nhiên, phải từ những pháp đã nghe, dần dần tu tập càng lúc càng tăng tiến. Nếu từ sự tư duy đưa đến quyết định kiên cố, thì khi nghe những bạn ác đàm luận thị phi, dù thiện dù ác, đều nên vứt bỏ ngoài tai, bởi vì những lời thị phi đó trong kinh chưa nói đến, và các vị thiện tri thức cũng chưa đề cập đến. Như vậy, sẽ không bị người khác lay chuyển. Nếu không trí tuệ, thấy người khác khóc, mình cũng khóc theo, thấy người khác cười, mình cũng cười theo, giống như dòng nước, theo khúc quanh mà chảy, khi nghe họ nói, mình cũng cho là thật, rồi bị họ lung lạc.” Lúc tu học Bát nhã, phải nên đầy đủ Sáu ba la mật, ví như tự mình an trụ trong trí tuệ, lại giúp cho người khác an trụ trong trí tuệ, đó là trí tuệ bố thí. Các ba la mật khác cũng tương tự.

L2. Học hạnh tứ nhiếp thành thục hữu tình.

(1) Bố thí nhiếp: trong phần học xứ Bố thí ba la mật đa đã nói qua; (2) ái ngữ nhiếp: nói pháp ba la mật đa cho những người thích hợp căn cơ; (3) lợi hành nhiếp: đối với ý nghĩa đã giảng thuyết, khiến hành giả phát khởi công hạnh, hoặc khiến cho họ chân chánh thọ trì; (4) đồng sự nhiếp: cùng với những người mình giáo hoá, học tập, thực hiện các công hạnh đem lợi lạc cho chúng sinh.

Trang Nghiêm Luận nói:

Dạy người bố thí, mình cũng thế,
Thực hành các điều đã dạy người,
Tức là đã hành pháp ái ngữ,
Cũng là lợi hành và đồng sự.

Vì sao quyết định là bốn nhiếp pháp? Vì muốn môn đồ quyến thuộc tu hành pháp thiện, cho nên trong pháp nhiếp thọ chúng sinh, trước tiên phải nói lời khả ái, điều này cũng do sự bố thí khiến cho họ vui mừng, hoặc dùng thân làm việc lợi ích khiến cho họ hoan hỷ. Sau khi đã hoan hỷ, bèn dẫn họ vào đạo. Đầu tiên phải chỉ dẫn họ phương cách tu hành, cho nên cần phải dùng lời êm ái thuyết pháp, sau khi họ đã dứt trừ sự vô tri và nghi hoặc, bèn khiến cho họ thọ trì giáo nghĩa chân chánh. Sau khi họ đã hiểu rõ chánh pháp, bèn dùng sự lợi hành khiến họ thọ trì pháp thiện. Nếu như dạy họ tu tập, nhưng mình lại không chịu tu, thì họ sẽ cật vấn: “Ông chưa tu, tại sao lại chỉ dạy người khác. Ông hãy còn cần phải được người khác giáo hóa.” Rồi sẽ không tiếp thọ lời dạy của mình. Nếu chính mình cũng tu tập,

thì họ sẽ nghĩ rằng: “Vị đó dạy mình tu thiện, mà chính ông ấy cũng tự tu thiện. Như vậy, nếu tu điều lành này ắt sẽ thành tựu sự lợi ích an lạc.” Nghĩ thế xong bèn tăng tiến tu tập. Các hành giả đã tu tập cũng kiên cố không thoái chuyển. Cho nên trong việc giáo hóa chúng sinh phải cần đến đồng sự nhiếp. Chư Phật nói đây là những phương tiện vi diệu để thành tựu tất cả nghĩa lợi cho chúng sinh. Cho nên các hành giả muốn nhiếp thọ đệ tử, quyến thuộc, cần phải y vào pháp tứ nhiếp này. Kệ nói:

Muốn nhiếp độ người khác,

Phải khéo y pháp này,
Thành tựu các nghĩa lợi,
Đây là diệu phương tiện.

Cách nào tu tập pháp tứ nhiếp trong mọi oai nghi? Tôn giả Atisha nói:

Bồ tát hạnh rộng lớn,
Tu Sáu ba la mật,
Sau khi tu thiền định,
Phải tu tập tư lương.

Hành giả mới thọ giới Bồ tát, an trụ trong tư lương đạo, bất luận công hạnh nào, đều không vượt ngoài Lục độ. Cho nên pháp ba la mật, (1) có khi trong giai đoạn căn bổn (thiền định) tu tập, (2) có khi trong giai đoạn hậu đắc tu tập . Đây có nghĩa là một phần thiền định tự tánh chỉ và trí tuệ tự tánh quán gọi là tu tập trong giai đoạn căn bổn; còn ba ba la mật đầu (bố thí, trì giới, nhẫn nhục) và một phần thiền định bát nhã gọi là tu tập trong giai đoạn hậu đắc. Tinh tiến thì thông cả hai giai đoạn căn bổn và hậu đắc, một phần của nhẫn là chuyên tâm tư duy pháp nghĩa thâm sâu cũng được tu tập trong giai đoạn căn bổn. Tôn giả Atisha nói:

Lúc sau khi xuất định,
Tám ví dụ như huyễn, ...
Quán các pháp mà tu,
Sau định, tu phân biệt,
Học phương tiện là chánh.
Trong lúc tu đẳng dẫn,
Chỉ, quán phải quân bình,
Thường nên tu miên mật.

Đối với những pháp hiếm có khó thực hành này, các hành giả chưa hề tu tập, nếu trong tâm cảm thấy lo lắng, e sợ, thì phải nên nghĩ rằng chư Bồ tát, lúc ban đầu cũng chưa từng tu tập qua, nhưng do tu tập nguyện cầu mà sau đó dù không cần phải gắng sức cũng vẫn tùy duyên tu tập tiến triển không ngừng. Cho nên đây là điều quan trọng nhất trong việc tu tập. Nếu thấy không thể thực hành bèn bỏ phế tất cả sự tu tập, thì sự tiến triển trên con đường đạo thanh tịnh sẽ vô cùng chậm chạp. Vô Biên Công Đức Tán nói: “Nếu pháp [được nghe] làm cho thế gian sợ hãi, thì Đức Thế Tôn từ lâu xa cũng không tu tập, [thế nhưng] Đức Phật đã dần dần tu tập pháp này đến trình độ tự tại, nếu [hành giả] không chịu tu tập, thì công đức sẽ khó mà tăng trưởng.” Bởi thế, chư hành giả đã thọ Bồ tát giới, không ai mà không tu học các công hạnh phương tiện. Các hành giả chưa lãnh thọ thực hành tâm nghi quỹ, thì nên nỗ lực tu tập tăng gia tâm cầu học, còn các hành giả vì yêu thích tu tập các công hạnh mà thọ trì luật nghi, phải nên giữ gìn thật kiên cố. Đây là lời khuyến khích.

Đến đây đã giảng xong phần Thượng sĩ đạo, tịnh tu nguyện tâm và học tập giai bậc tổng quát của Bồ Tát Hạnh.

Từ Ngữ Phật Học Trong:  Sáu Ba La Mật