Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Quan-The-Am-Bo-Tat-Nhi-Can-Vien-Thong-Chuong-Tap-11

Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương Tập 11
Hòa Thượng Thích Tịnh Không | Dịch Giả : Hạnh Chơn

  Xin mở kinh hàng thứ hai, đây là loại thứ 11 si ám trong 14 loại vô úy công đức.

Thập nhất giả, tiêu trần hoàn minh pháp giới thân tâm do như lưu ly, lãng triệt vô ngại. Năng linh nhất thiết hôn thuần tánh chướng, chư a điên già, vĩnh ly si ám”. Đoạn này là nói về lìa ngu si.

Chúng ta hiểu được ngu si là căn bản phiền não, có thể nói là căn bản của căn bản, cũng là thứ khó đoạn nhất. Người tu hành đích thực cũng dùng cái này làm một trọng điểm tu học quan trọng nhất. Đầu tiên chúng ta phải hiểu được vì sao ta ngu si? Ngu si này trong kinh luận đại thừa thường nói là căn bản vô minh, cũng chính là bất giác mà trong Khởi Tín Luận đã nói. Trong pháp môn Đại thừa đây là vấn đề trung tâm, bất giác chính là mê, chính là si, chính là ám.

Sự việc này trong Kinh Lăng Nghiêm nói rất nhiều, trong bộ đại kinh này, ở trước chúng ta nói đến quyển thứ ba. Về sau chúng ta chọn giảng một bộ phận quan trọng nhất là quyển thứ sáu. Kinh Lăng Nghiêm trước đây chúng tôi từng giảng ba bốn lần, có thể nói là giảng rất nhiều rồi. Lần này chúng tôi chọn phần quan trọng nhất để giảng, đối với người tu học lâu năm mà nói thì vô cùng lợi ích. Đối với những đồng học mới mà nói cũng tương đối nhẹ nhàng một chút. Bởi vì kinh luận này phân lượng nhiều quá, đối với người sơ học sẽ thêm phần áp lực.  

Vô minh, quí vị thấy trong kinh thường nói vô thỉ vô minh, vô thỉ là không có bắt đầu, đây là mê! Trong quyển thứ tư, Thế Tôn nêu ra cho chúng ta một ví dụ Diễn Nhược Đạt Đa Mê Đầu Nhận Ảnh, nêu ra một công án như vậy, nói cho chúng ta biết tình hình của mê. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Viên Giác, Đức Phật nói cho chúng ta: “Tất cả chúng sanh vốn đã thành Phật”. Mắt Phật nhìn chúng ta đều là Phật, Phật nhìn chúng ta đều không mê, mà là thế nào? Bản thân ta mê, điều này rất phiền phức. Là bản thân ta mê, người khác không thấy ta mê, nếu quý vị không tin tôi sẽ nêu ra một ví dụ khác.

Có một người đồng tu, lúc chúng tôi cùng đi ra ngoài, ông ta vô cùng lo lắng, chạy khắp nơi tìm đồ vật, tìm rất lâu mà tìm không ra. Ông ta hỏi mọi người: anh có thấy cái ví của tôi ở đâu không? Ví đương nhiên rất quan trọng rồi, bên trong đựng tiền, đựng chìa khóa, rất quan trọng, lo đến nỗi toát cả mồ hôi. Ví da của ông ta để ở đâu? Đeo ở trên người, chúng tôi vừa nhìn “không phải ví da đeo ở đây sao?”, ông ta lập tức ngộ ra.

Quí vị nghĩ xem ông ta mê ở đâu vậy? Chúng ta thấy thì ông ấy không mất đồ, rõ ràng là đeo trên người mà. Nhưng bản thân ông ấy lo đến nỗi toàn thân toát mồ hôi. Chạy khắp nơi mà kiếm, kiếm không ra, chạy khắp nơi hỏi mọi người “các ngươi có thấy hay không?”

Diễn Nhược Đạt Đa mê đầu nhận ảnh cũng là như vậy. Phật nhìn chúng ta cũng giống như vậy. Bản thân chúng ta lo đến nỗi toàn thân toát mồ hôi, tìm bậy khắp nơi, làm gì hiểu được thứ cần tìm hóa ra ngay trên thân mình. Những đạo lý này có thể nói ở trong kinh luận đã nói rất nhiều, thực sự mà nói thì không mê.

Có ba quyển Kinh Lăng Nghiêm trước là cũng đủ dùng rồi. Nêu ra chân tâm tuy không nói rõ, cũng tương đương với toàn bộ đã thấu lộ ra rồi, đều hiển thị ra. Mười lần hiển kiến, càng nói thấu đáo, tánh thấy, tánh nghe căn tánh sáu căn của chúng ta. Quí vị xem sau khi Thế Tôn nói xong, ngay cả Vua Ba tư nặc cũng đại triệt đại ngộ, cũng đã hiểu.

Căn tánh sáu căn này đã từng mê chăng? Chưa từng mê qua, hiện tại có mê chăng? Hiện tại vẫn không mê, tương lai có bị mê hay chăng? Vĩnh viễn không mê, đó chính là căn bản trí, đó chính là Phật tánh. Lúc nó khởi tác dụng tận hư không biến pháp giới, quá khứ vị lai không gì không biết, không gì là không thể. Những trí năng này hiện tại quí vị đều vốn đã đầy đủ, vốn đã đầy đủ nhưng bị mê, mê như thế nào vậy? Trong Kinh Lăng Nghiêm nói “tri kiến lập tri, thị vô minh bổn", đây là nói vì sao mà mê.

Trong Khởi Tín Luận nói “nhất niệm bất giác”, một niệm bất giác này khiến cho tâm thanh tịnh của ta, tức là tâm thanh tịnh viên giác, tức chân như bản tánh. Nhất niệm bất giác tức là mê, sau khi mê, chúng ta không gọi nó là tâm thanh tịnh nữa, không gọi là bản tánh, đổi thành một cái tên khác. Trên thực tế vẫn là nó, đổi tên khác gọi là A lại da. Nhưng phiền phức ở đâu? Tức là điều này sau khi mê, nó càng ngày mê càng sâu, nó sẽ không quay đầu, phiền phức ở đây vậy? Điều nà do A lại da biến thành tam tế lục thô, mới biến hiện ra y chánh trang nghiêm của thế giới này. Đây là nói rõ mê như thế nào, làm thế nào mà mê.

Nhưng chư vị nên biết mê ngộ là một không phải là hai. Đây chính là điều không dễ dàng quay đầu lại, không dễ dàng phá mê khai ngộ. Vì sao vậy? Chúng ta luôn xem mê ngộ là hai sự việc, không biết mê ngộ là một sự việc. Giống như ví dụ chúng ta vừa nêu, ví tiền của vị đồng tu này trên thân ông ấy, bản thân ông ấy quên mất, ông ta chạy khắp nơi tìm kiếm, nó hoàn toàn chưa tách khỏi ông ấy. Cho nên vừa giác ngộ ra, giác ngộ rồi, hiện tiền rồi, không cần tìm nữa, đã mang trên người từ lâu rồi, cho nên là một không phải là hai.

Chúng ta đối với chân như bản tánh mê mất cũng là như vậy. Nói chân như bản tánh, nói A lại da thức, là một chứ không phải là hai. Nhưng sự việc này đích thực không dễ dàng đả phá, nguyên nhân chính là do ta có chấp trước. Khi nào không chấp trước nữa ta liền tỉnh trở lại. Nếu như vẫn dùng chấp trước, cho dù mười phương Như Lai giảng kinh thuyết pháp, giảng vô lượng kiếp thì trình độ của ta và hiện tại vẫn như vậy thôi, không có tiến bộ. Vì sao không có tiến bộ chứ? Bởi vì chấp trước của quí vị chưa buông xuống được. Trong chấp trước thứ lớn nhất, tức là một thứ chấp trước căn bản nhất, là ngã chấp. Trong bản kinh này nói vậy, trong kinh Viên Giác cũng nói vậy.

Vọng nhận tứ đại là thân tướng của mình, chấp trước có một cái ngã, vọng nhận lục trần duyên ảnh là tâm tướng của mình. Được rồi, quí vị ở đây có hai vọng nhận, hai vọng nhận này chính là “si ám”, chính là căn bản của “si ám”. Không biết được thứ này là giả, không phải là thật. Cho nên chúng ta nếu như không nghiêm túc, không chăm chỉ thảo luận, nghiên cứu, tu hành. Vậy thì phải hiểu được vô lượng kiếp đến nay mãi cho đến ngày nay, quí vị xem xem chúng ta vẫn mãi như thế. Vô lượng kiếp đến ngày nay, chư vị đời đời kiếp kiếp đều đang tu hành. Tu thời gian rất, ngày nay quí vị vẫn cứ như vậy. Đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn là như vậy, giống như đi học không chăm chỉ mỗi năm đều ở lại lớp, học cả đời vẫn cứ là lớp một.

Vậy thì có cách nào chăng? Cũng không có cách nào đưa ta lên cao một lớp, đây là do ta không thể phá chấp trước. Tuy thuộc làu kinh văn, không thể khởi tác dụng quán chiếu, đọc kinh luận, chấp trước trong kinh luận đó, đây là sai lầm của chúng ta.

Kinh Bát Nhã thường dạy cho chúng ta: y văn tự Bát nhã khởi quán chiếu Bát nhã, chứng thật tướng Bát nhã. Chúng ta đã có văn tự Bát nhã, ngày ngày đều đọc kinh, ngày ngày đều nghe kinh, đây đều là văn tự Bát nhã, nhưng sau đó một bước công phu bị mất rồi. Không có khởi tác dụng quán chiếu, cho nên không có cách nào chứng đắc thật tướng. Ngày nay chúng ta thiếu sót đó là thiếu sự quán chiếu này.

Hôm nay chúng tôi nói tỉ mỉ cho chư vị về đoạn kinh văn này: “Tiêu trần hoàn minh”, hoàn là quay đầu, đây đã nói rõ rồi. Vừa rồi nói với mọi người: chúng ta từ vô thỉ kiếp đến nay vọng vi minh giác, tức là trong bản kinh này nói “tri kiến lập tri”. Khởi vô minh như vậy, làm cho bổn minh mất đi.

“Mê mình là vật”, câu này không dễ hiểu. Bản thân là gì? bản thân là pháp thân. Làm cho pháp thân mê rồi, cho rằng là vật ở bên ngoài – ngoại vật – không hiểu được là pháp thân thanh tịnh của bản thân, không biết được. “Nhận vậy là mình”, điều này điên đảo, ý nghĩa này tôi nói như vậy e rằng chư vị trong chốc lát vẫn chưa thể lãnh hội được.

Chúng ta nêu thêm một ví dụ để nói, tôi tin rằng quí vị đều từng nằm mơ, ngày ngày đều nằm mơ, chúng ta sẽ lấy giấc mơ làm ví dụ. Lúc đang nằm mơ, trong giấc mơ đó nhất định có bản thân mình, không có bản thân mình vậy thì ai nằm mơ chứ? Cho nên trong mơ bất luận là mơ điều vô cùng kỳ quái gì đó, thì trong mơ nhất định không thể thiếu bản thân mình. Còn có một số người, còn có một số vật, cũng có trời đất, cũng có núi sông, lúc tỉnh lại quí vị có suy nghĩ rằng giấc mơ này từ đâu mà có chăng. Cảnh mộng này là từ nơi nào mà hiển hiện ra, có từng nghĩ đến vấn đề đó chăng?

Ở trong mơ, bản thân, người khác, núi sông, đất đai cho đến hư không đều là vật mà trong tâm bản thân ta biến hiện ra. Năng biến là tâm của mình, sở biến là cảnh giới trong giấc mơ. Toàn thể cảnh mộng không phải là bản thân ta vậy là ai? Quí vị nghĩ nghĩ xem là ai?

Tôi muốn nói với chư vị rằng cái gì gọi là pháp thân? Toàn thể cảnh mộng chính là pháp thân. Vì sao vậy? Đều là thân của bản thân ta, chính như nhà Phật nói “tâm ngoại vô pháp, pháp ngoại vô tâm”. Quí vị nghĩ nghĩ xem trong cảnh mộng có pháp nào không phải là chân tâm của mình? Pháp pháp đều là chân tâm mình, cho nên trong cảnh giới đó, thực sự nhập vào cảnh giới này rồi gọi là nhất chân pháp giới. Cảnh giới này là một chứ không phải là hai, không những trên lý mà nói là một, tướng cũng là một.

Tương lai quý vị tu hành đến cảnh giới cao, nói cho quí vị biết phải tu hành nhất tướng tam muội, nhất hành tam muội.  Nhất tướng tam muội, nhất hành tam muội chính là cùng một đạo lý như vậy. Vậy nên, chư vị nếu như thực sự hiểu rõ rồi hoảng nhiên đại ngộ. Tận hư không biến pháp giới là hiện tướng của chân như bản tánh của bản thân chúng ta hiện ra. Điều này và cảnh mộng đều như nhau. Điều này chúng ta không giác, không giác chính là mê. Mê liền hiện cảnh giới này, cũng giống như nằm mơ vậy, hiện cảnh giới này.

Nhưng hiện tại ta khiến cho thập pháp giới y chánh trang nghiêm mà bản thân mình biến hiện ra bị mê mất, cho rằng đó là vạn vật, vật ở ngoài thân, vật ở ngoài tâm, đây là do mê, đây là do ta bất giác. Cũng giống như trong mơ vậy, bản thân đang nằm mơ, trong mơ đó là người bên ngoài, đó là cảnh giới bên ngoài, không liên quan gì đến bản thân, hoàn toàn giống với tình hình này vậy.

Trong tất cả vạn vật nắm bắt được một tí như vậy rồi cho rằng là chính mình. Lấy tâm lục trần duyên ảnh, thân tứ đại giả hợp, cho rằng đây là chính mình, đây là chính mình không sai, đích xác là bản thân. Nhưng chỉ là một bộ phận nhỏ nhỏ của bản thân mà thôi, không phải là toàn thể bản thân. Lấy một bộ phận nhỏ xem thành toàn thể, toàn thể thì bị mê mất. Cho rằng không phải là bản thân, đây gọi là si, đây gọi là vô minh, tức gọi là điên đảo.

Tất cả phàm phu không hiểu được vạn pháp duy tâm, không hiểu được bản tánh không tịch. Tánh thể là không tịch, tánh biến hiện ra tướng này. Nói với chư vị rằng vẫn là không tịch, không tịch này gọi là chư pháp thật tướng.

Chư Phật và đại Bồ Tát, chúng ta nói chứng đắc, họ chứng đắc những gì? Chính là chứng đắc không tịch này. Thể là thanh tịnh tịch diệt, tướng vẫn là thanh tịnh tịch diệt, ngay cả tác dụng cũng là thanh tịnh tịch diệt, thực sự không thể nghĩ bàn. Nói đến chứng nhất định phải là bản thân quí vị chứng, người khác không thể giúp được gì. Chư Phật Bồ Tát cũng không có cách gì, cũng không thể giúp được gì cho chúng ta, Ngài chỉ có thể chỉ ra cho chúng ta một con đường. Chúng ta đi theo con đường ngài đã chỉ, bản thân phải đi cầu chứng.

Nhị thừa Thánh giả họ không hiểu được vạn pháp duy tâm. Trong Kinh Hoa Nghiêm đã nói “ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo”. Tâm này không phải là nói tâm lục đạo duyên ảnh, tâm lục đạo duyên ảnh không có năng lực lớn đến như vậy. Tuy năng lực rất lớn nhưng so với chân tâm thì đó là gặp phải sư phụ rồi. Lực lượng của nó rất hữu hạn, cho nên người Tiểu thừa không hiểu được đạo lý này, cũng không thấy được chân tướng này, “giả danh vô lượng”.

Bồ Tát, Bồ Tát chưa kiến tánh, thông thường chúng ta nói gọi là quyền giáo Bồ Tát, họ cũng không thể hoàn toàn thông đạt sự thật của chư pháp duy tâm, cho nên Bồ Tát gọi là trung đạo. Thật ra phàm phu ngu si, Tiểu thừa chú trọng thiên chân niết bàn, trung đạo Đại thừa Bồ Tát đều không phải là pháp rốt ráo.

Chúng ta thấy ngày nay Quán Thế Âm Bồ Tát đang giảng cho chúng ta đại pháp viên đốn, ngài nói như thế nào? Chúng ta nhớ kĩ kinh văn này, Ngài dạy cho chúng ta: “Trần tiêu lại sáng, pháp giới thân tâm giống như lưu ly trong suốt vô ngại”. Đây là Bồ Tát dạy cho chúng ta, cảnh giới này đã cao lắm rồi, giống như trong Kinh Kim Cang đã nói “tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như điện”. Thập pháp giới y chánh trang nghiêm đều là pháp hữu vi, đây gọi là trần tánh, dùng trần tánh để đại diện.

Bồ Tát hiểu rõ sự việc này cũng giống như chúng ta lúc nằm mơ thấy cảnh mộng vậy, cảnh giới trong mộng là huyễn hóa, không phải là thực tại. Được mấy người phát giác được cảnh giới hiện tiền này của chúng ta là cảnh mộng? Hoàn toàn giống như cảnh trong mộng vậy, vậy là quí vị thực sự giác ngộ. Một khi đã giác ngộ được cảnh giới này hoàn toàn là cảnh mộng biến hiện ra, chân như bản tánh không giác hiện ra. Tất cả những hiện tướng hiện ra không có thứ gì không phải là bản thân ta, đều là thanh tịnh pháp thân của ta. Trong bài thơ mà Tô Đông Pha du Lô Sơn đã làm có hai câu:

“Khê thanh tận thị quảng trường thiệt,

Sơn sắc vô phi thanh tịnh pháp thân”.

Ông ấy ở trong Phật Pháp đã hơi thấu lộ được một chút tin tức, kỳ thực không chỉ cảnh giới này nhưng một điểm này cũng đã là không phải người bình thường có thể thấy được.

Bồ Tát thấu triệt căn tánh của sáu căn, trần tánh của sáu trần, thức tánh của sáu thức, thông đạt rõ ràng rồi như vậy mới có thể “tiêu lạc hôn ế”. ‘Tiêu” này chính là tiêu trừ. Tiêu trừ điều gì? Tiêu trừ mê. Cũng giống như mắt chúng ta bị một lớp bao phủ, có một lớp hiện tại gọi là đục thủy tinh thể, có một lớp bạch chướng, nhìn không thấy. Sau khi lấy đi những thứ này, mắt của quí vị lại khôi phục bình thường, như vậy mới có thể trở về với giác tánh vốn có. Giác tánh này chính là quang minh, nên gọi là “tiêu trần hoàn minh”. Trần chính là chướng ngại, chướng ngại này là mê, là si. Không si, không mê nữa thì trần sẽ tiêu mất.

Bổn minh, bổn minh chính là bổn giác mà trong Khởi Tín Luận đã nói đến, bổn giác đã khôi phục được. Hoàn chính là hoàn phục, khôi phục được rồi, khôi phục được giác tánh quang minh, đến lúc này là cảnh giới gì vậy? Lúc đến cảnh giới này quí vị hiểu được pháp pháp duy tâm, pháp pháp viên chiếu. Cho nên mới nói là “pháp giới thân tâm, giống như lưu ly, trong suốt vô ngại”. Cảnh giới này Quán Thế Âm Bồ Tát đã chứng đắc, ngài chứng đắc như thế nào? Ngài dùng công phu phản văn tự tánh chứng đắc.

Tối hôm qua giảng kinh có một người nêu ra một vấn đề, hỏi tôi làm thế nào để tu phản văn văn tự tánh? Hình như người hỏi tôi vấn đề này cũng có hơn mấy mươi người. Có thể thấy được mọi người rất quan tâm đến chân lý của những sự thật này, nếu chưa hiểu rõ, ta làm sao mà phản văn? Ta phản văn từ đâu? Ta không biết bắt tay từ đâu. Nhưng Phật Pháp nói pháp phương tiện, nói rằng phương tiện có rất nhiều môn.

Trước đây trong Lục Tổ Đàn Kinh, chúng ta đã nói tường tận rồi, trong Phật Pháp Đại thừa vừa bắt đầu tu hành đã dạy quí vị phản văn văn tự tánh. Bắt đầu tu từ đâu vậy? Bắt đầu tu từ Tam quy y. Quí vị nghĩ nghĩ xem, quy chính là phản, tức là trở lại. Tự tánh là gì? Quí vị xem trong Đàn Kinh nói cho chúng ta về tam quy y, Phật là tự tánh giác, tự tánh giác là Phật. Chúng ta sáu căn trong cảnh giới sáu trần không mê chính là giác.

Quy y Phật là gì? Trước nay là mê trong cảnh giới sáu trần, hiện tại tôi ở trong cảnh giới sáu trần hồi đầu, không mê nữa. Đây gọi là quy y Phật, quy y Phật chính là quy y tự tánh giác. Pháp là tự tánh chánh, tăng là tự tánh tịnh. Quí vị từ sáng đến tối sáu căn tiếp xúc với cảnh giới sáu trần bên ngoài, có thể quy y tự tánh giác, quy y tự tánh chánh. Chánh là không tà, không có tà kiến, giác mà không mê, chánh mà không tà, tịnh mà không nhiễm. Như vậy không gọi là phản văn thì gọi là gì? Hằng ngày công phu sáng chiều, đọc tụng nhưng không hiểu được ý nghĩa, không biết được cách tu như thế nào, còn đi hỏi người khác, đây là điều đáng được chúng ta đi phản tỉnh, đi kiểm điểm.

Vừa rồi đã nói qua căn bản của mê đích thực là ngã chấp, vọng nhận tứ đại, lục trần duyên ảnh là thân tâm của bản thân, đây là điều căn bản. Nếu như không đột phá được cửa ải này, cho dù là tu hành từ vô lượng kiếp đến nay cũng không thể thành tựu. Lời này không phải là tôi nói, trong Kinh Viên Giác Phật đã từng nói qua.

Đạo lý trong Kinh Viên Giác và đạo lý trong Kinh Lăng Nghiêm hoàn toàn tương thông, có thể dùng để chú thích cho nhau, tức là hai kinh này có thể giải thích cho nhau. Dùng Kinh Lăng Nghiêm để giải thích cho Kinh Viên Giác, dùng Kinh Viên Giác giải thích cho Kinh Lăng Nghiêm. Quí vị xem giáo nghĩa của kinh điển Đại thừa nó là quán thông, cho nên ở nơi đây thực sự là phải cẩn thận để mà lãnh hội, phải hiểu được giác và bất giác là cùng một sự việc gì.

Chư vị còn phải hiểu thêm một vấn đề nữa, là kinh luận Đại thừa không dễ dàng nghe được, không dễ dàn đọc được, hiện tại giảng kinh thực sự là càng ngày càng ít. Đây cũng là nói cơ duyên giảng kinh thực sự không dễ dàng gặp được, hi vọng mọi người phải trân trọng. Đồng thời chúng ta hiện tại có một vấn đề rất đáng tiếc, quí vị đã từng nghe, tôi xem ra hình như đều đã khai ngộ, đều không có vấn đề gì. Có lẽ đây là điều Khổng lão phu tử đã nói, đại trí nhược ngu, không có vấn đề gì, chắc phải có vấn đề.

Đặc biệt là băng ghi âm và băng ghi hình của chúng tôi, sau khi nghe xong hi vọng sẽ nêu ra thật nhiều vấn đề. Nêu ra câu hỏi chúng tôi mới theo đó mà giải đáp, giúp đỡ những người từ xa không có cơ duyên để đến hiện trường nghe kinh, đây là giúp đỡ họ. Hoặc là phát hiện người khác có vấn đề, bản thân quí vị không có vấn đề gì, quí vị cũng có thể thay người khác nêu câu hỏi. Đây là đại từ đại bi, là điều nên giúp người khác. Kinh nghĩa không thể thấu triệt hiểu nghĩa, đối với việc tu hành sẽ tạo thành chướng ngại, cho nên là tu luyện mù mờ.

“A điên già” là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Trung quốc nghĩa là không có tâm thiện, người không có tâm thiện. Nhất xiển đề là người không có thiện căn, “A điên già” là không có tâm thiện, danh từ này dùng rất rộng rãi. Trong kinh giáo Đại thừa phàm là không hiểu được chân tướng sự thật tam vô sai biệt giữa tâm, Phật, chúng sanh đều gọi là không có thiện tâm. Có thể thấy danh từ này dùng vô cùng rộng rãi, không những bao gồm chúng ta mà ngay cả nhị thừa quyền giáo Bồ Tát cũng bao gồm ở trong đó.

Hai chữ này có một chút giống như người ngu mà người xưa thường nói, người ngu mà người xưa nói có ý nghĩa giống như A điên già của người Ấn Độ. Có thể làm cho A điên già xa lìa si ám, có thể thấy công đức này vô cùng thù thắng. Nếu ta hỏi Quán Thế Âm Bồ Tát có công đức thù thắng như vậy, hiện tại chúng ta đích thực rất là ngu si, trí tuệ chưa khai, vô minh chưa phá. Quán Thế Âm Bồ Tát cần phải đại từ đại bi giúp đỡ chúng ta phá vô minh, khai trí tuệ, tại sao ngày nay chúng ta vẫn là không có biện pháp gì cả?

Ở đây chúng ta phải hiểu không phải Quán Thế Âm Bồ Tát không có năng lực, mà là bản thân chúng ta không thể tiếp thu thần lực gia trì của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nói cách khác, bản thân chúng ta có chướng ngại, không phải là Bồ Tát có tâm phân biệt, không phải Bồ Tát cự tuyệt chúng ta. Là bản thân chúng ta có chướng ngại, bản thân chúng ta bài xích thần lực công đức của Bồ Tát, không thể tiếp thu.

 Nếu như bản thân chúng ta thực sự giác ngộ rồi, tu pháp môn này của Bồ Tát thì cảm ứng với Bồ Tát, quí vị tu theo Quán Thế Âm Bồ Tát, thì vị này đương nhiên cảm ứng. Tu theo các vị Bồ Tát khác, thì nói với chư vị rằng cũng cảm ứng với Quán Thế Âm Bồ Tát. Vì sao vậy? Vì Phật Phật đạo đồng, làm gì có chuyện không cảm ứng đạo giao. Vấn đề do đâu? Vấn đề là do như pháp hay không như pháp, vấn đề chính tại nơi này. Như pháp mới có cảm ứng, không như pháp thì không có cảm ứng.

Giống như tôi vừa nói với quí vị về Tam quy y, đây là pháp môn tu hành căn bản. Khóa tu mỗi ngày trong Phật Pháp của mỗi người đều không tương đồng, đều không giống nhau. Nhưng Tam quy y là khóa tu chung, bất luận là Hiển giáo hay là Mật giáo, tám vạn bốn ngàn pháp môn không có ai không tu Tam quy y. Cho nên đây là khoa mục chung, đây là khóa mục căn bản nhất. Chúng ta cũng chưa làm được thì nói gì đến cảm ứng.

Niệm Phật là mê tâm niệm Phật, là tà tâm niệm Phật, là nhiễm tâm niệm Phật, tôi nói điều này quí vị nghe xong rất không vui. Quí vị nghĩ xem có đúng vậy chăng? Tôi nói lời chân thật, chúng ta từ sáng đến tối lúc sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, thử hỏi bản thân có mê chăng? Mê. Quí vị nơi cảnh giới khởi tâm động niệm, quí vị làm sao mà không mê được? Quí vị ở trong cảnh giới phân biệt ta người đúng sai, làm sao mà không mê được? Mê! Trong giác tâm, giác tâm là thanh tịnh.

Lục Tổ đại sư nói “bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”, vậy là thanh tịnh rồi. Trong tâm thanh tịnh vốn là vô nhất vật, anh có, tôi có, người ta có, có đúng có sai, tức là mê. Cho nên ngày nay tu hành, quí vị dùng tâm mê để tu, trong tâm mê tất cả kiến giải là tà kiến, không phải là chánh kiến, là tà trí tuệ không phải là chánh trí tuệ.

Chánh trí tuệ, quí vị xem trong kinh Bát Nhã nói “trí tuệ bát nhã”. Tri của vô tri là chánh tri, có tri là tà tri, vô tri là chánh tri. Cho nên tâm này của chúng ta là mê, là tà, kiến giải của chúng ta là tà, tâm của chúng ta là mê, tâm của chúng ta là tâm nhiễm ô. Đây là chúng ta nói đến tu hành, nói đến pháp căn bản của tu hành chưa làm được.

Trước khi nói đến vấn đề này còn có rất nhiều tầng công phu dự bị. Thực sự nói đến tu Tam quy y là nói đến tu hành, chúng ta chưa thể làm được. Nếu như y theo năm tầng thứ mà Lục Tổ đại sư đã nói, thì tu hành là tầng thứ thứ tư. Tầng thứ nhất là kiến lập tín tâm, điều này chúng ta chưa có, tín tâm của chúng ta chưa kiến lập được. Thí như vừa rồi đã nói thập pháp giới y báo chánh báo trang nghiêm là tự tâm biến hiện ra, quí vị có tin chăng? Điều này quí vị không tin cho nên tín tâm của quí vị không thể nào kiến lập được.

“Phàm có hình tướng đều là hư vọng”, “tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh”, ngày ngày tụng Kinh Kim Cang, nhưng không tin! Phật nói với chúng ta “tất cả chúng sanh vốn đã thành Phật”, chúng ta có thể tin tưởng bản thân vốn đã thành Phật chăng? Trong Kinh Hoa Nghiêm nói “niềm tin là mẹ của các công đức” học Phật phải bắt đầu từ kiến lập tín tâm. Điều đầu tiên là phải tin tưởng bản thân, tin tưởng bản thân là Phật, tin tưởng bản thân có trí tuệ vô lượng, tin tưởng bản thân vạn đức vạn năng, tin tưởng bản thân nhất định vãng sanh Tây phương. Tín tâm chưa có, thì quí vị tu cái gì?

Cho nên sau khi có tín tâm rồi phải làm một công phu dự bị. Công phu dự bị này là gì? Là đoạn phiền não. Đây chính là nói về sám hối, sám hối nghiệp chướng. Nghiệp chướng nặng muốn tu cũng tu không thành công, bắt buộc phải sám trừ nghiệp chướng. Sau khi nghiệp chướng sám trừ, lại phát nguyện, nguyện để hướng dẫn tu hành.

Thứ tư mới là tu hành, mới nói đến Tam quy, Tam quy là bước khởi đầu để tu hành, là bắt đầu của việc tu hành. Như vậy mới có thể cảm ứng đạo giao với Phật Bồ Tát. Chúng ta nghĩ xem trong việc tu hành của chúng ta năm tầng thứ này quí vị làm được mấy tầng? Nếu như nói một tầng cũng chưa có, vậy thì không phải quí vị tu mù tu bậy thì là gì? Kinh này chúng tôi giảng nhiều năm như vậy rồi, tín tâm của quí vị có kiến lập chăng? Đây là bước đầu tiên.

Bước thứ hai mới nói đến nghiệp chướng của quí vị có tiêu trừ được hay chưa. Bước thứ nhất là tín tâm của quí vị đã kiến lập hay chưa? Chưa có tín tâm. Chưa cần nói đến thành Phật, vãng sanh mà không có tín tâm, ngay cả hoằng pháp lợi sanh mà tín tâm không có thì nguy rồi! Vậy thì còn cách gì đây? Mời quí vị lên giảng tòa giảng một bộ kinh, rất khó, vô cùng khó khăn. Không khó, vấn đề chính là quí vị có tin tưởng bản thân mình chăng, quí vị không có tín tâm thì thật là khó hơn cả lên trời. Quí vị phải có tín tâm, có tín tâm thì không khó nữa.

Tôi còn nhớ, lúc tôi học Phật không có nhân duyên thù thắng như quí vị bây giờ. Muốn đọc kinh điển, kinh tìm không ra, mua cũng mua không có, muốn nghe kinh nghe cũng không được, nơi giảng kinh rất hiếm hoi. Ngày nay quí vị nhân duyên thù thắng, tôi học Phật năm thứ bảy là đã đi giảng kinh, có người còn nhanh hơn tôi nữa, học ba bốn năm thì đã ra ngoài giảng kinh, nhanh hơn cả tôi.

Ở Đài Trung chúng tôi mở giảng tòa chuyên giảng đại kinh, thầy giáo cử mấy học trò đi giảng kinh. Vào thời đó có một vị là Từ Tỉnh Dân, thầy giáo giao cho ông đi giảng Duy Thức, giảng Bách Pháp Minh Môn, ông ấy rất sợ, liền đến hỏi tôi phải làm sao? Tôi liền hỏi ông ấy, tôi nói ông học Phật mấy năm rồi? ông ấy nói tôi học Phật bốn năm rồi. Tôi nói sinh viên đại học chuyên khoa họ học Phật bao lâu? Khoảng ba bốn tháng. Tôi nói, ông bốn năm dạy cho người học ba bốn tháng còn không thể dạy được sao? Can đảm có rồi, nghĩ lại, đúng vậy, họ mới tiếp xúc với Phật Pháp chẳng qua cũng chỉ ba bốn tháng, tôi học bốn năm rồi, tôi dạy cho họ chắc cũng không có vấn đề gì. Tín tâm đã khởi lên, có tín tâm ông ta liền thành công. Can đảm đã mạnh mẽ, lên bục giảng cũng không lo sợ. Đây là nói về giới hạn thấp nhất của tín tâm.

Ngày nay nhân tài hoằng pháp rất khó có, tôi thường thường khích lệ mọi người phải phát tâm. Phát tâm đầu tiên là kiến lập tín tâm của bản thân. Như vậy mới có thể cảm ứng đạo giao với chư Phật Bồ Tát, mới có thể thực sự tiêu nghiệp chướng, khai trí tuệ.

Hai đoạn dưới đây, chúng ta đọc qua nguyên văn rồi hợp lại để giảng.

Thập nhị giả, dung hình phục văn, bất động đạo tràng, thiệp nhập thế gian, bất hoại thế giới, năng biến thập phương, cung dưỡng vi trần, Chư Phật Như Lai, các các Phật biên vi pháp vương tử. Năng linh pháp giớ,i vô tử chúng sanh, dục cầu nam giả, đản sanh phúc đức trí tuệ chi nam.

Thập tam giả, lục căn viên thông minh chiếu vô nhị, hàm thập phương giới lập đại viên cảnh. Không Như Lai tạng, thừa thuận thập phương, vi trần Như Lai, bí mật pháp môn, thọ lãnh vô thất. Năng linh pháp giới vô tử chúng sanh, dục cầu nữ giả, đản sanh đoan chánh phước đức nhu thuận, chúng nhân ái kính hữu tướng chi nữ”.

Đây chính là cầu nam tử đắc nam tử, cầu nữ tử đắc nữ tử, đây là cầu con cái. Nói đến cầu con cái, chư vị hiểu được trong số mạng không có, điều này cầu thực sự cầu được. trong số mạng đã có rồi vậy thì không tính là cầu được. Còn có trong số mạng thí như nói có một đứa con, đứa con này cũng là oan gia trái chủ, điều này tương lai đều là những đứa con gây phiền phức. Quí vị cầu với Quan Âm Bồ Tát cầu con hiếu cháu hiền, thì đó là cầu đến, là cầu được.

Quí vị phải hiểu những lý luận này, phải hiểu đạo lý này. Cầu như lý, vậy thì đích thực là có thể cầu được. Quí vị không hiểu được đạo lý này, thờ tượng Quan Âm Bồ Tát mỗi ngày lễ lạy mà cầu xin, hi vọng con sanh được một đứa con trai tốt, vậy thì chẳng ích gì cả, lạy biết bao nhiêu năm cũng không linh. Nguyên nhân là gì? Quí vị không hiểu được đạo lý này, cầu như lý như pháp không có ai là cầu không được.

Quí vị xem xem Liễu Phàm Tứ Huấn. Viên Liễu Phàm trong số mạng không có con trai, ông ấy hiểu Phật Pháp, Phật Pháp của ông ấy là học với đại sư Vân Cốc. Vân Cốc vào cuối đời nhà Minh cũng là một vị cao tăng rất vĩ đại. Liễu Phàm học với Ngài, cho nên quí vị xem ông ấy trong một đời này thực sự có cầu tất ứng. Trong Tứ Huấn nói đến đều là nói về sự tướng, đều là nói về phương pháp, tích tướng, không nói về lý luận.

Cư sĩ Liễu Phàm không hiểu lý luận, ông ấy vận dụng không được những phương pháp thiện xảo đó. Ông ta là một người hiểu đạo lý, những lý luận này đều ở trong kinh điển. Quí vị thấy Kinh Lăng Nghiêm nói như vậy, Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa cũng cách nói như vậy, Chương Quán Tự Tại Bồ Tát trong Kinh Hoa Nghiêm cũng là cách nói như vậy. Cho nên chúng ta phải thực sự có cầu, phải hiểu được những điều ở đây đã nói đến.

 Những nguyên lý nguyên tắc này “dung hình phục văn”, ý nghĩa này chính là nói thực sự hiểu được chân và vọng là sự việc gì vậy. Giống như trong kinh điển đại thừa thường nói: “Đạt vọng bổn chân, chân vọng bất nhị”. Lúc này “dung diệt vọng hình” khôi phục đến văn tánh, đây gọi là “dung hình phục văn”, dùng hình phục văn chính là trước đây đã nói đến “phản văn văn tự tánh”, ngữ cú khác nhau, nhưng trên thực tế là cùng một sự việc. Ngài dùng nhiều danh từ như vậy để nói, cũng là dạy cho quí vị ngộ từ chỗ này, ngộ như thế nào là cách phản văn văn tự tánh. Đây là khôi phục tánh nghe, tánh nghe là bất động.

Trước đây chúng ta đã giảng về mười lần hiển kiến, là nói về tánh thấy. Tánh thấy không sanh không diệt, không đến không đi, không những là không có động mà ngay cả tĩnh cũng không có, động tĩnh đã lìa hai bên. Mười lần hiển kiến, chư vị có thể nhìn thấy kiến tánh như vậy, căn tánh của năm căn khác cũng lại như vậy. tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm, tánh giác, tánh biết, tất cả đều như nhau, cho nên nó là bất động.

Bất động đạo tràng”, tức là nói chứng nhập thật tánh các pháp. Phản văn văn tự tánh tức là kiến tánh, tức là chứng đắc thật tánh. Trong pháp môn Tịnh Độ nói “lý nhất tâm bất loạn”, chính là cảnh giới này, phản văn văn tự tánh này chính là kiến tánh. Trong nhà Thiền nói minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật, vừa kiến tánh là thành Phật, điều này không giả dối tí nào cả.

Thành Phật này là Phân Chứng Phật mà Thiên Thai đại sư đã nói trong lục tức Phật. Phật Thích Ca Mâu Ni là Phật viên mãn, Phật mà quí vị thành chưa viên mãn, vì sao vậy? Vì vô minh có 41 phẩm, quí vị mới phá được một phẩm. Nhưng quí vị phá một phẩm vô minh liền thấy một phần chân tánh, quí vị thấy được chân như bản tánh, so với chân như bản tánh mà Phật đã thấy viên mãn không có gì khác nhau, không hai không khác.

Cổ nhân dùng ánh trăng để làm ví dụ, cứu cánh Phật ví dụ như trăng rằm, trăng tròn đầy, mặt trăng đó là viên mãn. Phân chứng Phật như Viên giáo sơ trú Bồ Tát thì giống như mồng hai mồng ba chúng ta nhìn thấy trăng khuyết vậy, vừa lộ ra được một chút trăng khuyết. Quí vị nghĩ xem ánh sáng của trăng khuyết và ánh sáng của trăng rằm có khác nhau chăng? Không có gì khác. Ánh trăng rằm là thực sự là ánh trăng, vậy thì ánh trăng khuyết mồng hai, mồng ba kia cũng là ánh trăng thực sự, không giả chút nào cả. Cho nên tâm tánh của quí vị lộ ra liền gọi là thành Phật.

Trong Kinh Kim Cang nói về Chư Phật Như Lai, quí vị xem chú giải của cư sĩ Giang Vị Nông nói đến 41 vị Phật, 41 vị là nói về Viên giáo. Từ Sơ Trú trở đi Thập Trú, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, đây là 41 vị, Diệu Giác chính là Như Lai quả địa. Tổng cộng là 42 vị Phật, 42 vị Phật này đều là chân Phật. Chúng ta niệm Phật niệm đến nhất tâm bất loạn, lý nhất tâm bất loạn chính là địa vị của Viên giáo Sơ trú.

Cho nên chư vị niệm Phật niệm đến lý nhất tâm là thành Phật rồi, lúc niệm đến lý nhất tâm quí vị có biết được chăng? Quí vị biết được, vì sao mà hiểu được vậy? Giống như kinh điển vừa mở ra nhìn thấy cảnh giới trong kinh nói hoàn toàn là cảnh giới mà bản thân đã thân chứng, vậy là đúng rồi, không có sai khác.

Ngày nay chúng ta nhìn thấy cảnh giới này là cảnh giới của Quán Thế Âm Bồ Tát, không phải là cảnh giới của bản thân chúng ta. Nếu như mở kinh quyển ra vừa nhìn thấy cảnh giới này chính là cảnh giới mà bản thân chứng đắc, thì bản thân sẽ hiểu được mình đã thành Phật. Vì thế đến lúc chứng quả tác dụng của kinh điển là ấn chứng cho quí vị, chứng minh cho quí vị, bản thân quí vị đến cảnh giới nào rồi, chứng minh cho quí vị. Trong quá trình tu hành nó chỉ đường cho quí vị, đến lúc chứng quả là làm chứng minh cho quí vị. Kinh điển có hai loại tác dụng như vậy.

Cho nên chúng ta thấy mỗi một đoạn, câu chữ đều dùng không giống nhau. Đây là nơi nơi đều đang nhắc nhở chúng ta, hi vọng chúng ta có thể phản văn văn tự tánh, có thể kiến tánh thành Phật. Đã kiến tánh rồi, sau khi kiến tánh lại “đi vào thế gian”, đó chính là “lên thuyền từ trở lại độ chúng sanh”. Vì vậy chư vị nếu như kiến tánh, lúc niệm đến lý nhất tâm bất loạn quí vị liền ngồi “bất động đạo tràng”. Bất động đạo tràng này ở đây chính là Lăng Nghiêm đại định.

Trong kinh luận thường nói “Na già thường tại định vô hữu bất định thời”, quí vị ở trong Lăng Nghiêm đại định, vậy thì quí vị đương nhiên đầy đủ Như Lai trí tuệ, đầy đủ Như Lai phương tiện. Lúc này “thiệp nhập thế gian”, thiệp nhập thế gian là độ chúng sanh, đây là đại từ đại bi.

Bất hoại thế giới”, đối với tất cả hiện tượng thế gian tuyệt đối không phá hoại, thiên đường vẫn là thiên đường, địa ngục vẫn là địa ngục. Quí vị biến địa ngục thành thiên đường, vậy là quí vị phá hoại địa ngục, quí vị phá hoại pháp thế gian. Nên không phá hoại pháp thế gian! Vì sao không làm hoại? Chư vị nên biết trong cảnh giới của họ là nhất chân pháp giới, không hư không thực, mộng huyễn bào ảnh.

Nói cách khác, không có hoại cũng không có thành, thành hoại đều không có. Phổ độ chúng sanh, phải độ chúng sanh có duyên, có duyên là thế nào? Người có đủ thiện căn phước đức thì làm tăng thượng duyên cho họ, vậy mới có thể độ họ. Người thiện căn phước đức chưa đầy đủ, nếu như độ họ thì phiền phức lớn rồi. Nói cách khác, là tăng trưởng vô minh tà kiến cho họ, cho nên lúc này không thể độ họ, phải đợi cơ duyên thành thục mới có thể độ họ, thành thục có tầng thứ.

Thí dụ như chúng ta dùng ngũ thừa Phật Pháp mà nói, thì nhân thừa Phật Pháp nhân duyên thành thục. Thiên thừa nhân duyên thành thục, quyền tiểu nhân duyên thành thục khác nhau. Tại giai đoạn nào thành thục thì dùng phương pháp của giai đoạn đó để tiếp dẫn họ, để giúp đỡ họ. Đây gọi là “đệ tử nhà Phật, không bỏ một ai”, đây là nói về “bất hoại thế giới”.

Năng biến thập phương cung dưỡng vi trần, Chư Phật Như Lai, các các Phật biên, vi pháp vương tử.” Đây chính là họ có thể làm cho người muốn cầu con cái có thể đạt được một đứa con tốt, nguyên lý chính tại nơi đây. Tức là Ngài có năng lực này, cúng dường khắp mười phương vi trần Chư Phật Như Lai. Hơn nữa tại các thế giới Phật làm pháp vương tử, lí của nó chính tại đây vậy. Cho nên Ngài có thể khiến cho chúng sanh trong pháp giới không có con cái muốn cầu con cái, ngài liền có thể đến cảm ứng đạo giao. Ai đến vậy? Quán Thế Âm Bồ Tát đến.

Quí vị cho rằng đứa con đó là ai? Là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát đến làm con trái của quí vị. Dưới đây không nói, quí vị cũng hiểu được Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân đến làm con gái quí vị. Quí vị nghĩ nghĩ xem, quí vị phải hiểu lý, nếu không hiểu đạo lý này, thì có tư cách gì làm phụ thân, mẫu thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Phước báo này lớn biết bao! Đây là điều chân thật, không giả chút nào.

Không những Quán Thế Âm Bồ Tát như vậy, mười phương chư Phật Bồ Tát mỗi vị đều như vậy. Cho nên nếu như thực sự hiểu được thì đích thực có cầu tất ứng, quí vị không hiểu được đạo lý này cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát tặng cho quí vị một đứa con. Ngài làm gì mà có nhiều đứa con như vậy? Cho nên phải hiểu được đạo lý, đây là nói về hóa thân. Giống như trong kinh giảng cho chúng ta thiên bách ức hóa thân. Vậy nên nói là như lý như pháp để tu học, quí vị cầu nguyện không có gì là cầu không được.

Đoạn văn dưới đây rất dễ nói, nhưng trước nó có hai câu khác nhau, đó chính là chỗ nói đến cầu con trai thì nói “dung hình phục văn, bất động đạo tràng”. Ở đoạn cầu con gái thì ngài dùng “lục căn viên thông, minh chiếu vô nhị, hàm thập phương giới, lập đại viên cảnh, Không Như Lai tạng”, mấy câu này không tương đồng. Trên thực tế, như vừa mới nói, là cùng một ý nghĩa. Đây là nói “lục căn viên thông”, chương này gọi là Chương Viên Thông. “Nhất căn phản nguyên, lục căn hỗ dụng”, đây gọi là viên thông.

 “Minh chiếu vô nhị”, đây là nói duy viên, viên đến cực điểm, cho nên mới vô nhị.

Thông, là thông đạt vô ngại, cho nên mới có thể bao hàm mười phương pháp giới. Minh là ý nghĩa của chữ chiếu, cho nên mới nói đây là đại viên cảnh trí. Vậy chúng ta hiểu được cảnh giới này là chuyển A lại da thành đại viên cảnh trí, cảnh giới này tương đối cao. Cho dù trong Viên giáo nói, thông thường cũng nói thất địa Bồ Tát trở lên là chuyển A lại da thành đại viên cảnh trí.

Hàm giới, đây là nói bản thể của Không Như Lai tạng. Ngài đầy đủ những thành tựu này, thế nên ngài mới có thể thuận theo. Thuận theo, đây chính là nữ đức, ngài có thể thuận theo pháp môn, có thể tiếp thu, có thể lãnh thọ, có thể không mất. Những thứ này vào thời xưa chúng ta nói đều là đức của người nữ. Bồ Tát có được uy đức như vậy đối với những chúng sanh muốn cầu con gái trong mười phương pháp giới, ngài dùng hóa thân này để mãn nguyện vọng cho họ. Đây cũng là bạt khổ cho chúng sanh, mãn nguyện cho chúng sanh. Chưa đạt đến năng lực này thì làm không được.

Chư Phật Như Lai mỗi mỗi đều đã chứng đắc viên thông, mỗi mỗi đều có năng lực này. Chỉ sợ chúng ta không hiểu được như pháp mà cầu, hiểu được đạo lý này rồi như lý như pháp mà cầu thì không có ai là cầu không được. Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ không lừa gạt chúng ta, sẽ không nói lời vọng ngữ, chúng ta ở đây đọc kinh về Quán Thế Âm Bồ Tát cũng giống như Quán Thế Âm Bồ Tát nói chuyện với chúng ta vậy. Thời gian đã, thập tứ vô úy đoạn sau vẫn còn một điều.

Hết tập 11

Trích từ: Kinh Thủ Lăng Nghiêm Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương

Từ Ngữ Phật Học
tam tế
(三際) I. Tam Tế. Tức Tam thế. 1. Tiền tế(Phạm:Pùrvànta): Chỉ cho quá khứ. 2. Hậu tế(Phạm:Aparànta): Chỉ cho vị lai. 3. Trung tế (Phạm: Madhyànta): Chỉ cho hiện tại. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển thượng (Đại 8, 836 thượng) nói: Quán xét thực tướng của thân, quán Phật cũng thế. Không tiền tế, không hậu tế, không trung tế; chẳng trụ ở tam tế, cũng chẳng lìa tam tế. [X. luận Đại tì bà sa Q.24; luận Câu xá Q.9]. (xt. Tam Thế). II. Tam Tế. Phạm: Traya ftavà#. Cũng gọi Tam tế thời. Tại Ấn độ, 1 năm được chia làm 3 thời kì gọi là Tam tế. Nhưng xưa nay đem tam tế phối hợp với ngày tháng thì có nhiều thuyết khác nhau, đáng chú ý hơn cả thì có thuyết của các ngài Thần thái, Chân đế, Phổ quang, Huyền trang..., trong đó, thuyết của ngài Chân đế và Huyền trang giống nhau. Đó là: 1. Nhiệt tế(Phạm:Grìsma-rtu, mùa nóng): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5 âm lịch. 2. Vũ tế(Phạm:Varwa-ftu, mùa mưa): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch. 3. Hàn tế (Phạm: Hemanta-rtu, mùa lạnh): Bắt đầu từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 1 âm lịch. Đại Đường tây vực kí quyển 2 lại chia Tam tế làm 6 thời: 1. Tiệm nhiệt(nóng dần): Từ ngày 16 tháng 1 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch. 2. Thịnh nhiệt(rất nóng): Từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5 âm lịch. 3. Vũ thời(mùa mưa): Từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch. 4. Mậu thời(mùa cây cối xanh tốt): Từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch.5. Tiệm hàn(lạnh dần): Từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11 âm lịch. 6. Thịnh hàn(rất lạnh): Từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng 1 âm lịch. [X. Câu xá luận bảo sớ Q.11; Phạm võng kinh cổ tích kí Q.hạ, phần cuối;Đại tạng pháp số Q.12]. (xt. Lịch).
Lục Trần
Lục trần chính là Ngũ trần thêm chi phần “Ý trần” hình thành nên. Đây là sáu đối tượng ở thế gian khiến chúng sanh đắm say. Lục trần bao gồm như sau:

1. Sắc trần: Là những đối tượng có hình tướng như thân thể con người, cỏ cây, sông suối…
2. Thính trần: Là tất cả những âm thanh trong thế gian.
3. Hương trần: Là tất cả những hương thơm trong thế gian.
4. Vị trần: Là tất cả những mùi vị trong thế gian.
5. Xúc trần: Là tất cả những xúc chạm trong thế gian.
5. Pháp trần: Là tất cả những hình ảnh của quá khứ lưu lại trong tâm thức.
phiền não
(煩惱) Phạm: Kleza. Pàli:Kilesa. Hán âm: Cát lệ xá. Cũng gọi Hoặc. Gọi chung những tác dụng tinh thần làm cho tâm hữu tình bấn loạn, buồn sầu, khổ não. Để đạt mục đích tham muốn, thỏa mãn những dục vọng của cái ta mà con người có ý thức hoặc vô ý thức thường đắm chìm trong cảnh buồn vui nên bị phiền não trói buộc. Trong tất cả các loại tác dụng tâm, giác ngộ là mục đích cao nhất trong Phật giáo, cho nên bất luận tác dụng tinh thần nào làm trở ngại sự thực hiện giác ngộ đều được gọi là phiền não. Phiền não tùy theo tính chất có nhiều tên gọi như: Tùy miên (Phạm: Anuzaya), Triền (Phạm:Paryavasthàna), Cái (Phạm: Nivaraịa), Kết (Phạm:Saôyojana), Phược (Phạm: Bandhana), Lậu (Phạm: Àsrava), Thủ (Phạm: Upàdàna), Hệ (Phạm: Grantha), Sử, Cấu, Bạo lưu, Ách, Trần cấu, Khách trần... Nếu phân loại thêm nữa thì rất phức tạp, nhưng thông thường cho Tham, Sân, Si là nguồn gốc của tất cả phiền não và chia làm 2 loại là Căn bản phiền não (phiền não gốc) và Chi mạt phiền não ( phiền não ngọn). Căn bản phiền não có 6: Tham, Sân, Si (Vô minh),Mạn, Nghi và Kiến (Ác kiến); trong đó, Kiến lại được chia làm 5 thứ: Thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến, gọi chung là Thập phiền não (Thập sử). Chi mạt phiền não thì tùy thuộc vào Căn bản phiền não mà sinh khởi, theo luận Câu xá thì có 19 thứ gồm: Phóng dật, giải đãi..., còn theo luận Duy thức thì có 20 thứ gồm: Thất niệm, tán loạn, bất chính tri... Ngoài ra còn có các phương pháp phân loại như: Tam lậu, Tam kết, Tứ bạo lưu, Tứ thủ, Ngũ cái, Ngũ kết, Lục cấu, Thất lưu, Thập triền..., hoặc gọi là Bát bách phiền não (108 phiền não), hoặc vì cách tính toán khác nhau, nên có các thuyết bất đồng như Bát vạn tứ thiên phiền não (84.000 phiền não). [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.43, 46, 60; luận Câu xá Q.20, 21; luận Phật tính Q.3; luận Thành duy thức Q.6].
lục căn
(六根) Phạm:Wađ indriyàịi. Cũng gọi Lục tình. Sáu khí quan cảm giác, 6 xứ trong 12 xứ, 6 căn giới trong 18 giới. Sáu căn là: 1. Nhãn căn: Cơ quan thị giác và năng lực thấy biết. 2. Nhĩ căn: Cơ quan thính giác và năng lực nghe biết. 3. Tỉ căn: Cơ quan khứu giác và năng lực ngửi mùi. 4. Thiệt căn: Cơ quan vị giác và năng lực nếm biết. 5. Thân căn: Cơ quan xúc giác và năng lực chạm biết. 6. Ý căn: Cơ quan tư duy và năng lực nghĩ biết. Năm căn trước cũng gọi là Ngũ căn, thuộc về sắc pháp (vật chất), cho nên gọi là Sắc căn. Có 2 loại: 1. Phù trần căn: Cơ quan sinh lí, lấy 4 đại (đất, nước, lửa, gió) làm thể, khi đối trước cảnh thì sinh ra thức, nhưng chỉ là tác dụng phụ trợ mà thôi. 2. Thắng nghĩa căn: Lấy tịnh sắc do 4 đại sinh ra làm tính, có tác dụng chính yếu khi căn đối cảnh sinh ra thức. Đối lại với 5 căn trước thuộc sắc pháp, Ý căn thuộc tâm pháp, là chỗ nương tựa của tâm để sinh khởi tác dụng tâm lí, tức là Vô sắc căn. Cứ theo thuyết của Hữu bộ, khi 6 thức của sát na trước rơi vào quá khứ, thì Ý căn liền dẫn khởi đẳng vô gián duyên của 6 thức vào sát na kế tiếp. Bởi thế, tác dụng của 6 thức thường phải lấy Ý căn làm chỗ nương (thông y). Nhưng ngoài Ý căn ra, còn có căn đặc biệt làm chỗ nương (biệt y) cho 5 thức trước. Còn Ý thức thì nương vào Ý căn, chứ không có căn đặc biệt nào khác. Hành phái Du già theo nghĩa Duy thức mà nói về 6 căn, chủ trương 6 căn, 6 cảnh đều là do thức bên trong biến hiện ra. Sáu căn có thể được xem là toàn thể thân tâm của con người, như kinh Pháp hoa cho rằng đọc tụng, biên chép kinh điển thì 6 căn được thanh tịnh. [X. luận Câu xá Q.1-3; luận Thành duy thức Q.1; luận Thuận chính lí Q.6; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1]. (xt. Ngũ Căn, Lục Cảnh, Lục Thức, Căn).
a lại da thức
(阿賴耶識) A lại da, Phạm: Àlaya. Là một trong tám thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạtna, a lại da), một trong chín thức (tám thức và thức A ma la) Còn gọi là A la da thức, A lê da thức, A lạt da thức. Gọi tắt là Lại da, Lê da. Các nhà dịch cũ gọi là Vô một thức , các nhà dịch mới gọi là Tàng thức. Hoặc gọi là Đệ bát thức, Bản thức, Trạch thức. Vô một thức hàm ý là nắm giữ các pháp mà không mê mất tâm tính; vì nó là gốc rễ của các pháp, cho nên gọi là Bản thức, vì nó là tác dụng mạnh nhất trong các thức, cho nên cũng gọi là Thức chủ. Thức này là gốc của vũ trụ vạn hữu, ngậm chứa muôn vật khiến cho không bị mất mát, cho nên gọi là Tàng thức. Lại vì nó là hạt giống có khả năng ngậm chứa và sinh trưởng muôn vật, cho nên cũng gọi là Chủng tử thức (thức hạt giống). Ngoài ra, A lại da cũng được gọi là Sơ sát na thức, Sơ năng biến, Đệ nhất thức. Vì ở sát na đầu tiên khi muôn vật trong vũ trụ sinh thành, thì duy chỉ có thức thứ tám này mà thôi, cho nên gọi là Sơ sát na thức. Mà thức này cũng là tâm thức hay biến hiện ra các cảnh, cho nên cũng gọi là Sơ năng biến. Từ gốc đến ngọn, nó được kể là thứ nhất, cho nên gọi Đệ nhất thức. Do ở nơi thức A lại da mới có thể biến hiện ra muôn vật, vì thế, các nhà Duy thức học chủ trương hết thảy vạn hữu đều bắt nguồn từ thức A lại da, đây cũng là một thứ Duy tâm luận. Còn như thức A lại da là chân thức trong sạch hay là vọng thức nhơ bẩn, thì đây là một vấn đề lớn đã được bàn đến rất nhiều trong giới Phật học. Cứ theo luận Nhiếp đại thừa quyển thượng phần đầu trích dẫn thuyết trong kinh Tăng nhất a hàm, và luận Câu xá quyển 16 rích dẫn thuyết trong Khế kinh (hoặc chỉ kinh Tạp a hàm), thì có thể thấy manh nha tư tưởng A lại da đã bắt nguồn từ thời đại Phật giáo nguyên thủy. Cứ theo luận Chuyển thức, luận Nhiếp đại thừa quyển thượng phần đầu, kinh Phật bản hạnh tập quyển 33, luận Câu xá quyển 16, luận Đại tì bà sa quyển 145 v.v... nói, thì các sư của thời đại Bộ phái Phật giáo đều dựa vào thuyết Ái dục duyên khởi mà giải thích A lại da là ái trước, tham ái, hoặc là ái, lạc, hân, hỉ v.v... Nhưng đến thời đại Phật giáo Đại thừa, thì lần lượt có ngài Mã minh viết luận Đại thừa khởi tín để bàn và giải thích nghĩa của thức A lại da, rồi đến các ngài Di lặc, Vô trước, Thế thân cũng đều làm luận để phát huy thuyết Duy thức duyên khởi, chủ trương hết thảy muôn vật đều bắt nguồn từ thức A lại da, mà thành lập hệ thống tư tưởng của triết học Duy thức. Trong đó, ngài Vô trước dựa vào kinh A tì đạt ma đại thừa, kinh Giải thâm mật để giải thích và cho rằng thức căn bản thứ tám (thức A lại da) là quả thể tổng báo của hữu tình, đồng thời, trong tác phẩm Hiển dương thánh giáo luận quyển 17, ngài Vô trước đã nêu ra tám lí do để biện chứng cho sự tồn tại của thức A lại da. Lại trong Nhiếp đại thừa luận quyển thượng phần đầu, ngài Vô trước chia thức A lại da làm ba loại là Tự tướng, Nhân tướng và Quả tướng, và cho hai cảnh giới mê, ngộ đều do những hạt giống được ươm (huân tập) trong thức A lại da phát sinh, đây tức là thuyếtChủng tử huân tập, cũng tức là thuyết chủ trương thức A lại da là chân vọng hỗn hợp. Lại tác phẩm Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, đến thời đại Duy thức chia dòng, có hai mươi tám nhà chú thích, mà trội hơn cả thì có các bản chú thích của mười vị đại luận sư Hộ pháp, An tuệ v.v... Ngài Huyền trang lấy bản chú thích của ngài Hộ pháp làm chính, rồi hỗn hợp thuyết của các luận sư khác mà biên dịch nên bộ luận Thành duy thức 10 quyển, đối với tư tưởng Duy thức ở Trung quốc, Hàn quốc và Nhật bản, đã có ảnh hưởng rất sâu xa. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, thì thức A lại da có đủ ba nghĩa là Năng tàng, Sở tàng và Chấp tàng. 1.Năng tàng, nghĩa là, trong tự thể thức thứ tám ngậm chứa các hạt giống của hết thảy muôn pháp. 2.Sở tàng, nói theo nghĩa hiện hành ươm hạt giống, thì thức này cũng tức là chỗ để cho bảy chuyển thức ươm hạt giống của muôn pháp. 3.Chấp tàng, nghĩa là, thức thứ tám thường bị thức mạt na thứ bảy chấp bậy làm thực ngã, thực pháp, vì thế cũng gọi là Ngã ái chấp tàng. Ngoài ra, sư Khuy cơ dựa theo những điều được trình bày trong luận Thành duy thức, rồi trong Thành duy thức luận thuật kí quyển 2 phần cuối từ ba tướng Tự tướng, Nhân tướng và Quả tướng mà đề xuất ba vị thức thể của A lại da, đó là: 1. Ngã ái chấp tàng hiện hành vị, chỉ tự tướng của thức thứ tám. Vì từ vô thủy đến nay, thức thứ tám thường bị thức thứ bảy chấp làm ngã, cho nên gọi là Ngã ái chấp tàng vị. Từ phàm phu, đến các Bồ tát dưới Thất địa, hoặc các bậc Thánh hữu học trong Nhị thừa, đều thuộc vị này. 2. Thiện ác nghiệp quả vị, chỉ quả tướng của thức thứ tám. Vì từ vô thủy đến nay, do nghiệp thiện ác của thức thứ tám mà đưa đến quả dị thục, cho nên gọi là Thiện ác nghiệp quả vị. Vị này suốt đến tâm kim cương của hàng Bồ tát Thập địa hoặc các bậc Thánh vô học của Nhị thừa. 3. Tương tục chấp trì vị, chỉ Nhân tướng của thức thứ tám. Vị này thông đến Phật quả và suốt đến vị lai vô tận. Vì thức thứ tám nắm giữ hạt giống sắc, tâm của muôn pháp, khiến năm căn không dứt mất, cho nên gọi là Tương tục chấp trì vị. Nương vào đó mà từ phàm phu đến Phật mới thực hiện được cuộc chuyển mê khai ngộ, nó là nơi nương tựa của chúng sinh, vì thế, thức A lại da còn được gọi làSở tri y . Tư tưởng Duy thức của ngài Hộ pháp được học trò là luận sư Giới hiền truyền cho ngài Huyền trang, nhờ đó mà thịnh hành ở Trung quốc. Tại Trung quốc, các tông phái đối với thức A lại da cũng có nhiều thuyết khác nhau, chẳng hạn như: 1.Tông Địa luận, lấy Thập địa kinh luận của ngài Thế thân làm căn cứ chủ yếu. Chủ trương thức A lại da là thức chân thường thanh tịnh, cũng như Phật tính Như lai tạng. 2.Tông Nhiếp luận, lấy luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước làm căn cứ chủ yếu (bản dịch của ngài Chân đế). Chủ trương Như lai tạng duyên khởi cho thức A lại da là pháp vô thường hữu lậu, là nguồn gốc của hết thảy phiền não, đồng thời, ngoài tám thức trước ra, lại thêm thức A ma la nữa thành thức thứ chín, và cho tám thức trước là hư vọng, thức thứ chín là chân thực. Tuy nhiên, ngài Chân đế cũng tham chước luận Đại thừa khởi tín, mà cho thức A lại da là thức vôkí vô minh tùy miên ., là thức chân vọng lẫn lộn, cho thức thứ tám có đủ nghĩa tính hiểu biết là chân, có đủ nghĩa quả báo là vọng, cho nên tư tưởng của ngài Chân đế là dung hợp cả hai thuyết chân vọng mà thành. 3.Tông Pháp tướng duy thức, lấy luận Thành duy thức làm căn cứ chủ yếu. Ngài Huyền trang là đại biểu cho các nhà dịch Duy thức mới, bác thuyết Như lai tạng duyên khởi, chủ trương A lại da duyên khởi, đồng thời, lập ra năm loại chủng tính, bảo nhân, pháp đều không. Loại luận thuyết mới này, không những khiến cho tư tưởng Duy thức tại Trung quốc phát sinh một chuyển biến lớn, mà cũng còn ảnh hưởng đến cả tư tưởng Duy thức tại Nhật bản nữa. [X. kinhNhập lăng già Q.2, Q.7; luận Quyết định tạng Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5 phần dưới; Trung quán luận sớ Q.7 phần đầu. Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần cuối; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.1; Duy thức liễu nghĩa đăng Q.4 phần đầu]. (xt. Lại Da Tam Tướng, Lại Da Tứ Phần).
Vô minh
無明; S: avidyā; P: avijjā; dịch theo âm là A-vĩ-di;
Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo (s: triratna) và nguyên lí Nghiệp (s: karma). Vô minh là yếu tố đầu tiên trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), là những nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Vô minh cũng là một trong ba Ô nhiễm (s: āśrava), một trong ba Phiền não (s: kleśa) và khâu cuối cùng của mười Trói buộc (s: saṃyojana).
Vô minh dược xem là gốc của mọi bất thiện trong thế gian và cũng là một đặc tính của Khổ (s: duḥkha). Ðó là tình trạng tâm thức không thấy sự vật »như nó là«, cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra Khổ. Vô minh sinh Ái (s: tṛṣṇā) và đó là yếu tố cơ bản sinh ra sự tái sinh. Theo quan điểm Ðại thừa, vì vô minh mà từ tính Không (s: śūnyatā) thoắt sinh ra hiện tượng, làm cho người còn mê lầm tưởng lầm đó là sự thật và không thấy tự tính (Si).

Trong các trường phái Ðại thừa, vô minh cũng được hiểu khác nhau. Trung quán tông (s: mā-dhyamika) cho rằng, vô minh xuất phát từ quan điểm chấp trước tiên thiên của ý thức, và từ đó mà xây dựng lên một thế giới của riêng mình, cho thế giới đó những tính chất của chính mình và ngăn trở không cho con người thấy thế giới đích thật. Vô minh cũng là không thấy thể tính thật sự, và thể tính đó là tính Không. Như thế vô minh có hai khía cạnh: một là nó che đậy thế giới đích thật, hai là nó xây dựng cái ảo, cái giả. Hai mặt này cứ luôn luôn dựa vào nhau. Ðối với Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) và Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika) thì vô minh là cách nhìn thế giới sai lạc, cho thế giới là thường còn, mà thế giới có thật chất là vô thường. Vô minh làm cho con người tưởng lầm thế giới có một tự ngã. Theo Duy thức tông thì vô minh là Ðảo kiến, cho rằng, thế giới độc lập với ý thức (tâm) mặc dù thế giới và ý thức chỉ là một.
như lai
(如來) Phạm, Pàli: Tathàgata. Hán âm: Đa đà a già đà, Đa tha a già độ, Đa đà a già độ, Đát tát a kiệt, Đát tha nga đa, Đa a kiệt. Cũng gọi Như khứ. Từ ngữ tôn xưng đức Phật, là 1 trong 10 hiệu của Phật. Tiếng Phạm Tathàgata có thể được chia làm 2 là:Tathà-gata(Như khứ)và Tathà-àgata(Như lai). Nếu theo cách thứ nhất thì có nghĩa là noi theo đạo Chân như mà đến quả Phật Niết bàn, cho nên gọi là Như khứ; còn nếu theo cách thứ 2 thì có nghĩa là từ chân lí mà đến (như thực mà đến)và thành Chính giác, cho nên gọi là Như lai. Vì đức Phật theo chân lí mà đến và từ chân như mà hiện thân, nên tôn xưng Ngài là Như lai. Kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm quyển 12 (Đại 1, 75 hạ) nói: Từ khi thành đạo đến lúc vào Niết bàn, trong suốt khoảng thời gian ấy, đức Phật nói ra điều gì cũng đều như thực, cho nên gọi là Như lai. Lại nữa, những điều đức Như lai nói đều đúng lí Như, cho nên gọi là Như lai. Luận Đại trí độ quyển 55 (Đại 25, 454 hạ) nói: Tu hành 6 Ba la mật được thành Phật đạo (...) nên gọi là Như lai. Trí biết tất cả các pháp Như, từ trong Như đến, nên gọi là Như lai. Trường bộ kinh chú (Sumaígalavilàsinì) tiếngPàlinêu ra 9 nghĩa của từ Như lai; luận Thập trụ tì bà sa quyển 1 thì nêu 11 nghĩa. Còn kinh Đại bảo tích quyển 90, kinh Đại uy đức đà la ni quyển 13, phẩm Như lai tạng trong luận Phật tính quyển 2... cũng đều nêu ra nhiều nghĩa khác nhau. Lại theo luận Thành thực quyển 1 và Hành tông kí quyển thượng, thì người noi theo đạo chân như đến mà thành Chính giáo, là Chân thân Như lai, còn người theo đạo chân như đến để hóa độ chúng sinh trong 3 cõi, là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai y cứ vào từ ngữ Thừa như thực đạo lai thành chính giác trong luận Thành thực quyển 1, để giải thích nghĩa Chân thân Như lai và Ứng thân Như lai, gọi là Nhị Như Lai. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì: Thừa(trí như như)như thực(cảnh như như) đạo(nhân)lai thành Chính giác (quả), nghĩa là nhân, cảnh và trí khế hợp, công quả tròn đầy, đó là Chân thân Như lai; còn dùng trí như thực noi theo đạo như thực(cảnh và trí khế hợp)mà đến 3 cõi để thị hiện 8 tướng thành đạo thì là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai còn y cứ vào từ ngữ Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết trong luận Đại trí độ quyển 2 mà giải thích nghĩa Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, gọi là Tam Như Lai. Theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì nghĩa Tam Như Lai là: Trùm khắp mọi nơi mà không sai khác là Như; không động mà ứng hiện đến khắp mọi nơi là Lai: Đây chỉ cho pháp thân Như lai. Từ lí gọi là Như, từ trí là Lai: Đây chỉ cho Báo thân Như lai. Cảnh và trí thầm hợp là Như, đi đến 3 cõi quay bánh xe pháp mà nói diệu pháp là Lai: Đây chỉ cho Ứng thân Như lai. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Thập hiệu; kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng; luận Đại trí độ Q.10, 21, 70, 72, 85; Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ; phẩm Bồ đề trong luận Du già sư địa Q.38; Đại nhật kinh sớ Q.1; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1]. (xt. Thập Hiệu).
Tri kiến

Là sự thấy biết, sự hiểu biết, tương đương với một thuật ngữ Phật học khác là “kiến giải”. Tri kiến là những kiến giải có được do năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, thu thập kinh nghiệm từ cuộc sống, từ mọi hiện tượng trong vũ trụ, cộng với sự suy nghĩ, phân biệt, phán đoán v.v... của ý thức. Tùy theo phàm phu hay thánh nhân mà tri kiến có trình độ thấp cao khác nhau: tri kiến của người thường không giống với tri kiến của bậc Thanh-văn; tri kiến của Thanh-văn không giống như tri kiến của chư vị Bồ-tát v.v...; và ngay cả tri kiến giữa những kẻ phàm phu cũng khác nhau nhiều. Vì vậy, tri kiến không giống với “trí tuệ” (tức trí bát nhã) – là trí không phân biệt, xa lìa sự suy nghĩ, phán đoán của tâm thức. Và chỉ có tri kiến của Phật (cũng gọi là “tri kiến ba la mật”) mới gọi được là trí tuệ, hay nói cách khác, chỉ có ở địa vị Phật thì tri kiến với trí tuệ mới là một. Kinh Pháp Hoa nói, đức Phật ra đời là vì một nguyên nhân vô cùng quan trọng, đó là dẫn dắt chúng sinh nhập vào tri kiến Phật. Câu nói đó có nghĩa là, đức Phật hóa độ cho chúng sinh chứng đắc các quả vị Thanh-văn, Duyên-giác, thậm chí là Bồ-tát, đều chỉ là phương tiện mà thôi, chứ cái quả vị cứu cánh phải là Phật quả, tức là quả vị giác ngộ trọn vẹn, cao tột, duy nhất; đó là tri kiến của Như Lai, thứ trí tuệ siêu việt, vượt khỏi mọi khái niệm, mọi suy tư, phân biệt của tâm thức.