Tác Giả

Cư Sĩ Bành Tế Thanh

1. Ái Tâm Chẳng Nhiễm Nặng Thì Không Sanh Ở Ta Bà
2. Ấn Quang Đại Sư
3. Bài Văn Khuyên Phát Lòng Bồ Đề
4. Bản Ấn
5. Châu Hoằng Đại Sư
6. Châu Lộ
7. Chí Thông
8. Chim Anh Võ
9. Chim Cù Cáp
10. Chúc Thị
11. Chung Ly Cẩn
12. Chúng Sanh Tâm Tịnh Thì Cõi Phật Tịnh
13. Cố Nguyên
14. Đại Kình
15. Đàm Giám Pháp Sư
16. Đàm Loan Pháp Sư
17. Đạo Càn
18. Đạo Dũ
19. Đạo Kiệt Pháp Sư
20. Đạo Ngang Pháp Sư
21. Đạo Ngộ
22. Đạo Nhân Pháp Sư
23. Đạo Trân Pháp Sư
24. Đạo Triệt
25. Đạo Xước Thiền Sư
26. Diêm Ban Vinh
27. Điểm Quan Yếu Bậc Nhất Của Sự Tu Hành Là Tha Thiết Vì Thoát Ly Nỗi Khổ Sống Chết Luân Hồi
28. Diên Thọ Đại Sư
29. Diêu Bà
30. Diệu Hiệp
31. Diệu Hiệp Ðại Sư Khai Thị Niệm Phật
32. Diệu Thành
33. Du Hữu Quang
34. Dư Thị
35. Đức Thanh
36. Dương Gia Vỹ
37. Dương Kiệt
38. Dương Thị
39. Duy Cung
40. Duy Ngạn Pháp Sư
41. Gà Biết Niệm Phật
42. Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát
43. Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát Khai Thị Niệm Phật
44. Hai Sa Di
45. Hằng Nhứt
46. Hành Sách Đại Sư
47. Hành Tu
48. Hồ Yển
49. Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội
50. Hoài Ngọc Pháp Sư
51. Hoàng Phủ Sĩ Phương
52. Hoàng Sanh
53. Hoằng Tế
54. Hoàng Thừa Huệ
55. Huệ Cung
56. Huệ Kiền Pháp Sư
57. Huệ Mộc
58. Huệ Nhựt
59. Huệ Sùng Đại Sư
60. Huệ Tài Pháp Sư
61. Huệ Viễn Đại Sư
62. Huệ Vĩnh Đại Sư
63. Hùng Tuấn
64. Hữu Bằng Đại Sư
65. Hữu Nghiêm Pháp Sư
66. Khả Cửu
67. Không Cốc
68. Khuyên Phát Tâm Niệm Phật
69. Khuyết Công Tắc
70. Kiến Nguyệt
71. Kim Quang Tiền
72. Kim Thích
73. Lãng Nhiên
74. Liên Trì Ðại Sư Khai Thị Niệm Phật
75. Long Thọ Đại Sĩ
76. Lư Thị
77. Lục Ngoạn
78. Lục Sĩ Thuyên
79. Lương Duy Châu
80. Lưu Trình Chi
81. Mã Minh Đại Sĩ
82. Mã Vinh Tổ
83. Minh Chứng
84. Minh Hoằng
85. Ngộ Ân
86. Ngô Bỉnh Tín
87. Ngô Mao
88. Ngô Như Am
89. Ngô Quỳnh
90. Ngô Thị
91. Ngu Thuần Hy
92. Nhược Ngu Pháp Sư
93. Ni Cô Am Lan Nhã
94. Pháp Chân
95. Pháp Chiếu Đại Sư
96. Pháp Hỷ Và Thọ Hồng
97. Pháp Nhân
98. Pháp Trí
99. Phật An
100. Phật Kỳ
101. Phí Thị
102. Phùng Thị
103. Quán Đảnh Đại Sư
104. Tần Thị
105. Tăng Duệ Pháp Sư
106. Tăng Huyền Pháp Sư
107. Tăng Tế Pháp Sư
108. Tánh Tu
109. Tề Hàng Pháp Sư
110. Tề Ngọc Pháp Sư
111. Tế Tỉnh Đại Sư
112. Thái Bằng Cửu
113. Thái Thừa Trực
114. Thành Chú
115. Thật Hiền Đại Sư
116. Thật Vịnh
117. Thiện Đạo Đại Sư
118. Thiên Như
119. Thiên Thân Luận Sư
120. Thiếu Khang Đại Sư
121. Thừa Viễn Đại Sư
122. Thường Trí
123. Tín Tâm Hạnh
124. Tỉnh Thường Đại Sư
125. Tô Khởi Phụng
126. Toại Khâm
127. Tôn Thị
128. Tông Bản Đại Sư
129. Tông Đản Pháp Sư
130. Tông Trách Ðại sư Khuyến Ðạo
131. Tông Trách Thiền Sư
132. Trải Qua Nhiều Năm Đối Với Pháp Môn Niệm Phật Không Sanh Lòng Quy Hướng
133. Trầm Bính
134. Trần Toản
135. Trí Húc Đại Sư
136. Trí Khải Đại Sư
137. Trí Khải Đại Sư Khai Thị Niệm Phật
138. Tri Lễ Đại Sư
139. Trí Thông Pháp Sư
140. Tri Tuyền Pháp Sư
141. Triều Âm
142. Trương Chung Quỳ
143. Trương Kháng
144. Trương Sư Thành
145. Trương Thủ Ước
146. Tự Giác
147. Tử Ngươn Đại Sư Khai Thị Niệm Phật
148. Tư Tề Đại Sư
149. Từ Thái Nghi Nhơn
150. Uẩn Tề
12

Phật Học Vấn Đáp Liên Quan Tới Tác Giả

Pháp Âm Liên Quan Tới Tác Giả

Thời điểm Trung Hoa Dân Quốc đất nước Trung Hoa không còn là một Trung Hoa phong kiến, thật sự đại đa số người dân theo chủ nghĩa tiến bộ, theo một tôn giáo nhất là theo Phật Giáo, số còn lại rất thủ cựu. Từ đó xảy ra chiến tranh liên tục, Thù trong, giặc ngoài, tranh chấp quyền binh dành trị quốc chăn dân

Đặc biệt đại đa số theo Phật, quy y Tam Bảo tu hành, việc thế sự gác ngoài tai, không tham chính, xiển dương chánh pháp xương minh Tịnh Độ, phục hồi chế độ Tăng Đoàn, sa thải những người tu bị tha hóa bởi vật chất, chỉnh đốn hàng ngũ Tăng Già; chư Đại sư sống ẩn dật, người thì xử sĩ (Vào ần trong non núi), người thì sống trí sĩ (Ẩn trong quần chúng) để tu hành, trong đó có Cư Sĩ Bồ Tát giới Bành Tế Thanh một vị Cư sĩ trí thức của Phật Giáo đến thời suy vi, Tăng Đoàn phức tạp, không còn hoằng dương chánh pháp để truyền trì mạng mạch, chư tăng thường là chuyển hướng sống thực dụng theo thời đại, ít có chư Tăng được người đời tin tưởng. Từ đó giới Cư sĩ tự đứng ra đảm nhận vai trò phục hồi lại những tinh hoa giáo lý đức Phật, hướng dẫn người tu hành bằng con đường Pháp môn niệm Phật - Tịnh Độ tông, diễn giảng Tịnh Độ - xương minh Tịnh Độ. Có rất nhiều Cư sĩ tài năng, thạc học, thật tu đứng lên nhận lấy trách nhiệm này. Trong đó có cư sĩ bồ tát giới Bành Tế Thanh theo Tịnh Học Tân Lương thì Cư Sĩ Bành Tế Thanh, thế danh là Bành Triệu Thăng, pháp danh Tế Thanh, tự Đoản Sơ, tại tự là Xích Mộc, người ở Tô Châu, thuộc vùng đất Trường Châu. Năm lên mười sáu tuổi, cư sĩ đã được vào học Đại học, bốn năm sau tốt nghiệp Cử nhân rồi Tiến Sĩ.

Trước khi quy y Phật, cư sĩ không tin đạo Phật, ham thích văn thơ thế học, chí nguyện phò vua giúp nước. Một hôm bỗng tự xết và thốt: “Tâm địa ta chưa sáng tỏ biết làm sao? nên có người chỉ dạy bày cho phép tu luyện kim đơn theo đạo Tiên, Tu sĩ tu tập khoảng ba năm, nhưng không thấy có hiệu quả. Sau đó học đến sách Phật, tham cứu giáo lý thâm sâu của Phật, lúc bấy giờ thức tỉnh, ngộ lý chơn thường, tự nhủ: “Chỗ về của đạo lý là nơi đây”. Từ đó mới tin Phật thừa nhận cảm mến đạo hạnh của hai vị cư sĩ khác là Lương Khê Cao Trung Hiển và cư sĩ Lư Sơn Lưu Dĩ Dân nên lấy hiệu là Nhị Lâm, vì trú xứ tu hành của hai ông này đều có hiệu là Đông Lâm. Cư sĩ bản tánh vốn có hiếu, khi còn ở trong tang mẹ, ngủ nơi nhà mồ ba năm. Lúc cha mất, Ngài lập đạo tràng niệm Phật nguyện đem công đức tụng niệm lúc bình nhựt: Mười bộ kinh Hoa Nghiêm, một ngàn phẩm A Di Đà, một ngàn phẩm kinh Kim Cang Bất Nhã, mười tiệu câu niệm Phật hồi hướng cầu cho cha mẹ được vãng sanh về nơi Tây phương cực lạc.

Sau khi song thân qua đời, cư sĩ bỏ hẳn cách sống theo tập quán thế gian, chuyên tâm nghiên cứ Phật Pháp, ưa thích đọc sách của các vị Phương Sơn, Vĩnh Minh, sùng bái hai Đại Sư Liên Trì và Đại Sư Hám Sơn là bậc long tượng trong Tịnh Độ Tông. Năm hai mươi chín tuổi, phát nguyện trường chay, năm năm sau theo Đại sư Văn Họa Định Công Thọ Bồ Tát Giới. Sau khi được thọ giới, cư sĩ tu hành tinh tấn, lánh xa sắc dục gia đình, tự hiệu là Tri Quy Tử, cư sĩ thường tâm niệm: “Tôi chỉ ở Tây Phương Hạnh ở kinh Phạm Võng”. Cư sĩ có trứ tác bài văn phát nguyện: “Nếu Tế Thanh con đã thọ giới mà còn phá giới, tăng trưởng pháp ác, hủy hoại căn lành thì nguyện xin hộ pháp Chư Thiên kiếp mau trách phạt, đừng dung nạp để làm gương cho đời. Như Tế Thanh con nghiêm sửa thân tâm, giữ gìn giới phẩm thì khi bỏ thân này được sanh về an dưỡng. Xin mười phương Tam Bảo thương xót chứng minh, khiến cho con mau được Niệm Phật Tam Muội, khi sắp mạng chung xa lìa trần cấu, tận mắt thấy Phật Di Đà, nhẹ thoát về Tây không còn chướng ngại. Khi đó mọi người được nghe thấy như thế đều sẽ phát tâm như con, đều nguyện sanh về cực lạc để mau chúng quả vô sanh, rồi trở lại cõi ta bà độ khắp loài hữu tình đồng thành chánh giác…”

Sau khi Cư sĩ bế quan nhập thất ở Văn Tinh Các, phát nguyện tu trì pháp nhất hạnh Tam Muội, đặt hiệu chỗ ở là Nhất Hạnh Cư. Lúc bấy giờ cư sĩ có làm bài thơ bế quan, để thúc liễm nhắc nhở tự tâm:

- Lẫn bẫn phong trần tự bấy lâu
Mà chơn hạnh phúc những là đâu?
Ngày nay hồi hướng về an dưỡng
Kiếp mộng vô minh đã dãi dầu

- Thân phận bao la khắp thái hư
Điểm trần lặng lẽ chẳng còn dư
Chớ đem tri kiến nhiều phân biệt
Một niệm hồi quang thấy Đại từ

- Chuỗi làn trăm tám chẳng đuôi đầu
Mỗi niệm tinh minh mỗi hạt châu
Sáu chữ mở toang vô tận tạng
Như như buông thả lại hồi thâu

- Cảnh vườn tịch mịch tợ lâm san
Ngày vắng kìa ai ngõ bế quan
Nhắn bạn đồng tu nên tự tĩnh
Đừng theo ngoài cửa mãi mơ màng

- Dưới đỉnh rêu phong ngập ráng mây
Ngon mùi lê hoác dạ vui vầy
Gió Đông khéo mách nguồn tâm sự
Tiếng Phật êm đềm quá gác Tây

- Rừng lạnh ngàn mai nở trắng phau
Cành xuân chim hót giọng thanh thao
Hương nguyền vì niệm Quan Âm hiệu
Thinh sắc đường kia chớ lạc vào

- Ngước lên rồi lại cúi đầu trông
Liêu Quốc đâu từng cách mảy lông?
Tiếng hát Ca lăng đà nói rõ
Đây miền chơn tịnh chớ mê lòng!

- Giữa đêm trường tịch chốn môn đình
Phá cảnh hôn trần nói kệ kinh
Mãn khóa Pháp Hoa nhàn rỗi việc
Chén trà Long tỉnh uống vơi bình

- Lại đối Ni Sơn hỏi cựu manh?
Cung đàn réo rắc điệu vô sanh
Trong bầu xuân sắc đi thong thả
Dưới gót hoa luân nở một vành

- Non tiên vũ khách gọi thanh chân
Lối rẽ nhiều phen phải hỏi thăm
Chớ xót nguồn hoa tin tức vắng
Cảnh xưa bên suối vẫn đầy Xuân


Ngoài việc công phu tu tịnh nghiệp, nhập thất. Cư sĩ Bành Tế Thanh tư lương về thế giới Tây Phương Cực lạc, nên mướn họa sĩ vẽ bức tranh thế giới Tây Phương Cực lạc, căn cứ theo cảnh y báo chánh báo trang nghiêm trong tam kinh Tịnh Độ A Di Đà, Bức ảnh ấy được sửa đi sửa lại ba bốn lần, thởi gian hơn nửa năm mới xong. Khi công việc hoàn thành, Cư sĩ tự viết bài kệ:

Nếu người muốn biết rõ
Chư Phật trong ba đời
Nên quán tánh pháp giới
Tất cả duy tâm tạo
Như kẻ họa sư kia
Do một tâm chuyển biến
Không lìa nơi ngòi bút
Tạo thành cung Bảo Vương
Không có kia là đây
Một là khắp tất cả
Cảnh vẻ cùng người vẻ
Kết cuộc chẳng có chi
Nguyện những người nghe thấy
Phát tâm cũng như tôi
Do một niệm lành kia
Được ngôi bất thối chuyển
Đường muôn ức không xa
Nay đây đầy đủ rồi


Cư sĩ nghĩ thương chúng sanh thời mạc pháp, không đủ chánh nhân khinh bán lẫn nhau, nên có soạn ra bộ Nhất Thừa Quyết Nghi Luận để dung hòa hai đạo Phật và Nho, Bộ Hoa Nghiêm niệm Phật Tam Muội, luận để giải thích sự tranh biện giữa Thiền và Tịnh. Cư sĩ biên soạn Tịnh Độ Tam Kinh luận ra những ý chỉ chưa từng phát minh trong Liên Tông Tịnh Độ. Ngoài ra cư sĩ còn biên soạn những bộ sách khác như Cư sĩ truyện, Thiện nữ nhân truyện, Tịnh độ thánh hiền lục, đều tùy cơ tiếp dẫn, để lưu truyền đến đời sau.

Cư sĩ xuất vốn muôn lượng vàng, phương tiện lấy lời để sửa chùa in kinh, cúng dường chư Tăng. Cư sĩ lại cất nhà cận thủ, đặt ruộng Nhuân lộc để cứu kẻ bần cùng, mở hội truất ly để giúp những quả phụ cô nhi lập đàn phóng sanh châu toàn vật mạng. Mỗi nơi đều có văn phát nguyện hồi hướng Tịnh Độ, Cư sĩ thường thấp nhất ở những Tăng xá tại hai trú xứ Tô Châu và Hàng Châu hơn 10 năm, mỗi ngày tụng niệm đều có hai thời khóa, không hề sơ sót biếng trể, định lực tăng trưởng, trí tuệ  xuyên suốt viên thông. Cư sĩ Bành Tế Thanh tuy hình thức là người tu tại gia, nhưng cư sĩ chính là một cây đại thọ Phật pháp trong chốn tòng lâm triều đại nhà Thanh.

Mùa Thu niên hiệu Càng Long thứ 60 (1795), Cư sĩ mang bệnh hạ lợi, nên về trú tại Văn Tinh Các, sang mùa Đông, Cư sĩ thấy tinh thần lần lần suy kém, liềnđem những tiền bạc sổ sách của các Hội Từ Thiện giao lai cho cháu 12 ông Chúc Hoa thay thế lo liệu, đẩ cho các cơ sở ây bền vững về sau. Có vị Tăng là Chơn Thanh hỏi: “Ông từng thấy điều lành chăng?” Cư sĩ đáp: “Nào có điềm lành chi, việc lớn của tôi ở vào ngày khai ấn năm tới. Đến tháng Giêng năm sau, nhằm niên hiệu Gia Khánh, năm thứ nhứt (1796) sáng sớm ngày hai mươi, Cư sĩ ngồi ngay thẳng niệm Phật mà hóa, hưởng 57 tuổi đời. Lúc ấy cũng là ngày khai ấn trong nhà.

Ý tưởng của Pháp môn tịnh độ của Cư Sĩ rất siêu xuất: “Pháp môn niệm Phật bao gồm hết thảy, không thừa pháp nào. Như ai có thể tin chơn thật chắc thật đặc niệm một câu thánh hiệu “A Di Đà Phật” dọc ngang siêu xuất giao viên đốn, nên cổ đức có nói một pháp môn tịnh độ bao gồm tất cả pháp. Cận đại sư An Quang có lợi dạy: “Pháp pháp đều xuôi về Tịnh Độ” Một câu Di Đà bao trùm trọn đại giáo viên đốn, không chút thừa sót, xác nhận không còn nghi ngờ gì nữa. Do đó càng thêm hăng hái thành khẩn tu trì rồi trở lại dạy dỗ người có duyên lành, chắc chắn hiện thời thân tâm thanh tịnh được ưu tiên vào lãnh vực thánh hiền, đến giây phút cảm ứng đạo gioa liền về Cực Lạc.

Một vị Cư sĩ còn cho chúng ta thấy được pháp môn niệm Phật thật siêu xuất biết chừng nào, huống chi đời nay, người phàm phu tự cho mình có tu chứng, trong khi chỉ dựa vào lịch sử thừa kế những pháp môn chính tông của Phật Tổ rồi huênh hoang cho mình là chứng đắc, chê tịnh độ pháp môn là tu thấp là tu tướng, chỉ dành cho cư sĩ và những ông già bà già tu cho có chừng! Than ôi! không bằng sự tu hành của vị cư sĩ ở một thời không xưa lắm, mà sao quá tự phụ kiêu căng, khiến cho Phật pháp bị đưa vào vòng lẫn quẩn, hậu côn mất phương hướng tu hành! Thật khổ thay!

Cố Giáo Sư Minh Chi
Cố Giáo Sư Trương Đình Nguyên
Cư Sĩ Bành Tế Thanh
Cư Sĩ Bích Ngọc
Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Cư Sĩ Cao Hữu Đính
Cư Sĩ Chân Hiền Tâm
Cư Sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Cư Sĩ Đạo Quang
Cư Sĩ Diệu Âm
Cư Sĩ Diệu Hà
Cư Sĩ Định Huệ
Cư Sĩ Đoàn Trung Còn
Cư Sĩ Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ
Cư Sĩ Dương Đình Hỷ
Cư Sĩ Đường Tương Thanh
Cư Sĩ Giang Đô Trịnh Vĩ Am
Cư Sĩ Giang Vị Nông
Cư Sĩ Hạnh Cơ
Cư Sĩ Hồ U Trinh Ở Núi Tứ Minh
Cư Sĩ Hoàng Phước Đại
Cư Sĩ Hồng Như
Cư Sĩ Hồng Dương Nguyễn Văn Hai
Cư Sĩ Huệ Thiện
Cư Sĩ Khánh Vân
Cư Sĩ Lâm Cự Tinh
Cư Sĩ Lê Huy Trứ MSEE
Cư Sĩ Lê Sỹ Minh Tùng
Cư Sĩ Liêu Nguyên
Cư Sĩ Liêu Địch Liên
Cư Sĩ Lưu Minh Chánh
Cư Sĩ Lưu Thừa Phù Ghi Chép
Cư Sĩ Lý Viên Tịnh
Cư Sĩ Lý Nhất Quang
Cư Sĩ Mao Lăng Vân cung kính kết tập
Cư Sĩ Minh Chánh
Cư Sĩ Minh Trí và Mẫn Đạt
Cư Sĩ Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyên Giác
Cư Sĩ Nguyên Hồng
Cư Sĩ Nguyễn Lang
Cư Sĩ Nguyên Phong
Cư Sĩ Nguyễn Đức Sâm , Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyễn Đức Sinh
Cư Sĩ Nguyễn Hữu Kiệt
Cư Sĩ Nguyễn Minh Tiến
Cư Sĩ Nguyễn Xuân Chiến
Cư Sĩ Phạm Cổ Nông
Cư Sĩ Phúc Trung
Cư Sĩ Phương Luân
Cư Sĩ Quách Huệ Trân
Cư Sĩ Quảng Minh
Cư Sĩ Tâm Phước
Cư Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
Cư Sĩ Thiên Nhơn
Cư Sĩ Thôi Chú Bình
Cư Sĩ Thuần Bạch
Cư Sĩ Tiểu Bình Thật
Cư Sĩ Tịnh Mặc
Cư Sĩ Tô Khắc Minh
Cư Sĩ Tôn A Tử
Cư Sĩ Uông Trí Biểu
Cư Sĩ Viên Đạt
Cư Sĩ Vọng Tây
Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân
Đại Lão Hòa Thượng Thích Ấn Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Diễn Bồi
Đại Lão Hòa Thượng Thích Hành Trụ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Mộng Tham
Đại Lão Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Đại Lão Hòa Thượng Tinh Vân
Đại Sư An Thế Cao
Đại Sư Bách Trượng Hoài Hải
Đại Sư Chí Công
Đại Sư Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa
Đại Sư Đạo Bái
Đại Sư Đạo Nguyên
Đại Sư Đạo Tuyên
Đại Sư Diệu Hiệp
Đại Sư Diệu Khẩu
Đại Sư Diệu Không
Đại Sư Diệu Liên
Đại Sư Đời Tống, Nguyên Chiếu
Đại Sư Gia Tường Cát Tạng
Đại Sư Hải Đông
Đại Sư Hám Sơn
Đại Sư Hàm Thị
Đại Sư Hoài Cảm
Đại Sư Hoằng Nhất
Đại Sư Hoằng Tán
Đại Sư Huệ Ngộ
Đại Sư Khuy Cơ
Đại Sư Liên Trì
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc
Đại Sư Pháp Tạng Hiền Thủ
Đại Sư Phi Tích
Đại Sư Pomnyun Sunim Trí Quang
Đại Sư Quán Đảnh
Đại Sư Quảng Khâm
Đại Sư Tăng Triệu
Đại Sư Thái Hư
Đại Sư Thân Loan
Đại Sư Thang Hương Danh
Đại Sư Thanh Lương Trừng Quán
Đại Sư Thật Hiền
Đại Sư Thật Xoa Nan Đà
Đại Sư Thích Ấn Thuận
Đại Sư Thích Tăng Triệu
Đại Sư Thiên Thai Trí Giả
Đại Sư Thượng Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Tĩnh Am
Đại Sư Tông Bổn
Đại Sư Triệt Ngộ
Đại Sư Trung Phong Minh Bổn
Đại Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Ưu Đàm
Đại Sư Viên Hư
Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ
Đời Dao Tần, Duy Tắc Thiền sư Thiên Như
Đời Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Đời Đường Sa Môn Văn Thẩm Thiếu Khương
Đời Lưu Tống Cương Lương Gia Xá
Hòa Thượng DaLai Lama
Hòa Thượng Thích Bảo Lạc
Hòa Thượng Thích Bích Liên
Hòa Thượng Thích Chân Thường
Hòa Thượng Thích Đồng Bổn
Hòa Thượng Thích Đổng Minh
Hòa Thượng Thích Đức Nhuận
Hòa Thượng Thích Đức Niệm
Hòa Thượng Thích Đức Thắng
Hòa Thượng Thích Giác Khang
Hòa Thượng Thích Giác Qủa
Hòa Thượng Thích Giác Quang
Hòa Thượng Thích Hân Hiền
Hòa Thượng Thích Hoằng Tri
Hòa Thượng Thích Hoằng Trí
Hòa Thượng Thích Hồng Đạo
Hòa Thượng Thích Hồng Nhơn
Hòa Thượng Thích Huệ Hưng
Hòa Thượng Thích Huyền Dung
Hòa Thượng Thích Huyền Tôn
Hòa Thượng Thích Huyền Vi
Hòa Thượng Thích Khánh Anh
Hòa Thượng Thích Khế Chơn
Hòa Thượng Thích Mãn Giác
Hòa Thượng Thích Minh Cảnh
Hòa Thượng Thích Minh Châu
Hòa Thượng Thích Minh Lễ
Hòa Thượng Thích Minh Quang
Hòa Thượng Thích Minh Thành
Hòa Thượng Thích Nhất Chân
Hòa Thượng Thích Như Điển
Hòa Thượng Thích Phước Nhơn
Hòa Thượng Thích Phước Sơn
Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Hòa Thượng Thích Quang Phú
Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Hòa Thượng Thích Tâm Quang
Hòa Thượng Thích Thái Hòa
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Hòa Thượng Thích Thiên Ân
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Hòa Thượng Thích Thông Bửu
Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Hòa Thượng Thích Tịnh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Toàn Châu
Hòa Thượng Thích Trí Chơn
Hòa Thượng Thích Trí Hoằng
Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm
Hòa Thượng Thích Trí Quảng
Hòa Thượng Thích Trí Thủ
Hòa Thượng Thích Trung Quán
Hòa Thượng Thích Từ Quang
Hòa Thượng Thích Tuệ Đăng
Hòa Thượng Thích Tuệ Đặng
Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ
Hòa Thượng Thích Tuyên Hóa
Hòa Thượng Thích Viên Giác
Hòa Thượng Thích Viên Huy
Hòa Thượng Thích Viên Lý
Tam Tạng Pháp Sư Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm
Tam Tạng Pháp Sư Đề Vân Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
Thượng Nhân Pháp Nhiên
Thượng Tọa Thích Chân Tính
Thượng Tọa Thích Chánh Lạc
Thượng Tọa Thích Đồng Ngộ
Thượng Tọa Thích Đức Trí
Thượng Tọa Thích Giải Hiền
Thượng Tọa Thích Hằng Đạt
Thượng Tọa Thích Hạnh Bình
Thượng Tọa Thích Huyền Châu
Thượng Tọa Thích Mật Thể
Thượng Tọa Thích Minh Tuệ
Thượng Tọa Thích Nguyên Bình
Thượng Tọa Thích Nguyên Chơn
Thượng Tọa Thích Nguyên Hùng
Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng
Thượng Tọa Thích Nhuận Châu
Thượng Tọa Thích Phổ Huân
Thượng Tọa Thích Phước Hòa
Thượng Tọa Thích Phước Thái
Thượng Tọa Thích Quảng Ánh
Thượng Tọa Thích Thiện Phụng
Thượng Tọa Thích Tiến Đạt
Thượng Tọa Thích Trí Đức
Thượng Tọa Thích Trí Siêu
Thượng Tọa Thích Trường Lạc
Thượng Tọa Thích Vĩnh Hóa
Tiến Sĩ Lê Sơn Phương Ngọc
Tiến Sĩ Sinh Học Matthieu Ricard
Tiến Sĩ Vật Lý Trịnh Xuân Thuận
Tỳ Kheo Thích Đăng Quang
Tỳ Kheo Thích Đồng Thọ
Tỳ Kheo Thích Đồng Tịnh
Tỳ Kheo Thích Duy Lực
Tỳ Kheo Thích Giác Nghiên
Tỳ Kheo Thích Giới Bổn
Tỳ Kheo Thích Giới Đức
Tỳ Kheo Thích Giới Nghiêm
Tỳ Kheo Thích Hoằng Đạo
Tỳ Kheo Thích Hoằng Thường
Tỳ Kheo Thích Huệ Chiểu Chùa Đại Vân Ở Chuy Châu
Tỳ Kheo Thích Minh Điền
Tỳ Kheo Thích Minh Định
Tỳ Kheo Thích Minh Trí
Tỳ Kheo Thích Nguyên Chứng
Tỳ Kheo Thích Tâm Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thanh Giác
Tỳ Kheo Thích Thiện Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thiện Trang
Tỳ Kheo Thích Thông Huệ
Tỳ Kheo Thích Viên Ngộ
Tỳ Kheo Visuđhacara



Đời người lúc thăng lúc trầm, đều là kinh nghiệm để trưởng thành.Dùng trí tuệ để giải quyết sự việc, lấy từ bi để quan tâm người khác. Dùng trí tuệ, luôn luôn sủa đổi những sai trái; lấy từ bi để nơi nơi cho người được thuận tiện.