Vô cực mà thái cực rồi tới Lưỡng Nghi là từ ngoại tại chẳng có hình tượng mà suy tới có hình tượng. [Khoa học nói] do tinh vân mà có vũ trụ là từ đã có hình tượng mà dự đoán diễn biến. Những điều kinh Lăng Nghiêm đã nói là từ cái tâm sáng suốt hay tối tăm mà đối đãi biến huyễn, sanh khởi vọng tưởng. Điểm xuất phát của ba thuyết này chia thành trong, ngoài, có, không, hiển nhiên là bất đồng. Đã chẳng xuất phát từ một chỗ, nên cũng chẳng thể nói là mâu thuẫn, lại càng chẳng cần phải cố ý gượng ép [sao cho ba thuyết] phù hợp. Hạt nhân nguyên tử, Thái Cực, Lưỡng Nghi, vô cực mà là thái cực, tinh vân, một đoạn kinh Lăng Nghiêm và Ngũ Hành Tương Sanh, cố nhiên chẳng phải là không có mấy phần tương tự, nhưng xét ra thì là gán ghép miễn cưỡng, chẳng thà cứ tạm nghe theo cách giải thích của riêng từng thuyết. Chờ đến khi có người tinh thông cả ba loại học vấn này, chắc là sẽ có thể nói ra chỗ khác nhau và giống nhau thật sự. Đối với chuyện trời tròn, đất vuông thì hai quẻ Càn và Khôn trong kinh Dịch cũng như kinh Lăng Nghiêm trong nhà Phật đều chưa nói như thế, nên có mâu thuẫn hay không, hai thuyết ấy chẳng chịu trách nhiệm! Trời động, đất tĩnh là do các nhà văn học dựa theo hiện tượng trước mắt mà thốt ra, vì mặt trời ở trên đỉnh đầu con người, nên gọi là thiên tượng (天象: hiện tượng thiên văn), do thấy nó vận hành, nên bảo là trời động. [Do thấy] đất cõng chở núi non dường như thường hằng, nên bảo là đất tĩnh. Những điều này bất quá là lời lẽ hình dung, đương nhiên chẳng phù hợp khoa học. Do các nhà khoa học đã biết địa cầu tự xoay quanh nó, nên có hiện tượng ngày và đêm, mặt trời vốn chẳng có mọc hay lặn, cũng vì tùy thuận người khác mà nói trời tảng sáng, mặt trời mọc, đương nhiên cũng là chẳng hợp khoa học.