* Những giảng sư đời mạt thường thích giảng Thiền, đến nỗi thính chúng đa phần chấp vào những câu công án. Trộm nghĩ: Những câu cơ phong chuyển ngữ (thoại đầu, công án) trong nhà Thiền tuyệt đối chẳng có ý nghĩa gì, chỉ nhằm đáp ứng căn cơ người đến hỏi hòng chỉ nẻo hướng thượng. [Những câu chuyển ngữ] ấy chỉ nên để tham cứu, sao lại giảng nói? Giảng kinh như vậy chỉ những bậc đại sĩ siêu phàm mới hưởng lợi ích, còn những hạng trung – hạ khác đều mắc bệnh hết. Đối với Tông, chẳng biết tận lực tham cứu những câu cơ phong chuyển ngữ, chỉ lo phỏng đoán ý nghĩa. Với Giáo, do thật lý, thật sự nào phải là cảnh giới của mình, bèn lầm tưởng [Phật, Tổ] nói thí dụ để giảng pháp. Đem Tông phá Giáo, dùng Giáo phá Tông, cái tệ nạn lưu hành này không còn gì tệ hơn được nữa!

* Từ ngài Tào Khê (Lục Tổ Huệ Năng) về sau, đạo Thiền lưu truyền rộng rãi; mối văn tự “chẳng lập văn tự” phổ biến khắp hoàn vũ. Đường giải thuyết ngày càng mở rộng, cửa chứng ngộ ngày càng bế tắc! Vì thế, các tổ Nam Nhạc, Thanh Nguyên đều dùng cơ phong chuyển ngữ để độ người, khiến cho Phật, Tổ trở thành ngôn ngữ suông, không cách nào đáp được lời các ngài hỏi. Nếu chẳng phải thật sự là căn cơ tương xứng sẽ chẳng thể hiểu được lời ấy. Dùng cách ấy để xét nghiệm khiến vàng – thau rạch ròi, ngọc – đá rành rành, không còn cách nào giả trá, ngăn trở đạo pháp. Đấy chính là duyên do của cơ phong chuyển ngữ.

Từ đấy về sau, pháp này ngày càng thịnh hành, được các tri thức đề cao, chỉ e lạc vào lối mòn của người khác, trở thành khuôn sáo cũ kỹ, khiến người học nghi ngờ, lầm lạc, hoại loạn Tông phong, nên cơ phong chuyển ngữ ngày càng cao tột, vô phương chuyển biến, để người khác (người căn cơ không phù hợp) chẳng biết đâu mà mò. Bởi thế mới có những câu nói trách Phật, quở Tổ, bài xích kinh giáo, bác bỏ Tịnh Độ! Những lời lẽ ấy nhằm cưỡng đoạt tình kiến, bít chặt sự biện giải của người nghe. Người căn thuần sẽ nhờ ngay đó biết đường trở về, triệt ngộ hướng thượng; người căn cơ chưa thuần sẽ chân thành, tận lực tham cứu, quyết đạt đến đại triệt, đại ngộ mới thôi. Ấy là vì tri thức còn nhiều, căn tánh con người vẫn còn thông lợi, hiểu rành rẽ giáo lý, tâm sanh tử khẩn thiết, dù chưa thể liễu ngộ ngay cũng chẳng nảy lòng hèn kém, cho đó là pháp bảo vậy!

* Hiện tại, lắm kẻ mới đọc vài cuốn sách Nho, chẳng hiểu đạo lý thế gian, chưa hiểu cùng tột giáo thừa, chẳng hiểu Phật pháp, vừa mới phát tâm bèn gia nhập Tông môn. Hàng tri thức chỉ vì duy trì môn đình, cũng học đòi cổ nhân xiển dương, chẳng quản đạo pháp lợi hại thế nào. Người theo học chẳng phát khởi mối nghi tình chân thật, đối với bất cứ điều nào cũng tưởng là chân pháp cả!

Đối với những câu khai thị của người hiện tại hoặc những câu chép trong sách của cổ nhân, có kẻ bèn tự ý suy diễn nêu ra nghĩa lý, dù trọn chẳng ra khỏi việc giải thích ý nghĩa theo mặt văn tự, nhưng cứ tự hào là triệt ngộ hướng thượng, việc tham học đã hoàn tất rồi, liền dự ngay vào địa vị tri thức để dạy dỗ đàn hậu học, lập riêng một môn đình. Cứ sợ người khác chê mình chẳng phải là bậc thông gia bèn ra sức giảng Thiền, muốn được xưng tụng là “tông thuyết kiêm thông”.

Giảng về Tông thì khi giảng những lời chỉ quy hướng thượng của cổ đức rốt cuộc chỉ giảng nghĩa câu văn theo mặt văn tự. Khi giảng Giáo, cái đạo tu nhân chứng quả của Như Lai bị họ biến thành những thuyết “mượn ví dụ để biểu thị pháp”. Dùng Giáo phá Tông, đem Tông phá Giáo, kẻ đui dẫn lũ mù, kéo nhau vào lửa, đến nỗi bọn hậu bối chẳng được nghe gương sáng của tiền bối, láo nháo bắt chước thầy khinh Phật, lờn Tổ, bài nhân, bác quả mà thôi!

* Giáo độ khắp ba căn, thâu trọn lợi độn, ví như chiếu chỉ sáng suốt của vua thánh, vạn quốc tôn sùng, trí – ngu, hiền – tệ đều cùng hiểu rõ, đều phải tuân hành. Nếu kẻ nào chẳng tuân sẽ bị xử cực hình. Nếu kẻ nào chẳng tuân lời Phật dạy ắt sẽ đọa trong ác đạo. Tông chỉ độ được thượng căn, chẳng nhiếp trung căn, hạ căn; giống như tướng quân nhận mật lệnh, người [thân cận] trong doanh mới biết, kẻ ngoài doanh dù có trí huệ cũng chẳng hiểu được. Vì thế mới có thể dùng toàn quân diệt giặc, thiên hạ thái bình. Quân lệnh bị tiết lộ, ba quân sẽ tan vỡ; Tổ ấn bị tiết lộ, năm tông (12) chết tiêu. Kẻ chưa ngộ chỉ được phép tham cứu thoại đầu, chẳng được xem đọc sách Thiền, thật ra chỉ là vì sợ kẻ ấy hiểu lầm ý Tổ, chấp mê là ngộ, lấy giả rối chân. Đấy gọi là [Tổ ấn] bị tiết lộ, tai hại cực lớn.

* Về nguồn không hai, phương tiện nhiều cửa. Phương tiện của nhà Thiền vượt ngoài khuôn khổ, tựa hồ quét sạch hết thảy ngôn ngữ. Kẻ không lãnh hội được ý ấy, chẳng hiểu ý chỉ rời lìa ngôn ngữ, chuyên nhai bã hèm, nên đối với Tông chỉ lo suy diễn [ý Tổ] chẳng chịu tận lực tham cứu, đối với Giáo bèn lầm lạc học đòi viên dung, phá hoại sự tướng! Chỉ có bậc đại đạt là được lợi ích cả nơi Tông lẫn nơi Giáo; nếu không, đề-hồ, cam lộ bị chứa trong bình độc bèn thành tỳ sương, trầm độc!

* Dù trung căn, hạ căn vẫn có thể được lợi ích nơi Giáo, nhưng nếu chẳng phải là bậc thượng thượng căn sẽ chẳng thể thông suốt Giáo để vận dụng. Dẫu kẻ trung, hạ căn khó thể chuyên chí nơi Tông, nhưng bậc thượng căn lại có thể đại triệt đại ngộ để hòng chứng nhập.

Trong Giáo, phải thông đạt hết thế pháp, Phật pháp, Sự, Lý, tánh, tướng, lại còn phải đại khai viên giải (nhà Thiền gọi là đại triệt đại ngộ) thì mới có thể làm đạo sư cho cả trời lẫn người.

Trong Tông, tham vỡ được một câu thoại đầu, thấy được bổn lai, bèn có thể xiển dương tông phong “trực chỉ”. Nếu nhằm lúc Phật giáo đại hưng khởi và là bậc thông đạt rộng rãi Phật pháp thì hãy nên tham cứu theo nhà Thiền, giống như Tăng Diêu vẽ rồng, hễ điểm nhãn, rồng liền bay lên ngay lập tức. Còn nhằm khi Phật pháp suy vi, kẻ túc căn kém cỏi hãy nên tu trì theo Giáo. Ví như thợ vụng chế đồ mà bỏ hết dây mực thì rốt cuộc chẳng làm gì được cả!

* Nay muốn báo ơn Phật, lợi lạc hữu tình thì nhà Thiền dù chuyên xiển dương tông phong, vẫn phải dùng Giáo để ấn chứng; bên Giáo thì tận lực tu trì quán hạnh, chẳng lạm bàn thiền ngữ. Ấy là vì tâm thông diệu đế, hễ gặp duyên liền thành Tông. “Cây bách, que phân khô, quạ kêu, sẻ hót, nước chảy, hoa trôi, ho khạc, phẩy tay, cười khẩy, giận chửi”, pháp nào pháp nấy đều là Tông cả. Lẽ nào diệu pháp viên đốn do chính kim khẩu đức Như Lai nói ra chẳng đáng kể là Tông ư? Cần gì phải mượn cái thanh chống cửa nhà người để chống đỡ cửa nẻo nhà mình! Trong nhà vốn sẵn gỗ Tiên, gỗ Nam, cớ sao vứt bỏ chẳng dùng? Hãy nên biết rằng: pháp không cao, hèn, chỉ là nhất đạo thường nhiên, do căn cơ có sống hay chín nên nơi mỗi pháp được lợi ích khác biệt!
 

Trích từ: Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục

Từ Ngữ Phật Học
Tông - Giáo 

Các nhà Phật học Trung-quốc cho rằng, tất cả giáo pháp do Phật thuyết nhằm thích ứng cho từng đối tượng giáo hóa, gọi là “giáo”; ý chỉ đặc thù, cốt lõi ở trong giáo pháp gọi là “tông”. Giáo thì có ý khách quan; tông là niềm tin chủ quan, có tính cách cá nhân. Có người lại cho rằng, tông tức là giáo không nói năng; còn giáo là tông có nói năng. Có thuyết lại còn cụ thể hơn, phân định rằng, tông tức là “tông môn”, cũng tức là “thiền môn” (hay “thiền gia”), là môn phái “giáo ngoại biệt truyền”, không dùng ngôn giáo, chỉ dùng phương thức “tâm truyền tâm”; còn giáo tức là “giáo môn” (hay “giáo gia”), chỉ cho các môn phái được thành lập dựa trên kinh điển đại thừa hay tiểu thừa, như các tông Thiên Thai, Tịnh Độ, Luật, Pháp Tướng, v.v...

Thiền
禪; hoặc Thiền-na (禪那); S: dhyāna; P: jhāna; C: chánnà, chán; J: zenna, zen; Anh ngữ: medita-tion; cũng được dịch nghĩa là Tĩnh lự (靜慮);
Một danh từ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm »Tỉnh giác«, »Giải thoát«, »Giác ngộ.« Trong những trường phái tu tập mật giáo – »mật« (e: esoteric) ở đây có nghĩa là tu tập để tự đạt kinh nghiệm tỉnh giác, không để ý đến những cái rườm rà bên ngoài của tôn giáo, có thể gọi là »bí truyền« – các vị tiền nhân đã nghiên cứu và phát triển những con đường khác nhau thích hợp với cá tính, căn cơ của từng người để đạt đến kinh nghiệm quý báu nói trên. Nếu người ta hiểu »Tôn giáo« là câu trả lời, giải đáp cho những cái »không hoàn hảo«, »không trọn vẹn«, cái »bệnh« của con người thì Thiền chính là liều thuốc trị những bệnh đó.
Dấu hiệu chung của tất cả các dạng tu tập Thiền là sự hướng dẫn con người đạt một tâm trạng tập trung, lắng đọng, như là một hồ nước mà người ta chỉ có thể nhìn thấu đến đáy nếu mặt nước không bị xao động. Tâm trạng bình yên, lắng đọng này có thể đạt được qua nhiều cách khác nhau như luyện tập uốn nắn thân thể theo Ha-tha Du-già (s: haṭhayoga), sự tập trung vào một tấm tranh, một Thăng-ka hoặc âm thanh như Man-tra, một Công án…
Ý chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn hành giả đến một tâm trạng Bất nhị, nơi mà những ý nghĩ nhị nguyên như »ta đây vật đó« được chuyển hoá; hành giả đạt sự thống nhất với »Thượng đế«, với cái »Tuyệt đối«, những khái niệm về không gian và thời gian đều được chuyển biến thành cái »hiện tại trường hằng«, hành giả chứng ngộ được sự đồng nhất của thế giới hiện hữu và bản tính. Nếu kinh nghiệm này được trau dồi thâm sâu và hành giả áp dụng nó vào những hành động của cuộc sống hằng ngày thì đó chính là trạng thái mà tất cả những tôn giáo đều gọi chung là »Giải thoát«.
Tiến sĩ khoa tâm lí học kiêm Thiền sư người Anh David Fontana viết tóm tắt rất hay về Thiền và Phi thiền: »Thiền không có nghĩa là: ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu.«
Theo đạo Phật, hành giả nhờ Ðịnh (s: samā-dhi) mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ Năm chướng ngại (s: nīvaraṇa) thì đạt được bốn cõi thiền (Tứ thiền định) của sắc giới (s: rūpadhātu; xem Ba thế giới), đạt được Lục thông (s: abhijñā) và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi Ô nhiễm (s: āśrava). Hành giả đạt bốn cõi thiền cũng có thể chủ động tái sinh trong các cõi Thiên (deva) liên hệ.
Trong giai đoạn một của thiền định, hành giả từ bỏ lòng tham dục và các pháp bất thiện, nhờ chuyên tâm suy tưởng mà đạt đến. Trong cấp này, hành giả có một cảm giác hỉ lạc. Trong giai đoạn hai, tâm suy tưởng được thay thế bằng một nội tâm yên lặng và tâm thức trở nên sắc sảo bén nhọn, xuất phát từ sự chú tâm quán sát. Hành giả tiếp tục ở trong trạng thái hỉ lạc. Qua giai đoạn ba, tâm hỉ lạc giảm, tâm xả bỏ hiện đến, hành giả tỉnh giác, cảm nhận sự nhẹ nhàng khoan khoái. Trong giai đoạn bốn, hành giả an trú trong sự xả bỏ và tỉnh giác.
Tại Trung Quốc, Thiền có một ý nghĩa rộng hơn rất nhiều. Nó bao gồm tất cả phép tu như quán niệm hơi thở (p: ānāpānasati), Bốn niệm xứ (p: sa-tipaṭṭhāna)… với mục đích nhiếp tâm và làm tâm tỉnh giác. Từ phép Thiền do Bồ-đề Ðạt-ma truyền, Thiền Trung Quốc đã phát triển rất mạnh (Thiền tông).
Trong một ý nghĩa bao quát, Thiền cũng không phải là những phương pháp đã nêu trên. Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể mô tả và phải do mỗi người tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả – kể cả Phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và mô tả bằng nhiều cách. Ðó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền không phải là một phương pháp đưa con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện.
tông
(宗) I. Tông. Phạm:Sìddhànta. Hán âm: Tất đàn đa. Đồng nghĩa: Tông yếu, Tông chỉ. Hàm nghĩa là cái được tôn sùng, thông thường chỉ cho ý chỉ chính, nghĩa thú mà các giáo phái tôn sùng, hoặc điểm then chốt, chỗ qui thú của toàn bộ giáo thuyết trong các kinh luận. Phân biệt và quyết định tông yếu của mỗi bộ kinh, luận gọi là Minhtông, đây là vấn đề quan trọng của các tông phái Phật giáo xưa nay. Chẳng hạn như kinh Duyma lấy Bất khả tư nghì giải thoát làm Tông; kinh Đại Phẩm lấy Không tuệ làm Tông; kinh Thắng Man lấy Nhất thừa làm Tông... Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần đầu, thì ngoại đạo ở Ấnđộ đời xưa có 16 tông như Nhân trung hữu quả...; Pháphoakinhhuyềntán quyển 1 thì qui nạp tất cả 20 bộ phái Tiểu thừa thành 6 tông như: Ngã pháp câu hữu, Hữu pháp vô ngã, Pháp vô khứ lai, Hiện thông giả thực và Chư pháp đãn danh, đồng thời chia Đại thừa thành 2 tông: Thắng nghĩa giai không và Ứng lí viên thực. Hoanghiêmngũgiáo chương quyển 1 cũng chia Đại thừa thành 4 tông: Nhất thiết giai không, Chân đức bất không, Tướng tưởng câu tuyệt và Viên minh cụ đức rồi cộng thêm 6 tông Tiểu thừa nói trong Pháp hoakinhhuyềntán quyển 1 mà thành 10 tông. Tất cả các tông này đều dựa vào nghĩa thú của các kinh luận mà phán lập tên tông. Thông thường các đoàn thể sùng tín cùng một giáo nghĩa được gọi là Tông. Tông đoàn lại chia ra nhiều chi nhánh gọi là Phái. Sự phân biệt giữa Tông đoàn này với các Tông đoàn khác thì gọi là Tông môn, Tông phái. Ngoài ra, giáo nghĩa do một phái chủ trương, gọi là Thú chỉ, Tông chỉ. Tên của tông phái gọi là Tông danh. Lí do đặt Tông danh có nhiều cách, có khi đặt theo kinh, như tông Hoa nghiêm, tông Niết bàn, có khi đặt theo luận, như tông Địa Luận, tông Câu xá, tông Tì đàm, tông Tam luận, tông Thành thực; có trường hợp y cứ vào giáo nghĩa mà đặt, như tông Thiền, tông Tịnh độ, tông Chân ngôn...; có khi theo tên của vị Khai tổ hoặc nơi ngài cư trú mà đặt, như tông Thiên thai, tông Lâm tế, tông Tào động của Trung quốc và tông Nhật liên của Nhật bản. Còn giáo nghĩa do tông phái nói ra thì gọi là Tông nghĩa, Tông thừa; phong khí của một tông, gọi là Tông phong; chỉ thú của một tông, gọi là Tông ý; Tổ sư của một tông, gọi là Tông tổ; môn đệ của một tông, gọi là Tông đồ; nghị luận liên quan đến sự hơn kém, thật giả của tông phái, gọi là Tông luận; công việc thuộc giáo đoàn của tông phái, gọi chung là Tông vụ; nơi coi về tông vụ, gọi là Tông vụ sở, người chủ trì Tông vụ sở, gọi là Tông vụ trưởng, Tông trưởng. Tại Trung quốc từ đời Đường, các vị Tổ sư sáng lập các tông phái để chuyên môn nghiên cứu, học tập, tu hành, như Thiền tông, Tịnh độ tông, Luật tông, Hoa nghiêm tông, Tam luận tông, Pháp tướng tông, Mật tông, Thiên thai tông, gọi là Đại thừa bát tông. Nếu thêm các tông: Tì đàm, Thành thực, Niết bàn, Nhiếp luận và Địa luận thì thành là 13 tông. Ở Nhật bản, vào thời đại Bình an có 8 tông thịnh hành là: Luật, Câu xá, Thành thực, Pháp tướng, Tam luận, Hoa Nghiêm, Thiên thai và Chân ngôn; cho nên sự học hỏi, nghiên cứu về giáo nghĩa của tất cả các tông phái Phật giáo, thông thường được gọi là Bát tông kiêm học(học cả 8 tông); Bát tông nếu thêm Thiền tông nữa thì thành Cửu tông(9 tông), quen gọi là Bát gia cửu tông(8 nhà 9 tông). Bát gia cửu tông này thu tóm tất cả tông phái. Ngoài ra còn có các thuyết 6 tông, 12 tông, 13 tông... [X. PháphoahuyềnnghĩaQ.1 thượng, Q.9 hạ; Hoa nghiêm kinh huyền kí Q.1; Quán kinh huyền nghĩa phần Q.1]. (xt. Thập Tam Tông). II. Tông. Phạm: Pakwa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong 5 chi tác pháp, 1 trong 3 chi tác pháp, 1 trong 8 Năng lập. Tức là luận đề, mệnh đề, phán đoán của một chủ trương nào đó mà chính mình nêu ra để tham luận, được cấu thành bởiChủ từ(tiền trần)và Tân từ(hậu trần). Chủ từ và tân từ đều gọi là Tông y, 2 phần này hợp làm một mệnh đề, gọi là Tông thể. Chẳng hạn như tín đồ Phật giáo đối với Thanh luận sư mà nêu luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vìnó được tạo tác ra. Trong luận thức trên, âm thanh và vô thường đều là Tông y, 2 phần này hợp chung lại thành âm thanh là vô thường tức là Tông thể, vì nó được tạo ra là Nhân (lí do). Trong đối luận Nhân minh, theo qui định, Tông y đều phải được người lập luận(Lập) và người vấn nạn(Địch) cùng chấp nhận(lập địch cộng hứa); còn Tông thể thì lập địch bất cộng hứa, tức cái mà người lập luận chủ trương thì bị người vấn nạn phản đối. Tông được chia ra làm Chân tông (tông đúng) và Tự tông(tông sai). Chân tông tức là mệnh đề chính xác, Tự tông tức là mệnh đề sai lầm, dường như đúngnhưngthật ra là sai. Tự tông lại được chia làm 3 loại: Tương vi, Bất thành, Cực thành. Các nhà Cổ nhân minh từ ngài Trần na về trước cho rằng: Tông thuộc về Năng lập, ý chỉ cho tác pháp có khả năng xác lập chủ trương của chính mình. Nhưng các nhà Tân nhân minh như ngài Trần na, Thương yết la chủ... thì cho rằng chỉ có Nhân(lí do) vàDụ(ví dụ) mới đáng được gọi là Năng lập, đó là vì Nhân và Dụ có khả năng thành lập Tông, còn bản thân Tông thì vì chưa được đôi bên Lập, Địch cùng chấp nhận, cũng như phải đợi đến nghị luận mới có thể xác lập, cho nên Tông chỉ thuộc Sở lập chứ chẳng phải Năng lập. Đó là chỗ sai khác rất lớn về lập trường quan điểm giữa Tân nhân minh và Cổ nhân minh. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trầnđạitề); Nhân minh học (Xử ngu)]. (xt. TôngY, TôngThể).