Thiên này có hai phần: Thuật ý, Dẫn chứng.
Thứ nhất: PHẦN THUẬT Ý
Nói đến yêu quái, trong Thiên Bảo Ký nói: “Đó là tinh hoa khí chất dựa vào vật khác mà sinh ra. Khí chất hổn loạn từ trong vật biến hóa ra bên ngoài, hình hài thần thái khí chất sử dụng từ ngoài vào trong”. Căn bản từ Ngũ Hành thông suốt đối với Ngũ Sự, tuy thông tin lên cao xuống thấp chuyển hóa biến động khôn lường, nhưng mà hiện tượng của những điềm lành dữ ấy, đều có thể chân thành mà bàn luận được. Đây chỉ là cách nhìn tiếp cận của tình cảm bình thường, không thông hiểu nhân quả của bậc Đại Thánh. Tìm hiểu hiện tượng biến tướng này chính là túc nghiệp lẫn tạp của chúng sinh, nhân cảm với duyên của báo ứng hiện tại mà phát sinh. Nhân duyên gặp nhau thì cái lý của sự vật là tất nhiên, cho nên có hiện tượng này chưa đủ để cho là quái lạ!
Thứ hai: PHẦN DẪN CHỨNG
Như kinh Phật Bổn Hạnh nói: “Lúc bấy giờ đức Phật bảo với các Tỳ kheo rằng: Ta nhớ xưa kia, có một con ngựa chúa tên gọi Kê Thi, hình dung tướng mạo đoan chánh thân thể sáng ngời sạch sẽ giống như ngọc trắng nõn nà, lại giống như bạc trắng ngần, như vầng trăng tròn vằng vặc, như đóa hoa Cư Đà. Đầu ngựa chúa màu xanh biếc chạy nhanh như gió, tiếng hí như trống vi diệu. Vào thời gian ấy, cõi Diêm phù đề có năm trăm người buôn, khi các người buôn sắp đi vào biển lớn, lo liệu đầy đủ tiền bạc lương thực đi đến biển lớn, thì cúng tế thần biển chuẩn bị các thuyền bè. Mướn được năm người giỏi về tàu thuyền đi tìm kiếm ngọc ngà châu báu. Lúc những người buôn đi vào trong biển rộng, bỗng nhiên gặp phải luồng gió dữ, thổi vào đoàn tàu đưa đến nước của quỷ La sát. Nước ấy có nhiều La sát nữ, lúc gần đến nước đó, gió lớn thổi tung tàu thuyền va chạm đều bị phá hủy, lúc ấy những người buôn đều vận dụng tay chân, bỏ tàu thuyền trôi bập bềnh muốn đến nơi bờ kia. Lúc ấy La sát nữ nghe trong biển lớn kia có tàu thuyền bị phá hoại, những La sát nữ lập tức đến tiếp cứu, trong một lúc cứu được năm trăm người buôn. Cùng với những người buôn ấy vui mừng nhảy múa tự nhiên hưởng thụ ngũ dục, cùng sinh ra con cái, đem những người buôn ấy sắp xếp ở trong một khu thành bằng sắt. Đã sắp xếp xong xuôi, biến hóa hình hài của mình làm cho đoan chánh hơn, đáng yêu hơn con người, nhưng tài năng không bằng chư Thiên, dùng hương thơm cõi Trời hòa vào nước tắm gội, lấy hương thơm xoa trên thân thể, mặc vào các loại xiêm y rực rỡ và đeo chuỗi anh lạc để trang nghiêm, đầu đội mũ bằng hoa vi diệu của cõi Trời dùng các chuông nhỏ quý báu treo lên, đi lại nhanh nhẹn, đến nơi những người buôn nói với mọi người rằng: Này hỡi các vị Thánh, chẳng có gì sợ hãi cả, chẳng có gì lo lắng cả tôi từng là tay của người, từng là cánh tay của người, từng là eo lưng của người! Lúc này những người buôn vô cùng sợ hãi cái chết nên mong tánh mạng được bảo vệ an toàn, liền đối với những vị Thánh ấy đã dấy lên nghĩ rằng thật sự là người nữ cho mình bàn tay cánh tay của họ. Lúc ấy La sát nữ dùng lời hiền từ thương xót khuyên những người buôn rằng: Từ phương xa nào đến đây có thể làm chồng tôi, thương xót chúng tôi làm người chủ cho chúng tôi, chúng tôi không có người yêu thương để nghĩ đến làm nơi nương tựa, không có ai trừ diệt nỗi ưu sầu phiền não cho chúng tôi nên làm gia trưởng cho bọn chúng tôi, chúng tôi sẽ hầu hạ cung phụng không để thiếu sót điều gì! Bấy giờ những người buôn đều cảm động thương xót, cất tiếng khóc nỉ non cùng nói ra những tình cảm thiết tha, cùng an ủi nói cho nhau biết, nhiều lần làm yên lòng lẫn nhau. Sau đó đến khu thành của La sát, chưa đến khu thành ấy, ở giữa khoảng đường thấy có một nơi, đất đai rộng rãi khắp nơi bằng phẳng vuông vắn, cây rừng hoa quả cành lá tốt tươi đều đặn, các loại chim bay lượn tụ về vô lượng như vầy. Lại có hồ ao xen lẫn các loại hoa, hoa lá chim chóc khắp nơi trong đó, người nhìn thấy vui thích làm cho tan biến mọi ưu phiền. Khu thành của La sát, tường xung quanh trong sáng, hình dạng giống như ngọc trắng nỏn nà, lại giống như băng trong suốt khu thành đó ở mặt đất, nếu người nhìn từ xa, mới thấy khu thành kia giống như một áng mây trắng, hiện ra từ trong lòng đất. Khu thành ấy trang ng hiêm rực rỡ như trong kinh thuật lại đầy đủ. Bấy giờ những La sát nữ dẫn những người buôn, hướng đến khu thành ấy rồi, bảo cởi bỏ áo quần cũ, dùng các loại hương thơm hòa nước tắm gội thân thể, khiến ngồi lên chổ ngồi có đủ các loại thù thắng vi diệu, dùng năm thứ dục lạc vốn có mà làm cho vui thích, dùng năm loại âm thanh ở trước mặt mà trỗi lên, trải qua thời gian lâu dài hưởng thụ sung sướng vui vẻ vô cùng. Sau đó những La sát nữ cùng nói với các người buôn rằng: Tốt lành thay hỡi vị Thánh! Phía Nam khu thành này là nơi không được đến gần! Có một người buôn trí tuệ rất tinh tế thông minh nhạy cảm, liền sinh nghi ngờ mà dấy lên tư duy rằng: Vì những nguyên cớ gì mà không được đi qua phía Nam, mình hãy đợi lúc những người nữ nằm ngủ, tìm đến nơi đã ngăn cấm, lần lượt quan sát xem sự việc thiện ác ra sao? Lúc ấy người chủ buôn dấy lên ý niệm này rồi, liền chờ những La sát nữ kia đã nằm ngủ say rồi, thì nhẹ nhàng mà đứng dậy không làm cho tiếng động phát ra, liền cầm dao từ trong nhà đi ra ngoài, tìm đến với dự tính dần dần tiến lên phía trước. Đến một khu đất nhỏ thấy một con đường nhỏ dẫn vào nơi ngăn cấm, không có một loại cỏ cây gì thật đáng kinh sợ, mới nghe có tiếng người lớn tiếng kêu la, giống như tiếng kêu la của sự đau khổ trong địa ngục. Nghe thấy tiếng này rồi, lông tóc đều dựng đứng lặng lẽ mà dừng lại, rất lâu mới bình tịnh trở lại, vẫn đến chổ kia, dần dần tiến vào con đường đó, trông thấy mọi khu thành bằng sắt, thành đó cao lớn là nơi âm thanh phát ra. Đến thành đó đi quanh mà không thấy cổng, đi về phía Bắc thấy có một cây, tên gọi Hợp Hoan, mọc ở gần bên thành. Cây ấy cao lớn vượt lên phía trên thành. Lúc người chủ buôn ấy trông thấy cây này rồi, lập tức trèo lên cây đó quan sát trong thành, thấy trong thành kia có nhiều người chết, nhiều hơn số trăm. Hoặc có người chết đã bị ăn một nữa, hoặc mạng sống chưa chấm dứt mà nửa người bị cắt xẻ, hoặc có người đói khát bức não mà ngồi; hoặc có người gầy ốm chỉ còn xương da, mắt mũi sâu hoắm giống như đáy giếng, mê man lăn trên đất đầu tóc rối tung, bụi bám đầy thân vô cùng yếu ớt, tất cả đều cắt thịt dẫn nhau mà ăn để sống cầm hơi. Vì nhân duyên này phát ra tiếng kêu la thảm thiết vô cùng, giống như nơi cư trú của Diêm La Vương, trông thấy các chúng sinh nhận vhịu nhiều đau khổ bức não, người chủ buôn vĩ đại này thấy sự việc ấy rồi, cũng lại như vậy, lập tức dùng tay nắm cành cây Hợp Hoan mà lay động, một cành lay động rồi thì cành lá cả cây va chạm vào nhau mà có âm thanh phát ra. Bấy giờ những người nhận chịu khổ đau nghe âm thang này rồi, ngước mặt nhìn lên trên thành, trông thấy người chủ buôn ấy ở trên cây Hợp Hoan, thấy rồi gọi to đau xót: Ngài là ai vậy, là Trời hay là Rồng, lạ Dạ xoa hay Đế Thích, là Đại Phạm vương chăng, ở nơi này tai họa nguy hiểm, đã thương xót bọn tôi cho nên đến nơi này, cứu chúng tôi ra khỏi khổ đau ư? Lúc ấy đám người kia chắp hai bàn tay lại, đầu cúi lạy từ xa khóc đau thương cất tiếng ngước mặt lên nhìn phát ra thưa lời như vậy: lành thay người có lòng nhân hậu! Nay Ngài cứu giúp cho chúng tôi đến được nơi thân ái chăng? Bấy giờ người chủ buôn từ nơi đám người khổ đau kia nghe lời nói như vậy rồi, ấm ức không vui thân tâm đau xót phiền muộn, mà trả lời đám người kia rằng: Hỡi những con người khốn khổ! Nên biết rằng tôi nay không phải là Trời Rồng, thậm chí không phải là Đại Phạm Thiên vương đâu, nhưng bọn chúng tôi từ Diêm phù đề vì phát khởi cuộc sống mà đến nơi này, vì cầu tìm tiền của cho nên đi vào biển lớn, chúng tôi mong muốn đến được đất liền, bỗng nhiên gặp phải gió lớn nên tàu thuyền bị tan tành, gặp những người phụ nữ đến bên chúng tôi cứu giúp chúng tôi thoát nạn. Từ lúc ấy đến nay thường cùng chung như vậy, những người phụ nữ vui sướng hưởng niềm khoái lạc, nay tôi làm sao có thể cứu giúp nỗi khổ của các người được? Lúc ấy người chủ buôn lại hỏi những người kia rằng: Này những con người khốn khổ! Tại sao nơi này nhận chịu những điều như vậy? Đám người khốn khổ kìa liền trả lời rằng: Tốt lành thay con người lương thiện! Chúng tôi bây giờ cũng lại như vậy, bạn bè cùng đi chung cũng có năm trăm người, thuyền hỏng đến bờ, cũng gặp phải La sát nữ cùng nhau hưởng thụ 5 thứ dục lạc, đem bọn chúng tôi giam trong khu thành bằng sắt, vào đến khu thành này đã bị ăn thịt hai trăm năm mươi người, nay chỉ còn lại hai trăm năm mươi người, chúng tôi cũng cùng với bọn họ hòa hợp sanh ra con cái, La sát nữ kia nói năng vi diệu, tiếng nói của họ dịu dàng quyến rủ, nhưng những người nữ kia tham lam ăn thịt, con cái cùng sinh ra đều trở lại ăn hết. Những người các ông cẩn thận cùng với họ hưởng thụ thú vui khoái cảm! Tại vì sao? Bởi vì họ rất đáng sợ, không có tâm yêu thương gì thoát được tai họa hay không? Những người kia liền trả lời rằng: Có một cách! Người chủ buôn lại hỏi: Cách như thế nào? Tốt lành thay hãy nói cho tôi biết! Những người kia trả lời rằng: Suốt ngày mười lăm tháng tư gặp dịp lễ hội rất vui mừng, lúc mặt trăng mặt Trời cùng với sao Mão hòa hợp với nhau, có một con ngựa chúa tên gọi là Kê Thi (Tùy nói là Đa Phát), hình dung tướng mạo đoan chánh, ai trông thấy cũng thích nhìn, trắng như ngọc quý nõn nà, đầu ngựa chúa màu đen pha hồng, chạy nhanh như gió, tiếng hí như trống vi diệu. Nơi nào ngựa chúa ấy dừng lại chính là nơi có cám gạo, tự nhiên không có vỏ trấu, rất sạch sẽ và thơm ngon ngọt ngào đầy đủ các mùi vị, thức ăn của ngựa chúa ấy, là ăn thứ gạo này. Ăn rồi đi đến bờ biển lộ ra rõ ràng một nửa thân hình, miệng phát ra tiếng người mà nói lời như vậy: Ai muốn vượt qua dòng nước khổ đau của biển lớn kia? Nói ba lần như vậy: Tôi nay sẽ khiến cho yên ổn vượt qua được bờ bên kia! Nếu gặp được ngựa chúa như vậy thì được thoát khỏi tai họa, chỉ có điều này chứ không còn cách nào hơn nữa. Nếu như các ông muốn thoát khỏi những tai họa thì đừng tiết lộ lời này ra ngoài! Người chủ buôn lại hỏi: Các ông có thể đã từng trông thấy ngựa chúa phải không? Nếu như các ông trông thấy ngựa chúa thì vì sao không thân cận, vì sao không đưa các ông vượt qua? Các ông bắt đầu từ ai nghe được sự việc như vậy? Những người kia trả lời rằng: Các ông đến trước có thể cùng tôi đi đến nơi của ngựa chúa kia không? Những người kia trả lời rằng: Chúng tôi muốn lên trên thành thì thành liền cao hơn, đào đất muốn ra ngoài thì lổ đào ấy lại khép kín, chúng tôi không có kỳ hạn thoát khỏi nơi này, chúng tôi ắt phải bị La sát nữ ăn thịt, đến lúc nào gặp được quyến thuộc thân thích của mình! Những người các ông cẩn thận đừng phóng túng, tùy theo ý muốn mà rời xa, mau trở về quê cũ với cha mẹ và quyến thuộc của mình, chỉ nguyện cầu tâm ý các ông hòa hợp, chúng tôi vốn sinh ra và sống ở ấp đó thành đó xứ sở đó, tốt lành thay các ông, nếu như đến xứ sở kia hãy vì bọn tôi hỏi thăm sức khỏe cha mẹ quyến thuộc bạn bè thay chúng tôi! Bày tỏ lời này rồi, chúng tôi nói cho những người kia biết rằng: Sau này các ông đừng khởi tâm hướng đến biển rộng kia nữa! Tại vì sao? Bởi vì ở trong biển rộng có lắm điều kinh hãi, chỉ ở xứ sở kia tùy theo hoàn cảnh mà nuôi sống tính mạng, được chung sống với cha mẹ vợ con quyến thuộc còn sự phân ly đau thương, luôn luôn thực hành bố thí tạo nhiều phước thiệp, nghiêm trì trai giới là điều tốt lành nhất! Lúc ấy người chủ buôn nghe những lời kia rồi sanh lòng sợ hãi vô cùng, liền vội vàng leo xuống cây. Lúc ấy những người kia cùng một lúc cất tiếng kêu gào nỉ non khóc lóc biểu hiện sự đau khổ cùng cực: Nơi vi diệu trong cõi Diêm phù đề, làm sao có thể thấy được? Nếu như xưa kia biết nơi khốn khổ này, thì thà rằng ở tại nơi kia ắn nuốt cức trâu để nuôi sống tính mạng cũng đành, không vì cầu mong tiền của mà đến chổ này! Lúc bấy giờ người chủ buôn dựa theo con đường trước đây quay về nơi ban đầu, thấy những La sát nữ kia, hãy còn ngủ say sưa. Người chủ buôn lúc ấy trở về liền nằm ngủ. Mãi đến Trời sáng thì dấy lên ý nghĩa rằng: Làm sao khiến cho những người buôn kia biết được chuyện này? Nếu như vội vàng nói ra thì chuyện này bị tiết lộ, nếu như chuyện này bị tiết lộ ra ngoài thì các La sát nữ sẽ đem bọn mình đến nơi tai ách khốn khổ kia. Mình nói lời này lặng lẽ kín đáo, cho đến tháng tư sắp vào dịp lễ hội nhân ngày ngựa chúa đến mới nói cho những người kia biết. Vì sao như vậy? Xưa có bài kệ nói rằng:
Bình thường đối với điều hiểu biết,
Tùy tiện thổ lộ tâm tư mình, Sự việc ấy sẽ bị tiết lộ,
Người nghe diễn đạt theo ý mình,
Vì vậy oán thù ắt phải gặp,
Thì nhận chịu biết bao khổ não, Cho nên người có chút trí tuệ, Không tùy tiện tiết lộ lời nói.
Lúc bấy giờ người chủ buôn âm thầm lặng lẽ mà dừng lại, cho đến lúc tụ hội vui vẻ vào dịp tháng tư, mới bắt đầu nói cho những người buôn kia biết rằng: Hôm nay các ông cẩn thận đừng phóng túng lưu luyến theo tâm yêu mến, hoặc là tham đắm phụ nữ, hoặc là tham lam ăn uống cùng các thứ tiền của châu báu! Tôi đối với các ông trong lòng vô cùng thương xót, nay tôi nói điều bí mật này! Lúc ấy những người buôn nghe người chủ buôn nói, giống như Sư tử ở nơi núi rừng bất ngờ cất tiếng gầm thét vang dội, có những loài thú bình thường ở cạnh núi ấy, nghe tiếng gầm đó sanh lòng kinh hãi vô cùng, tất cả nói với nhau rằng: Bây giờ chúng ta chưa thoát khỏi sự cố đáng ghét của biển rộng. Bấy giờ những người buôn kia qua được ngày ấy rồi, liền đến trong đêm, thấy tất cả các La sát nữ kia, đang ngủ say sưa nên nằm yên ổn, lặng lẽ âm thầm rón rén từ nơi giường nằm đứng dậy, tất cả cùng nhau đến nơi đã hẹn ấy. Đến nơi ấy rồi, thưa với người chủ buôn rằng: Tốt lành thay người chủ buôn! Đã trông thấy sự việc này, nguyện xin nói cho chúng tôi biết! Lúc bấy giờ người chủ buôn liền nói cho những người ấy biết sự việc trông thấy trước đây. Mọi người nghe xong lo buồn không vui, thưa với người chủ buôn rằng: Tốt lành thay người chủ buôn! Chúng tôi bây giờ phải nên làm sao để có thể nhanh chóng đến nơi ngựa chúa ấy, nguyện xin xho bọn chúng tôi yên ổn đến được nơi mình sanh ra ở trong cõi Diêm phù đề! Lúc ấy những người buôn đều đến nơi ngựa chúa. Bấy giờ ngựa chúa đến nơi bờ biển, lộ bày rõ ràng một nửa thân hình dùng âm thanh của loài người, rồi ba lần nói to cho biết: Ai mong muốn vượt qua bờ bên kia của dòng nước khổ đau này, tôi sẽ cõng mà vượt qua yên ổn, khiến cho đến được bờ bên kia! Lúc ấy những người buôn nghe ngựa chúa nói lới như vậy rồi, vui mừng nhảy lên lông tóc đều dựng đứng, chắp hai bàn tay cúi đầu lạy ngựa chúa, phát ra lời nói như vậy: Tốt lành thay ngựa chúa! Chúng tôi muốn vượt qua và vui mừng đến bờ bên kia, nguyện xin cứu giúp chúng tôi từ bờ bên này của dòng nước đến được bờ bên kia! Bấy giờ ngựa chúa nói cho những người buôn biết: Các ông nên biết rằng! La sát nữ kia không bao lâu sẽ đến, hoặc đem con cái biểu lộ rõ ràng trước mặt các ông, thương yêu đau xót khóc lóc năn nỉ chịu đựng mọi sự khổ não, các ông vào lúc ấy đừng sanh tâm nhiễm trước yêu thương lưu luyến. Nếu như các ông khởi lên ý nghĩ này, thì giả sử cưỡi trên lưng tôi ắt cũng phải rơi xuống, làm thức ăn cho những La sát kia. Nếu dấy lên ý niệm như vậy: Kia không phải là những đồ vật của mình, không phải là con cái của mình. Giả sử dùng tay nắm một sợi lông của tôi mà treo lên, thì vào lúc này tôi sẽ cùng nhau đưa nhanh đến bờ bên kia một cách yên ổn. Nói lời này xong, lại nói: Bây giờ các ông có thể cưỡi trên lưng tôi, hoặc là giữ chặt mọi nơi trên thân hình tôi! Lúc ấy những người buôn ý theo lời nói mà cưỡi lên thân ngựa chúa. Bấy giờ ngựa chúa cõng những người buôn kia vượt khỏi âm thanh đau thương bay vút lên trong hư không đi nhanh như gió. Lúc ấy những La sát nữ kia, nghe thấy âm thanh thương xót của ngựa chúa kia, lại nghe tiếng chạy giống như gió bão, bỗng nhiên từ trong giấc ngủ tỉnh dậy tìm những người buôn ấy, nhưng tất cả đều không thấy, tìm xem khắp nơi, mới từ xa trông thấy những người buôn cưỡi trên lưng ngựa chúa băng hư không mà đi. Đã trông thấy sự việc này rồi, lập tức mang con cái chạy nhanh đến bờ biển, cất tiếng yêu thương tha thiết đau xót kêu gào khóc lóc nỉ non làm ra vẻ vô cùng khổ não, tất cả đều rộ lên nói rằng: Này các vị Thánh ơi! Bây giờ bỏ chúng tôi muốn đi về chốn nào? Làm cho chúng tôi không có chủ, các người là chủ của chúng tôi, các người từ trong tai họa trước đây bị rơi xuống biển vô cùng kinh hãi, chúng tôi cứu giúp các người, chỉ mong các người làm chồng với chúng tôi, bây giờ các người rời bỏ chúng tôi, muốn đến nơi nào, không còn ân nghĩa gì ư, vì sao lại bỏ nhau? Nếu có điều gì vi phạm nay xin sám hối, từ nay trở đi không làm điều gì xấu ác. Nếu như không cần đến chúng tôi, thì con cái của chúng ta bay giờ có thể nhận lấy mà mang theo. Lúc những La sát nữ tuy cất tiếng than khóc yêu thương như vậy, nhưng ngựa chúa Kê Thi vẫn mang những người buôn ấy băng nhanh. năm trăm người buôn yên ổn vượt qua được bờ bên kia của biển rộng đến cõi Diêm phù đề.
Này các Tỳ kheo! Ý các thầy nghĩ thế nào? Ngựa chúa Kê Thi lúc ấy, lẽ nào là người khác ư? Chính là thân Ta bây giờ. Người chủ buôn trong năm trăm người lúc ấy, lẽ nào là người khác ư? Chính là Xá lợi phất bây giờ. năm trăm người buôn lúc ấy, lẽ nào là người khác ư? Chính là các đệ tử San Xà Da ba Ly bà xà ca gồm năm trăm người bây giờ. Ta ở vào lúc ấy dẫn năm trăm người buôn này cùng đến nơi ách nạn khổ đau, cứu giúp những người gặp phải ách nạn ấy đến được bờ bên kia, bây giờ trở lại đến nơi của San Xà Da tà kiến, Xá lợi phất cảm hóa rồi đem đến nơi Ta, Ta ở trong cánh rừng bát ngát của tà kiến, hóa độ làm cho vượt qua được biển cả sanh tử. Vì vậy cho nên các thầy hãy ở nơi Phật, nên sanh tâm cung kính tôn trọng!”
Lại trong kinh Cựu Tạp Thí Dụ nói: Xưa có năm Đại sĩ cùng đi gặp tuyết rơi, ở lại qua đêm trong một đền thờ Thần, trong ngôi đền có hình tượng của quỷ Thần, người trong nước rất tôn sùng. Bốn người khác nói: Đêm nay rất lạnh có thể lấy người gỗ đốt để nhóm lửa nấu cơm. Một người nói: Người này thờ ở đây không thể làm hư hỏng được; vì vậy xếp lại không phá hỏng. Quỷ trong đền này thường ăn thịt người, tự nói với mình rằng: Chỉ ăn một người kia, một người sợ mình, bốn người còn lại dữ tợn, không thể nào xâm phạm được họ. Người không dám làm hư hỏng tượng gỗ, ban đêm nghe quỷ nói nên vùng dậy gọi bạn bè ra đi. Bốn người còn lại nói: Sao không phá vỡ tượng gỗ dùng để nhóm lửa nấu cơm vậy ư? Người ấy liền lấy tượng gỗ nhóm lửa, quỷ ăn thịt người sợ hãi tuôn chạy mất. Nói đến người học đạo cũng lại như vậy, luôn luôn cần phải kiên định ý chí không được yếu hèn, làm cho quỷ được dịp thuận tiện tổn hại đến người vậy”. Vì thế trong kinh Duy Ma nói: “Ví như lúc con người sợ hãi thì loài phi nhân được dịp thuận tiện ấy”. Còn trong kinh Bồ tát Xử Thai nói: “Lúc bấy giờ Đức Thế tôn bảo với Bồ tát Trí Tịnh rằng: Một đời Bổ xứ Bồ tát, dùng phương tiện quyền biến sanh vào nhà hèn mọn, muốn được thị hiện trừ diệt vô minh kết sử, 10 tháng ở trong thai, ngày sắp sanh ra hiện bày hình tướng không có tay chân, cha mẹ nhìn thấy nói rằng đó là quỷ, đem bỏ nơi đồng hoang vắng vẻ không để cho người ta trông thấy. Sau đó vài ngày mẹ lại mang thai, 10 tháng đã đủ sanh ra một bé trai, đoan chánh xinh xắn kỳ lạ hiếm có ở thế gian, ban ngày sanh ra đến đêm thì chết, cha mẹ gào khóc đấm ngực hướng lên Trời cao nức nở, thần núi thần cây sao không thương xót tôi, trước đã sanh ra một đứa con mà lại không có tay chân, đem bỏ nơi đồng hoang vắng vẻ, nay sanh một đứa con đoan chánh không có gì sánh được, hình dáng giống như Thiên Thần, bây giờ lại ngày sanh đêm chết, tim gan đoạn tuyệt xót xa biết phải làm sao chịu nổi! Lại qua mấy tháng người mẹ dần dần mang thai, 10 tháng đã đủ sanh ra một bé trai, ba đầu tám chân bốn mắt tám cánh tay, người nhìn thấy sợ sởn tóc gáy, cha mẹ quyến thuộc vất bỏ mà muốn rời xa, Bồ tát quyền biến thị hiện làm cho không thể nào đi được. Cha mẹ hỏi rằng: Là người cõi Trời chăng, hay là loài Rồng Quỷ Thần chăng? Lúc bấy giờ đứa bé đã sinh ra, liền dùng bài kệ trả lời cha mẹ rằng:
Chẳng phải Trời hay quỷ Dạ Xoa,
Cần phải sánh ngang Ca Lâu La, Vì trừ diệt ngu muội cho mẹ, Tạm thời sanh vào nhà mẹ cha.
Trước đây con không có tay chân, Cũng lại là thân thể của con, Sáng sớm sinh ra chiều chết đi,
Giống như Bát Trú Vô thượng Tôn, Nay con nhận hình hài thân thể, Ba đầu bốn mắt tám chân tay, Vì sao bỏ con mà rời xa,
Hướng đến con đường vào địa ngục?
Thiêu đốt cội gốc của thiện căn,
Mong cầu hủy diệt cũng khó lắm, Nay con lại trở về thể chất, Hiện hình tướng đoan chánh ban đầu.
Giữ giới không mất đi lời nguyện,
Mượn cớ sanh vào nhà cha mẹ, Thân mạng xả bỏ trước và sau,
Số lượng ấy nhiều không kể xiết.
Căn bệnh chúng sinh chẳng phải một,
Tìm đến cho vị thuốc cam lộ,
Hứng thú để đi vào giáo pháp,
Trừ diệt không đi vào đường tà.
Thọ nhận phước thiện của chư Thiên,
Vị thuốc cam lộ trừ khỏi bệnh, Thuốc quý không làm trái Thánh giáo, Vui niềm vui Niết bàn giải thoát”.
Tụng rằng:
Cầu vật báu mất thuyền được cứu,
Nghĩ cách cứu hình hài trôi nổi,
Đến khắp nơi huyền ảo quyến rũ, Tà ma quỷ quái giả nghĩa tình.
Mượn cứu thoát tai họa biển khơi,
Cất tiếng mở lời giả thân ái,
Không phải tự ngựa chúa cõng sang, Tai ách khổ đau nào bình yên?
NHÂN DUYÊN CẢM ỨNG
Sơ lược dẫn ra 26 chuyện linh nghiệm: 1 Đông Dương Lưu Sủng bị máu cảm thấy quái lạ; 2 Yêu quái loài Rồng thời Lổ Chiêu Công; 3 Yêu quái loài Rồng thời Hán Huệ Đế; 4 Yêu quái loài rắn thời Hán Vũ Đế; 5 Yêu quái loài rắn thời Hán Hoàn Đế; 6 Trong thời Tấn Thái
Khang có yêu quái loài cá; 7 Yêu quái loài chuột thời Hán Thành Đế; 8 Yêu quái loài chó thời Hán Cảnh Đế; 9 Yêu quái ma quỷ thời Hán Chương Đế; 10 Giả Nghị trông thấy yêu quái Chim Bằng; 11 Thành An Dương có đình miếu yêu quái; 12 Trong vùng Đông Việt Mân có yêu quái loài rắn; 13 Trung Sơn Vương Chu Nam có yêu quái loài chuột; 14 Quế Dương Trương Di có yêu quái cây; 15 Nam Dương Tống Đại Hiền có ngôi đình yêu quái; 16 Thời Ngô có quỷ quái trong ngôi đình ở quận Lư Lăng; 17 Trong thời Kiến An nhà Hán vùng quận Đông có ông lão kỳ quái; 18 Thời nhà Tấn có con cáo già làm người cha kỳ quái của người ta; 19 Thời nhà Tấn có chùa Nam Kinh ghi lại hiện tượng kỳ quái của tổ quạ trên điện thờ; 20 Thời nhà Tấn có con cáo yêu quái làm vợ người ta; 21 Thời nhà Tấn có con cáo yêu quái làm con gái người ta mà sinh con; 22 Thời nhà Tấn có Trương Xuân gặp nữ tà quỷ quái; 23 Thời nhà Tống trong nhà Lương Đạo Tu có quỷ quái tà ma; 24 Trong núi Tây Phương có người kỳ quái ăn toàn tôm cua; 25 Thời nhà Tống có người Họ Vương làm nghề bắt cua gặp khúc gỗ kỳ quái; 26 Thời đời Đường có người phản nghịch tên Trương Lượng gặp sấm sét kỳ quái.
1: Đông Dương Lưu Sủng, tên tự Đạo Hoằng, sống tại Cô Thục, hằng đêm trong sân nhà tự nhiên thấy có nhiều máu lấm lem, không biết từ nơi nào mà có. Nhiều lần như vậy, sau đó Lưu Sủng làm tướng quân chống giặc ngoại xâm, được phái đi chinh phạt phía Bắc. Lúc sắp lên đường thì nhóm lửa làm cơm nhưng tất cả đều biến thành sâu bọ, người trong nhà nấu nướng thứ gì cũng biến thành sâu bọ, ngọn lửa càng mạnh thì sâu bọ trong nồi chảo đang nấu càng mạnh lên. Lưu Sủng đi chinh phạt phía Bắc, quân lính bị đánh bại trong trận chiến, đã bị Từ Long giết hại.
2: Thời Lổ Chiêu Công năm thứ mười, lúc ấy có loài Rồng đánh nhau ở nước Trịnh, bên ngoài cổng Vĩ Uyên. Trong kinh Phòng Dị Truyện nói: “Tâm mọi người bất an, bởi vì loài Rồng yêu quái đánh nhau bất tỉnh ở trong ấp đó”.
3: Ngày mồng một Quý Dậu tháng Giêng năm thứ hai thời Hán Huệ Đế, có hai con rồng hiện ra ở phía Đông nhà Lan Lăng, ở trong giếng Ôn Lăng. Trong Kinh Phòng Dị Truyện nói “Có đức gặp phải tai họa, trong giếng thấy rồng yêu quái hôn mê, thi hành hình phạt rất tàn ác, rồng đen từ trong giếng hiện ra”.
4: Tháng mười năm thứ tư niên hiệu Thái Thỉ thời Hán Vũ Đế, vùng nước Triệu có con rắn từ ngoài tường thành bò vào, đánh nhau với rắn trong ấp, rắn trong ấp dưới miếu thờ Hiếu Văn thua mà chết. Mùa Thu hai năm sau, xảy ra sự cố Thái Tử nước Vệ, dấy lên từ người nước Triệu ở vùng Trường Giang.
5: Hán Hoàn Đế lên ngôi, có con rắn lớn hiện ra trên điện Đức Dương. Lạc Dương hy lệnh Thuần Vu Dực nói: “Rắn có vảy và vỏ cứng giống như binh sĩ mặc áo giáp vậy”.
6: Trong thời Tấn Thái Khang có hai con cá chép, hiện ra trong nhà kho vũ khí. Binh lính trong phủ giữ kho vũ khí có áo giáp vảy cá, cũng tương tự như vảy loài cá này. Cá lại rất Âm, trong nhà rất Dương. Cá hiện ra trong nhà, có vẻ như rất Âm mà tai họa của chiến tranh liên quan đến rất Dương. Đến đầu thời Huệ Đế, giết cha của Hoàng Hậu là Dương Tuấn, thề giao cung điện, phế Hoàng Hậu làm thứ nhân, chết ở trong lãnh cung tối tăm. Cuối thời Nguyên Khang bị Giả Hậu chuyên quyền nhiếp chính vu cáo giết hại Thái Tử, họ Tầm cũng phế truất. Vì vậy nạn mẫu hậu trong năm lại dấy khởi, tất nhiên là tai hoạ rắc rối đã được hình thành rồi. Kinh Phòng Dị Truyện nói: “Loài cá yêu quái rời sông nước bay lên đi vào đường sá, binh biến lại dấy lên theo”.
7: Tháng chín năm thứ tư niên hiệu Kiến Thỉ Hán Thành Đế, phía Nam thành Trường An có loài chuột ngậm cỏ vàng lá bách, làm tổ trên cây Bách và cây du trong phần mộ dân chúng, phần nhiều trên cây ngô đồng và cây bách, trong tổ không có con, nhưng đều có phân khô nhiều đến vài Thăng. Lúc ấy quần thần bàn tán cho rằng sẽ có xảy ra cháy lớn. Chuột trộm cắp thú vật nhỏ, đêm đến xuất hiện ban ngày trốn đi, nay đang ban ngày rời khỏi hang mà leo lên cây, giống như người hèn mọn mong muốn ở nơi sang trọng vinh hoa vậy, ví như cây ngô đồng cây bách bảo vệ nơi vườn của Hoàng Hậu Vệ Tư. Sau đó Hoàng Hậu nước Triệu từ nơi nghèo hèn bước lên địa vị rất tôn quý, ngang hàng với hoàng Hậu Vệ Tư, Hoàng Hậu nước Triệu cuối cùng không có con mà bị làm hại. Năm sau có cây điểu bị cháy mất tổ ví như giết chết con vậy. Kinh Phòng Dị Truyện nói: “Bề tôi bổng lộc vụng trộm không biết trừ bỏ, đó là hang ổ của loài chuột yêu quái vậy”.
8: Năm thứ ba thời Hán Cảnh Đế, ở Hàm Đan có con chó kết bạn với con lợn nhà, lúc ấy vua nước Triệu liền cùng với sáu nước chung nhau làm phản, bên ngoài kết cấu với giặc Hung Nô để làm nơi cứu viện. Trong Ngũ Hành chí nói: “Vua nước Triệu đầu óc mê muội giống như heo, kết giao với người ngoại bang, quân hung Nô giống như heo chó vậy”.
9: Thọ Quang Hầu là người ở thời Hán Chương Đế, có năng lức vạch trần tội trạng của các loài ma quỷ, khiến cho tự nhiên trói buộc trông thấy hình hài của chúng. Người huyện đó có người vợ bị mắc bệnh quỷ quái, lúc Quang Hầu vì người bệnh vạch tội thì có con rắn lớn mấy trượng đã chết ở ngoài cổng có cây to, cây có tinh khí, người dừng lại thì chết, chim bay qua thì rơi xuống, Quang Hầu vạch tội của cây thì cây khô tàn lụi giữa mùa hè, có con rắn lớn dài đến bảy, tám trượng, chết treo lơ lửng trên cây ấy. Hán Chương Đế nghe tin triệu đến hỏi, đáp rằng có chuyện ấy. Chương Đế nói rằng: Phía sau cung điện có yêu quái, sau nữa đêm thường có nhiều người mặc áo màu đỏ thẫm xõa tóc cầm lửa đi theo nhau, há có thể trấn áp được chăng? Hầu nói điều này làm được, yêu quái nhỏ mà thôi. Chương Đế giả sử người làm điều nầy. Quang Hầu Trấn áp ba người leo lên chân vừa chạm đất thì không còn sức lực. Chương Đế kinh hãi nói: Không phải ma quỷ đâu, Trẫm thử nhau mà thôi. Lập tức sai người giải trừ nhanh chóng.
10: Giả Nghị làm quan Vương Thái Trường Sa, vào ngày Canh Tý tháng tư, có con chim bằng bay vào trong phủ đậu trên góc chổ ngồi, rất lâu mới bay đi. Giả Nghị mở sách xem quẻ nói rằng: Chim rừng vào nơi ở chủ nhân sắp ra đi. Giả Nghị sợ điều ấy cho nên làm bài phú về chim bằng; sanh tử đồng thời mà phước họa như nhau, để làm cho ý chí càng ổn định hơn.
11: Phía Nam thành An Dương có một đình miếu, nơi này không thể ở lại. Nếu ở lại thì sẽ bị giết. Có một người học trò mới đi qua ở lại nơi đó, người giữ đình nói: Nơi này không thể ở lại, từ trước đến nay người ở lại đây chưa có ai sống được. Người học trò nói: Không có gì đau khổ, tôi tự có thể hài hòa. Thế là ở lại trong ngôi đình, mới ngồi nghiêm trang đọc sách, rất lâu bèn nghỉ ngơi. Sau nửa đêm có một người, mặc áo mỏng màu đen đi qua đi lại ngoài cửa, gọi người giữ đình, người giữ đình trả lời: Dạ. Trong đình có người phải chăng? Đáp rằng: Trước đó có một người học trò ở đây đọc sách, lâu nên mới nghỉ hình như chưa ngủ. Thế là im lặng mà đi. Chốc lát lại có một người, đầu bịt khăn mặc áo đỏ, gọi người giữ đình, người giữ đình trả lời: Dạ. Cũng lại hỏi: Trong đình có người chăng? Người giữ đình đáp như trước. Lại im lặng mà đi. Ngay sau đó người học trò không có điều gì khác, đứng dậy đến nơi gọi trước đây, gọi nhỏ người giữ đình, người giữ đình cũng dạ đáp lại. Lại hỏi trong đình có người chăng? Người giữ đình trả lời như trước. Bèn hỏi: Trước đó mặc áo đen đến là ai? Đáp rằng là con heo mẹ của nhà phía Bắc. Lại hỏi: Người đầu bịt khăn mặc áo đỏ là ai? Đáp rằng là con gà trống cha của nhà phía Tây. Hỏi rằng: Còn ông là ai vậy? Đáp rằng tôi là con bò cạp. Ngay sau đó người học trò cố gắng đọc sách đến sáng không dám ngủ. Trời sáng dân quanh đình đến coi xem kinh ngạc nói rằng: Vì sao anh sống được vậy? Người học trò nói: Anh cầm dây và hòm đến đây, tôi và anh bắt yêu quái! Thế là đào nơi trả lời hôm qua, quả nhiên bắt được con bò cạp, to như cây đàn tỳ bà, nọc độc dài mấy thước. Đến nhà phía Tây bắt được con gà trống cha, đến nhà phía Tây bắt được con heo mẹ. Giết chết cả ba con vật này, ngôi đình hiểm độc liền được yên lặng, vĩnh viễn không còn tai họa hung ác.
12: Trong vùng Đông Việt Mân có dãy núi lớn bình thường, cao mấy mươi dặm dưới chân núi đó về phía Bắc có một chổ đất trũng ẩm ướt, trong đó có con rắn lớn, dài khoảng bảy, tám trượng, thân tròn một trượng, dân chúng địa phương thường sợ hãi. Đông Trị Vô Úy và Trưởng lại thuộc về thành này, có nhiều người đã chết, cúng tế dùng toàn trâu dê cho nên không có phước thiện, hoặc là cho người ta nằm mộng, hoặc là nói cho thầy mo biêt, muốn được ăn thịt Đồng Nữ tuổi mới 12 13. đô Úy lệnh cho Trưởng Lại cùng nhau sắp xếp chuyện này. Nhưng không ngừng khích lệ tinh thần, cùng thỉnh cầu mọi người sinh con tôi tớ, và nuôi dưỡng người nữ có tội, đến tháng tám vào ngày cúng tế đưa đến cửa hang rắn, nhất định là ban đêm rắn sẽ xuất hiện để ăn thịt. Nhiều năm liên tục như vậy, trước sau đã có chín người nữ nộp mạng. Lúc bấy giờ dự tính tiếp tục chiêu mộ để tìm người nộp mạng. Những chưa có được người nữ nào. Nhà Lý Đản ở huyện Tương Lạc có sáu người con gái mà không có con trai, cô con gái nhỏ tên là Kí, nhận lời chiêu mộ muốn đi, cha mẹ không bằng lòng. Kí nói: Cha mẹ không có tướng, chỉ sinh ra sáu đứa con gái, không có một người con trai, tuy có mà cũng như không, con gái không làm được điều gì vinh hạnh để đền đáp công lao của cha mẹ, đã không có thể cung dưỡng mà chỉ có hao phí cơm áo, sống không ích lợi gì chi bằng chết sớm, bán thân xác của con có thể kiếm được ít tiền để cung dưỡng cha mẹ, lẽ nào không tốt hơn chăng? Cha mẹ yêu thương cô con gái nhỏ hoàn toàn không bằng lòng cho đi. Ký tự âm thầm ra đi không thể nào ngăn cản được. Thế là đi đến bày tỏ thỉnh cầu các vị quan chức một thanh kiếm tốt và một con chó để cắn rắn. Đến ngày vào tháng tám thì đến ngổi trong miếu, ôm kiếm dẫn theo chó bên cạnh. Trước tiên làm một số cốm gạo trộn với bột gạo rang mật, đem đặt ở cửa hang. Đêm đến rắn liền xuất hiện, đầu to giống như cái vựa tròn đựng thóc, mắt giống như hai tấm kính, ngửi thấy mùi thơm cốm gạo nên trước tiên tìm ăn ngon lành, Kí liền thả chó ra, chó chạy đến cắn chặt, Kí từ phía sau chém xuống, rắn bị thương đau đớn quằn quại, vì vậy nảhy lồng lên bò ra đến sân mà chết. Ký đi vào hang nhìn thấy những đầu sọ của 9 chín người nữ đã chết, lấy tất cả mang ra, mới giận dữ quát tháo rằng: Các người yếu hèn làm thức ăn cho rắn, thật đáng đau xót! Ngay sau đó Ký mang đầu sọ những người nữ đã chết đi thong thả mà trở về. Vua nước việt nghe tin, cưới cô gái tên Kí làm Hoàng Hậu, bái phong người che của Ký làm huyện lệnh Tương Lạc, mẹ và các chị gái đều có ban thưởng lễ vật. Từ đây vùng Đông Trị không còn vật nào yêu quái. Câu ca dao khen ngợi cho đến bây giờ vẫn còn lưu truyền.
13: Trung Sơn Vương Chu Nam trong thời Chánh Thỉ nhà Ngụy làm Trưởng ấp của ấp Tương, có con chuột từ trong hang bò ra ở trên công đường, nói rằng: Chu Nam bây giờ vào ngày đó tháng đó sẽ chết. Chu Nam vội đuổi đi không tin, chuột quay trở vào hang. Sau đó Kỳ hạn lại bò ra, thêm khăn bịt đầu mặc áo đen nói rằng: Chu nam trong hôm nay ông sẽ chết. Chu Nam vẫn không tin. Chuột lại đi vào hang, đợi đến lúc ấy lại đi ra đi vào, chuyển qua chuyển lại nhiều lần nói như ngày trước. Qua giữa trưa chuột lại nói: Chu Nam ơi ông không tin, tôi lại biết làm cách nào? Nói xong té xuống mà chết, lúc ấy áo mũ không còn. Chu Nam liền sai binh lính mang đến xem, nhìn thấy hoàn toàn như chuột bình thường.
14: Thái Thú Quế Dương Giang Hạ Trương Di, là Thủ Thăng Cao, ở vùng Yên Lăng, trong ruộng có cây lớn, hơn mười vòng tay, che kín sáu mẫu, cành lá sum sê tươi tốt tỏa tròn, đất quanh đó cây cỏ hoa màu không sống nổi. Thăng cao sai lính chặt cây, búa rìu chặt chưa đổ cây lớn thì có máu chảy ra. Lính chặt cây kinh hãi trở về thưa với Thăng Cao, Thăng Cao nổi giận nói rằng: Cây già có mủ đỏ điều này có gì kỳ quái? Vì vậy tự mình chặt cây thì máu chảy ra rất nhiều, Thăng Cao lại chặt cành, có một ông lão đầu tóc bạc phơ cao bốn năm thước từ hư không bỗng nhiên hiện ra đi đến chổ Thăng Cao. Thăng Cao dùng đao quya lại chém chết ông lão to lớn ấy. Mọi người đều kinh hãi nằm rạp xuống đất. Thăng Cao vẫn thản nhiên như thường không thấy làm lạ. Mọi người từ từ nhìn lên, thấy tựa như người mà không phải người, tựa như thú mà không phải thú. Điều này vốn gọi là yêu ma quỷ quái biến thành gỗ đá chăng? Trong năm chặt cây ấy, Thăng Cao làm Tích Tư Không Ngự Sử Thứ Sử Châu Duyễn.
15: Tống Đại Hiền ở Nam Dương, phía Tây vùng Ngạc có một ngôi đình không thể ở lại, người nào ở lại thì sẽ bị hại. Đại Hiền dùng chánh đạo không thể không ngó nhìn tới, tạm thời lên lầu đánh trống gảy đàn mà thôi, không mang theo binh giáp vũ khí. Cho đến nửa đêm thì có quỷ đến leo lên bậc thang chuyện trò với Đại Hiền, trợn mắt nhe răng hình dung tướng mạo thật là dữ tợn, Đại Hiền vẫn đánh trống gảy đàn như bình thường. Quỷ liền bỏ đi mất. Vào trong chợ lấy đầu người chết rồi quay lại nói với Đại Hiền rằng: Thà rằng đi bắt người nhỏ để ăn. Nhân đó đem đầu người chết ném trước mặt Đại Hiền. Đại Hiện nói: rất hay, đêm nay ta nằm ngủ không có gối, đang lúc này thì có cái làm gối. Quỷ lại bỏ đi. Rất lâu mới quay về nói: Thà rằng bẻ tay mình mà ăn vậy. Đại Hiền nói: Tốt. Nói chưa xong đi về phía trước. Đại Hiền đã quay lại nắm lấy bên sườn của quỷ, quỷ chỉ vội vàng nói: Chết chết! Đại Hiền lập tức giết chết quỷ. Ngày mai nhìn thấy, chính là một con cáo. Nhân đó làm cho ngôi đình chấm dứt sự hiểm độc không còn lo sợ bị hại gì nữa.
16: Thời nhà Ngô trong ngôi đình ở quận Lư Lăng thường xuất hiện ma quỷ yêu quái, người nào ở lại nhất định sẽ chết, từ đó về sau khiến cho quan dân không có ai dám vào trong đình. Lúc ấy có người ở huyện Đan Dương, họ Thang tên Ứng, có can đảm và rất dũng mãnh, đi sứ đến Lư Lăng thì vào ngôi đình ở lại, quân lính thưa rằng nơi này không nên ở lại. Thang Ưng không nghe lời can ngăn, cuối cùng bảo người người tùy tùng quay lại trú qua đêm ở nơi khác, Thang Ứng chỉ mang theo một thanh đao lớn, nằm đến canh ba, trong đó có tiếng gõ cửa. Thang Ứng từ xa hỏi là ai? Đáp rằng: Bộ quận Tương Văn. Thang Ứng bảo vào đi. Tương Văn nghe rồi mà đi. Qua một lát sau, lại có người gõ cửa như trước, nói là Phủ Quân Tương Văn. Thang Ứng lại bảo vào đi. Thân mặc áo đen bỏ đi. Sau đó Thang Ứng nói rõ ràng là người không nghi ngờ gì. Lát sau lại gõ cửa nói rằng: Là bộ quận chủ quân đến thăm. Thang Ứng mới nghi ngờ nói rằng: Bây giờ đêm khuya không phải lúc, vả lại phủ quân và bộ quận không nên đi với nhau. Biết là yêu quái, nên cầm đao đến đón tiếp, thấy có hai người đều mặc y phục sang trọng, cùng đi vào ngồi trong nhà. Phủ quân thì trò chuyện cùng với Thang ứng, chuyện tró chưa xong mà bộ quận nhảy đến sau lưng Thang Ứng, Thang Ứng quay đầu lại nhìn dùng đao đánh trúng, Phủ quân rời chổ ngồi chạy ra, Thang Ứng vội vàng đuổi đến dưới bức tường sau đình thì bắt được, chém bị thương nhiều nhát. Rời chổ ấy rồi trở lại nằm ngủ đến rạng sáng. Những người tuỳ tùng đi đến tìm thấy có vết máu, truy tìm đều bắt được, nói rằng kẻ xưng là Phủ quân chính là một con cáo quỷ quái, kẻ nói là bộ quận chính là con chồn yêu quái. Từ đó về sau thì bặt dứt vĩnh viễn không còn yêu quái.
17: Trong thời Kiến An nhà Hán, giáp giới quận Đông ở nhà đó có chuyện kỳ quái, vô cớ mà vật dụng thau chậu tự phát ra tạo thành âm thanh ầm ầm, giống như là có người vậy. Chậu rửa tay ở trước chiếc bàn dài, bỗng nhiên biến mất, gà đẻ nhất định là sẽ mất con. Mấy năm liền như vậy, thật là tệ hại vô cùng! Thế là làm nhiều thức ăn ngon bày khắp trong một ngôi nhà, nép trong cửa rình xem, quả nhiên tiếp tục xảy ra, phát âm thanh ầm ầm như trước. Liền đóng cửa vòng quanh trong nhà, lại không thấy gì là ám muội cả, chỉ dùng gậy đánh vào mặt đất. Rất lâu từ trong góc nhà có cái gì bị đánh trúng, la lên rằng: Ui chao, chết rồi! Mở cửa nhìn thấy có một ông lão, khoảng chừng trên một trăm tuổi, nói năng hoàn toàn không thích hợp, hình dáng dung mạo rất giống loài thú, liến đi đến xét hỏi. Thế là ở nhà người đó trong khoảng vài dặm, nói rằng đi mất hơn 10 năm nay tìm được thật là vui buồn lẫn lộn. Vài ngày vào năm sau lại tiếp tục đi mất, nghe tin ở vùng Trần Lưu, lại xảy ra yêu quái như vậy, người lúc ấy hãy còn cho rằng chính là ông lão này.
18: Thời nhà Tấn, một người ở vùng Ngô Hưng người có hai cậu con trai, lúc đang làm trong ruộng, thấy người cha đi đến mắng nhiếc đánh đập thậm tệ, hai người con trở về đem chuyện nói với mẹ. Bà mẹ hỏi người cha, người cha vô cùng kinh ngạc, biết là yêu ma quỷ quái rồi, liền bảo con chém đi. Quỷ liền im lặng không trở lại nữa, người cha lo sợ con mình bị quỷ làm khốn đốn, liền tự mình đi đến xem thử.. người con nói đó là quỷ thì giết chết mà chôn đi. Quỷ liền đi theo trở về hiện thành hình dạng người cha, nói là hai con mình đã giết được yêu quái rồi. Chiều đến người con trở về cùng nhau chúc mừng, như thế nhiều năm không phát giác được. Sau đó có một vi sư đi qua nhà đó, nói với hai người con rằng: Người cha của các anh có tà khí rất lớn. Người con đem thưa lại với cha, người cha giận dữ vô cùng. Người con đi ra để nói với sư khiến mau rời đi. Vị sư nhân tiện lên tiếng đi vào, người cha biến con chồn to, chiu vào dưới gầm giường thì tóm được. Đi đến nơi chôn người bị giết mới thật sự là ch mình, cải táng sự xong thì một người con liền tự sát, một người con đau xót buồn phiền cũng chết theo.
18: Chuyện trên đây trích từ sưu Thần Ký.
19: Trong Tấn Nam Kinh Tự Ký nói: “Chùa Ba Đề Vùng Thanh Lăng Tân Lâm huyện Mạt Lăng, xưa kia Hoàng Đế Giản Văn đã xây dựng vào năm thứ hai niên hiệu Tấn Hàm An ban đầu tên là Chùa Tân Lâm, lúc ấy Ni Cô Đạo Dung ở chùa Ô Giang quận Lịch Dương, khổ hạnh thông suốt thần linh biết trước họa phước sẽ gặp. Thế gian truyền tụng là Thánh Ma. Đầu niên hiệu Hàm An có con quạ làm tổ trong điện thờ. Hoàng Đế sai người thường bói đoán xem điều ấy, nói rằng phía Tây nam có vị Sư là người nữ, sẽ có năng lực giải trừ được hiện tượng kỳ quái này. Lập tức sai người đến Ô Giang đón Thánh Ma, hỏi điều này lành dữ thế nào? Thánh Ma nói: Tu đức có thể cầu khẩn tránh được tai họa, trai giới cũng luôn luôn chuyển được nghiệp chướng. Hoàng Đế bèn trì trai bảy ngày, chăm chỉ hết lòng lễ lạy sám hối. Pháp hội chưa kết thúc bỗng có bầy quạ đến chuyển tổ đi nơi khác, trong một lúc hoàn toàn sạch sẽ. Hoàng Đế càng cung kính tin tưởng sâu sắc, nhân đó vì Thánh Ma mà xây dựng ngôi chùa này.
20: Thời nhà Tấn có vùng Hải Tây Công có một người, mẹ mất nhà nghèo không có gì để lo tang sự, vì thế chuyển quan tài vào trong núi sâu, ở bên cạnh quan tài làm guốc, ngày đêm không nghỉ. Lúc sắp tối có một người phụ nữ ôm con nhỏ đến ở nhờ qua đêm, Trời chuyển về đêm mà người con chí hiếu vẫn làm không nghỉ. Người phụ nữ cứ đến nài nỉ đi ngủ mà ngủ ở bên bếp lửa, chính là một con chồn ôm một con gà quạ. Người con chí hiếu nhân đó đánh chết ném trong hố sau lưng. Ngày mai có người đàn ông đến hỏi đêm qua có người đi gặp Trời tối xin ở nhà qua đêm, nay đang ở đâu? Người con chí hiếu nói: Chỉ có con chồn thì đã giết chết rồi. Người đàn ông nói: Anh giết oan vợ tôi sao có thể nói là con chồn, con chồn nay ở đâu? Nhân đó cùng đi đến bên hố, nhìn thấy chồn đã biến thành người phụ nữ chết nằm trong hố. Vì vậy người đàn ông trói người con chí hiếu, giao cho quan phủ tùy ý xử tội chết người con chí hiếu để đền mạng. Người con chí hiếu mới nói với quan phủ rằng: Đây thật là loài yêu ma quỷ quái, chỉ cần dẫn chó săn ra thì có thể biết rõ ma quỷ. Lại đến làm cho con người chí hiếu phải chết sớm. Quan phủ nhân đó hỏi về chuyện săn bắn, có thể khác với chó hay không? Đáp rằng: Tánh sợ chó cũng không khác. Vì vậy thả chó ra thì hóa làm con chồn, lập tức bắn chết thì nhìn thấy người phụ nữ đã trở lại thành chồn.
21: Trong thời Thái Nguyên nhà Tấn, đứng trước bức họa chư Phật ở Chùa Ngõa Quan thì chàng trai Thuần Vu Quan rất trong sạch. Đưa tiễn khách bạn đến phía Nam Thành Thạch Đầu, gặp một người con gái dung mạo xinh đẹp, Quan rất vui thích, nhân đó hỏi han trò chuyện, tình cảm đôi bên đã hài hòa, dẫn đi vào góc phía Bắc khu thành cùng nhau bày tỏ mọi niềm vui sướng, sau đó thì hai người chia tay, hẹn ngày gặp lại, nhân dịp thuận tiện ngỏ lời mong muốn kết thành vợ chồng. Cô gái nói: Gặp người chồng như anh thì chết nào ân hận, anh em trai của em nhiều người, cha mẹ đều còn, trước mắt hỏi cha mẹ em đồng ý hay không? Vu Quan thì bảo người hầu gái hỏi cha mẹ mình, cha mẹ cũng đồng ý rồi. Cô gái nhân đó bảo tì nữ lấy một trăm cân bạc một trăm xấp bạc, giúp cho Vu Quan làm lễ thành hôn. Qua một thời gian dài sinh được hai người con, nói rằng sẽ làm quan giữ trách nhiệm giám sát công văn thư từ. Sau đó quả nhiên lính phi ngựa đến mời gọi, xe ngựa dẫn dắt tuỳ tùng trước sau, trống đánh kèn thổi. Trải qua vài ngày có người thợ săn đi đến, tìm kiếm Vu Quan dẫn theo mấy chục con chó đột nhiên xông vào cắn vợ và con, tất cả đều biến thành chồn, lụa và vàng bạc cũng toàn là cỏ cây và xương của người chết.
22: Trong thời Vĩnh Sơ nhà Tấn, lúc Trương Xuân làm Thái Thú Vũ Xương, người ta gả con gái chưa kịp bước lên xe, bỗng nhiên đã mất hết tình cảm, đi ra bên ngoài gây lộn đánh người thừa dịp nói rằng: Không thích chuyện nhà gả chồng cho con gái. Thầy mo thông thường nói: Đây là tà ma quỷ quái, dẫn con gái đến Trường Giang.
3 Chuyện trên đây trích từ U Minh Lục.
23: Thời nhà Tống ở quận An Định có lương Thanh, tự là Đạo Tu, ở phường Hữu Thượng Dương Châu, nhà cũ ở Từ Châu Vấn Hoàn, tháng hai thứ mười bốn niên hiệu Nguyên Gia xuất hiện nhiều ánh sáng kỳ lạ, vẫn nghe tiếng bật ngón tay ngoài hàng rào, khiến người tớ gái Tùng La đi đến xem thử, trông thấy một người bèn hỏi, người ấy nói rằng: Họ Hoa tên Phù Dung, được Lục Giáp Chí Tôn sai khiến, từ trong cung Thái Vi Tử xuống đây gặp người quen nơi ở cũ. Vẫn ở lại không đi, hoặc là đầu chim thân người, đưa mắt nhìn xem một vòng liền nắm phân bẩn vãi vào chổ Lương Thanh, thuận theo vung tới dây đàn mà tắt, đồng thời có chất lỏng màu đỏ thẫm vấy vào mũi tên. Lại nhìn thấy một vật hình thể giống như con vượn, treo ở trên cành cây, khiến người cắt đi, thịt vật ấy rơi xuống đất bỗng nhiên ẩn đi. Trải qua một ngày lại từ trên nhà đi cà thọt đến nơi đầy tớ gái xin ăn, lấy nắm cơm đưa cho, một bữa ăn hết ba Thăng, mấy ngày có nhiều đám quỷ kéo đến, xấu xa dữ tợn không thể nói được. Giường của Tùng La che chắn nhưng bị bụi đất bay tung nhiều lần không dứt vào sáng sớm. Nữ tì đi hái hoa cúc giữa đường gặp một con quỷ, mặc áo đầu bịt khăn cưỡi ngựa, có mấy mươi tuỳ tùng bảo vệ, nói với người hái hoa cúc rằng: Ta là người Tiên trên cõi Trời chớ gọi là quỷ. Hỏi rằng vì sao luôn luôn ném vật dơ bẩn? Đáp rằng vật dơ bẩn ấy như tiền của vậy, ném vào là hiện tượng bày tỏ nhanh chóng chuyển biến. Quả nhiên không lâu Lương Thanh làm Vũ Tướng Quân Thái Thú quận Bắc Lổ. Lương Thanh chán ngán sự ác độc đã lâu mới gọi Đạo sĩ ở nước ngoài là Ba La Điệp đọc văn chú nguyện các quỷ sợ hãi, hoặc là vượt tường chiu hang mà chạy, đều phát ra tiếng chim, từ đó hoàn toàn vắng bóng. Ở quận không bao lâu trong đêm Tùng La lại thấy người đông đến mấy vạn khi giới uy nghi, có một người mang khăn bịt đầu, đưa thư bằng giấy thô có hơn bảy mươi chữ, bút tích uyển chuyển dịu dàng khác nhau xa so với Hi Hiến. Còn ca vang rằng: Anh và tôi leo lên lầu Khổng Tước, từ xa nghe tiếng trống Phụng Hoàng, bước xuống tôi là con chim non đầu núi, dường như trông thấy Lương Thanh nơi Bắc Lổ. Quỷ có người chú ruột tiết tháo, qua đời nên khóc thút thít đền đáp thăm viếng không khác người trần gian. Quỷ truyền giáo đã từng xin Tùng La một hộp sách, đề rằng: Tội chết của Khổng Tu trước đây bày tỏ thư từ để điếu viếng người chú đã mất của mình, thuật lại tường tận tình ý đau xót rất có thứ tự. Lại nói: Lúc gần đến Tây Phương thấy một Sa môn, tự gọi là Đại Ma Sát, hỏi tin tức của anh, gởi năm viên hương thơm để chia xẻ với nhau. Lương Thanh trước kia vâng lệnh đi sứ sang Đôn Hoàng nhớ lại có gặp mặt vị Tăng này, nhà Lương Thanh có tì nữ sinh ra ở đây thì mất.
24: Lang Nha Vương cưới vợ là nhà họ Tạ ở quận Trần sanh được một bé trai, tên tự của bé là Nô Tử. Qua năm sau Vương lấy người đã có chồng là nữ tỳ Chiêu Lợi làm thiếp của họ Tạ, năm thứ tám niên hiệu Nguyên Gia lâm bệnh mà qua đời. Mộ lớn của Vương ở vùng Cối Kê giả chôn tại đồi phía Đông vùng Kiến Khang, đã trống rỗng mà lại dối trá làm cho linh thiêng đi vào nhà Phùng Cơ. Bỗng nhiên ở giữa hư không ném đất thì có tiếng quát mắng rằng: Sao không làm bài ca điếu phúng mà để Ta im lìm lặng lẽ trên đường như vậy? Người đưa tiễn nói: Không phải là mai táng vĩnh viễn cho nên không đầy đủ nghi thức mà thôi.
Hai Chuyện trên đây trích từ Dị Uyển.
25: Chu Trọng Ni nói với Quý Hoàn Tử rằng: Khâu Văn là yêu quái từ gỗ đá biến thành quỷ quái. (Vi Chiệu chú thích rằng: Gỗ đá nói là đồi núi. Biến thành người một chân nhảy qua gọi là loài Sơn Tiêu, hoặc nói là loài yêu quái một chân, là tinh khí núi rừng hóa làm quỷ quái, thích học theo tiếng người, mà làm mê hoặc người ta). Trên đây trích từ trong Quốc Ngữ. Trong Sử Ký nói: “Tần Thỉ Hoàng nói rằng: Quỷ trong núi chẳng qua chỉ biết sự việc trong một năm mà thôi”.
Trong núi sâu ở vùng Tây Phương có người, người ấy cao hơn thước thân hình lõa lồ suốt ngày bắt tôm cua, bản tánh không sợ người, thấy người dừng chân ở lại, thích nhờ vào ngọn lửa đỏ hồng để nướng tôm cua, rình xem khi người vắng mặt mà lấy trộm muối để ăn với tôm cua. Gọi đó là loài Sơn Tiêu. Âm thanh của loài đó tự kêu, người ta thường dùng đũa tre bỏ vào trong lửa (Âm trên là Phác âm dưới là Tất) mà Sơn Tiêu đều kinh sợ, đụng vào làm cho người cảm thấy nóng lạnh thất thường (Loài này tuy là hình dáng con người nhưng cũng là loại quỷ quái mà thôi, những loại này ở trong núi đều có). Chuyện đây trích trong kinh Thần Dị.
27: Đầu niên hiệu Nguyên Gia nhà Tống, ở vùng Phú Dương có người họ Vương, làm nghề bắt cua ở trong những vùng ao hồ mương máng. Một hôm đến nhìn xem, thấy một khúc gỗ dài hơn hai thước, nằm ở trong nơm hở ra, cua tôm thoát ra không còn con nào, bèn sửa lại cái nơm lấy khúc gỗ ra đặt trên bờ. Ngày mai đến xem, thấy khúc gỗ lại ở trong nơm, nơm bị hỏng như trước. Vương lại sửa nơm lấy khúc gỗ ra. Sáng sớm ngày mai nhìn xem lại thấy như trước đây. Vương nghi ngờ khúc gỗ này là yêu quái kỳ dị mới lấy khúc gỗ bỏ vào giỏ tre cùng với tôm cua gánh trở về, nói rằng đến nhà sẽ phá vụn để nhóm lửa. Gần đến nhà khoảng ba dặm, nghe trong giỏ tre có tiếng chuyển động sột soạt, quay đầu lại nhìn thì thấy đầu khúc gỗ trước đây biến thành một vật khác, mặt người thân khỉ chỉ có một tay một chân, nói với Vương rằng: Tánh tôi thích cua, gần đây quả thật đi vào trong nước, phá hư cái nơm cua của anh, vào trong nơm ăn cua, bị bắt như vậy rồi, mong anh tha thứ cho, mở giỏ tre lấy tôi ra! Tôi là Thần Núi sẽ phù hộ cho anh, và khiến cho nơm cua được nhiều tôm cua. Vương nói: Ông xâm phạm làm hư hoại của người ta từ trước đến nay không phải là ít, tội ấy tự nhiên phải chết. Loài vật này hết lòng cầu xin thả ra. Vương quay đầu lại phía sau nói không tha được. Vật ấy nói: Anh họ gì tên gì, tôi mong được biết! Hỏi mãi không thôi. Vương vẫn không trả lời. Đi gần đến nhà vật ấy nói: Đã không tha cho tôi, lại không nói cho tôi biết họ tên, nên làm cách gì đây, chỉ thuận theo chờ chết mà thôi! Vương đến nhà nhóm lửa cháy rực để đốt, sau đó lặng lẽ không còn gì kỳ dị nữa. Phong tục địa phương nói rằng loài Sơn Tiêu, biết họ tên của người nào thì có thể làm hại được người ấy, cho nên chịu khó xuống giọng hỏi Vương muốn làm hại người ta để tự mình thoát nạn.
Chuyện trên đây trích từ Thuật Dị Ký.
28: Thời đời Đường có người phản nghịch tên Trương Lượng, xưa làm Đô Đốc U Châu, vào chùa Trí Tuyền lễ bái, trông thấy một pho tượng lớn tướng tốt đầy đủ trọn vẹn, lìên đặc biệt cúng dường cung kính, Trương Lượng gặp phải sấm sét, cột trụ điện thờ bật ra, cây gỗ đánh vào góc trán Trương Lượng mà không thương tổn gì, và lúc đến chùa lễ lạy pho tượng trông thấy trán Pho tượng có chổ bị hỏng. Sự việc này trích trong Minh Báo Lý. Lại vào giữa thời Trinh Quán, pho tượng ấy bỗng nhiên quanh cổ xuất hiện vết tích trầy xước, to như sợi dây vậy. Người lúc ấy trong thấy điều đó đều cho là điềm chẳng lành, không bao lâu quả nhiên Trương Lượng vì tội phản nghịch mà bị chém đầu. Vết tích ấy ngày nay thấy vẫn còn.
Chuyện trên đây trích từ Minh Báo Thập Di Ký.