Kính bạch quý Thầy cô, kính thưa quý Phật tử!
Hôm nay, tôi xin được chia sẻ cùng quý vị một câu chuyện Phật giáo. Câu chuyện này được trích từ kinh
Vua A xà thế mong được Phật thọ ký, trong Đại Chánh tạng, quyển 14, trang 777a23 778b2.
Thuở trước, có một khoảng thời gian, đức Phật ở tại núi Linh Thứu, nước La duyệt kỳ. Lúc bấy giờ, vua A xà thế thỉnh đức Phật đến vương cung để cúng dường. Đức Phật thọ trai xong, trở về tinh xá Kỳ Hoàn.
Vua A xà thế nói với đại thần Kì bà:
- Hôm nay, vương cung thỉnh đức Phật cúng dường, bây giờ, Ngài đã thọ trai xong, cần phải chuẩn bị thêm gì nữa?
Kì bà nói rằng:
- Nên thắp nhiều đèn để cúng dường Phật.
Vua liền lệnh cho thuộc hạ chở một trăm thùng dầu thắp đèn, từ trong cung đến tinh xá Kỳ Hoàn.
Lúc ấy, có một bà lão rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Phật nhưng không có tiền. Bà nhìn thấy vua A xà thế làm được công đức như vậy nên rất cảm kích, cũng phát khởi tâm muốn cúng dường Phật. Bà đi xin được hai đồng tiền, liền đem hết số tiền này đến cửa tiệm dầu để mua dầu.
Chủ cửa tiệm dầu hỏi:
- Bà nghèo như vậy, chỉ xin được hai đồng tiền, sao không để dành mua đồ ăn duy trì cuộc sống, mà lại mua dầu làm gì?
Bà lão trả lời:
- Tôi nghe nói gặp được Phật ra đời là rất khó, trải qua trăm kiếp mới có dịp được gặp Phật một lần. Tôi may mắn sinh vào thời đức Phật ra đời, vậy mà tôi chưa có cơ hội cúng dường Ngài. Hôm nay, tôi thấy vua làm được việc đại công đức, vĩ đại vô cùng, nên trong tâm tôi cũng phát khởi ý niệm muốn cúng dường Phật giống như vua. Tuy tôi vô cùng cực khổ nhưng cũng muốn thắp một ngọn đèn để làm tư lương tu hành cho đời sau.
Người bán dầu biết được tâm nguyện chí thành của bà lão. Với hai đồng tiền, vốn chỉ có thể mua được hai cáp dầu (một cáp bằng 1/10 thăng ), nhưng người chủ tiệm lại đặc biệt đong tặng bà lão thêm ba cáp dầu nữa, tổng cộng bà được năm cáp dầu.
Bà lão đi đến trước đức Phật thắp đèn lên, trong lòng nghĩ với số dầu này, đèn sáng không quá nửa đêm là sẽ tắt. Bà bèn nguyện rằng: “Nếu như sau này, con được chứng đạo như đức Phật, thì ngọn đèn này sẽ sáng suốt đêm không tắt”. Phát nguyện xong, bà lễ Phật rồi ra về.
Lúc bấy giờ, các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn sáng, có ngọn tắt, tuy có người chăm nhưng không chu toàn. Riêng ngọn đèn của bà lão thì sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt cả đêm không tắt, đến sáng dầu vẫn không hao. Đến sáng sớm hôm sau, bà lão lại đi đến trước đức Phật đảnh lễ rồi lùi về đứng một bên.
Đức Phật bảo ngài Mục kiền liên:
- Trời đã sáng rồi, ông hãy đi tắt tất cả các ngọn đèn.
Ngài Mục kiền liên vâng lời Phật, lần lượt đi tắt
các ngọn đèn. Các ngọn đèn khác đều tắt, riêng ngọn đèn của bà lão, tôn giả thổi ba lần vẫn không tắt. Ngài lấy áo ca sa quạt, thì ngọn đèn này càng sáng hơn. Ngài bèn dùng sức oai thần dẫn gió mạnh vô cùng để thổi đèn, nhưng ngọn đèn của bà lão càng sáng rực hơn, chiếu lên đến trời Phạm thiên, lại chiếu khắp ba ngàn thế giới, tất cả các nơi đều thấy ánh sáng của ngọn đèn này chiếu đến.
Đức Phật bảo ngài Mục kiền liên:
- Dừng lại! Dừng lại! Ngọn đèn đó được thắp lên từ ánh sáng công đức của một vị Phật tương lai, không thể dùng sức thần thông của ông mà thổi tắt được. Bà lão này đời trước đã từng cúng dường một trăm tám mươi ức đức Phật, từ xưa đã được một đức Phật thọ ký. Bà luôn hết lòng đem kinh Phật để hướng dẫn người dân tu học, vì không có thời gian thực hành hạnh bố thí, nên đời này nghèo khó không có của cải. Trải qua ba mươi kiếp về sau, công đức viên mãn, bà sẽ thành Phật hiệu là Tu di Đăng Quang Như Lai Chí Chân. Cõi nước Phật ấy không có mặt trời, mặt trăng, thân của người dân đều có ánh sáng lớn, cùng với ánh sáng của vô số châu báu trong cung điện chiếu sáng lẫn nhau như cõi trời Đao Lợi.
Bà lão nghe đức Phật thọ ký, lòng rất vui mừng, lập
tức thân nhẹ nhàng bay lên hư không, cách mặt đất một trăm tám mươi trượng, rồi hạ người xuống đất, đầu mặt đảnh lễ Phật rồi lui ra.
Vua A xà thế nghe được việc này, bèn hỏi Kì bà:
- Ta làm công đức nhiều như vậy nhưng Phật không thọ ký cho ta, còn bà lão chỉ cúng dường một ngọn đèn lại được Phật thọ ký, tại sao lại như vậy? Kì bà đáp:
- Vua tuy cúng nhiều đèn nhưng tâm không chuyên nhất, chẳng bằng bà lão thành tâm cúng dường lên Đức Phật.
Nghe Kì bà nói vậy, vua quyết định đến thỉnh Phật một lần nữa, để dâng hoa cúng dường. Ngay trong đêm, vua ra lệnh những người giữ vườn hoa, sáng sớm hôm sau phải chọn hái các hoa đẹp nhất, đem vào trong cung.
Vừa sáng sớm, đức Phật đã rời tinh xá Kỳ Hoàn, khoan thai cất bước đến vương cung. Dọc đường đi, Phật thuyết pháp cho dân chúng, đến gần trưa mới tới gần vương cung.
Có một người giữ vườn hoa, ông ta cầm giỏ hoa
vừa ra khỏi vườn trên một lối đi nhỏ thì gặp đức Phật từ trên đường lớn đi tới. Ông được đức Phật thuyết pháp, nên hết lòng chăm chú lắng nghe, lòng rất vui mừng, liền đem bao nhiêu hoa cầm trên tay tung lên đức Phật, hoa đều trụ ở không trung, ngay trên đỉnh đầu của đức Phật.
Đức Phật liền thọ ký:
- Ông đã từng cúng dường chín mươi ức vị Phật, một trăm lẻ bốn kiếp về sau, sẽ thành Phật hiệu là Giác Hoa Như Lai.
Vị giữ vườn hoa này rất vui mừng, lập tức thân nhẹ nhàng bay lên hư không rồi hạ xuống đất, kính lễ đức Phật. Lúc đó, ông chợt nghĩ: “Nhà vua của ta là người tính tình rất nghiêm khắc và nóng nảy, nửa đêm hôm qua ra lệnh ta giữ trai giới, hái hoa để cúng Phật, nhưng ta đã đem tất cả hoa dâng cúng Phật rồi, giờ đi tay không về cung thì chắc chắn sẽ bị giết’. Thế là, ông ta liền đi thẳng về nhà, để giỏ đựng hoa ngoài cửa, vào trong nhà nói với vợ:
- Tôi từ sáng đến giờ chưa ăn gì hết, nhà vua nhất định sẽ giết tôi, bà mau mau làm thứ gì cho tôi ăn với!
Người vợ nghe chồng nói vậy, vô cùng hoảng sợ, bà hỏi:
- Vì sao ông lại bị nhà vua đem giết?
Người chồng liền kể đầu đuôi sự việc cho vợ nghe.
Người vợ vội chạy vào bếp làm thức ăn. Ngay lúc đó, trời Đế Thích liền đem hoa trời để đầy trong giỏ.
Người vợ đem thức ăn từ nhà bếp ra, thấy cái giỏ trống không lúc nãy chồng bà để ngoài cửa, bây giờ đã đầy tràn những bông hoa, màu sắc rực rỡ khác thường, nên vội vàng báo lại với chồng.
Người chồng ra ngoài cửa xem, biết đây là hoa trời, nên rất vui mừng, ông không ăn nữa, mà liền mang hoa vào cung.
Nhà vua đích thân đi đón đức Phật. Trên đường đi, gặp người giữ vườn mang hoa tới, vua thấy hoa rất đẹp, ở thế gian hiếm có, liền hỏi người giữ vườn:
- Trong vườn của ta có nhiều hoa đẹp như vầy, mà ngươi lâu nay không dâng lên, tội ngươi đáng chết có biết không?
Người giữ vườn thưa:
- Tâu đại vương! Trong vườn không có loại hoa này. Hạ thần vào sáng sớm đem hoa trong vườn về cung, trên đường đi gặp đức Phật, không nén nổi lòng vui mừng, nên hạ thần đã đem hết hoa dâng lên Phật, liền được Ngài thọ ký cho hạ thần. Biết sẽ bị đại vương không tha tội, nên hạ thần về nhà tìm món gì để ăn trước khi chịu chết. Nhưng sau đó, hạ thần ra cửa thì lại thấy trong cái giỏ không trống không trước đó, nay đã có đầy những hoa đẹp, đây chắc là hoa trời, chứ trong vườn chẳng thể có loại hoa này. Đời này, hạ thần sinh ra làm hạng người thấp kém, vâng lời đại vương mà giữ vườn hoa, ít nhiều bị ràng buộc nơi vương cung không thể chuyên tâm tu đạo. Một khi đã được đức Phật thọ ký rồi, dù ngay bây giờ hạ thần có chết, cũng chắc chắn sinh lên cõi trời, ở trước mười phương Phật không bị ràng buộc, có thể tùy ý tu đạo. Nếu bây giờ đại vương muốn giết hạ thần, hạ thần cũng cam lòng!
Nhà vua nghe người giữ vườn hoa đã được đức Phật thọ ký, nên vua vừa hổ thẹn, vừa xúc động vô cùng. Vua sinh tâm cung kính, đứng dậy đảnh lễ, quỳ xuống hướng về người giữ vườn hoa mà sám hối.
Đức Phật đến vương cung, sau khi thọ thực, chúc phúc nhà vua xong, Ngài trở về tinh xá.
Nhà vua lại hỏi Kì bà:
- Ta lần trước chuẩn bị rất nhiều dầu thắp đèn, thỉnh Phật cúng dường, thì bà lão chỉ cúng dường một ít dầu lại được Phật thọ ký. Hôm nay, ta dùng rất nhiều hoa đẹp trong vương cung cúng dường Phật, muốn tu công đức thì người giữ vườn hoa được Phật thọ ký. Chỉ một mình ta vì cớ gì không được Phật thọ ký? Trong lòng ta thật sự rất phiền muộn. Ta phải làm những công đức gì thì mới được Phật thọ ký đây?
Kì bà đáp:
- Đại vương tuy hàng ngày làm phước, nhưng chỉ dùng của cải trong kho của quốc gia, sử dụng sức của dân chúng, trong tâm vẫn còn chứa đầy kiêu ngạo tự đại, hoặc bực tức bất mãn, cho nên chưa được Phật thọ ký. Nay nhà vua nên đem các vật trang sức nơi thân mình làm vật cúng dường và cởi vòng ngọc bảy báu như anh lạc... để làm hoa báu; cần phải có sự trợ giúp của phu nhân, thái tử, cùng nhau hợp lực tạo những vật do chính mình làm ra, một lòng dâng lên cúng Phật. Phật thấy vua chí thành thì chắc chắn sẽ thọ ký.
Bấy giờ, vua giảm thiểu triệt để sự ăn uống trong cung, cởi những đồ báu trên mình, ngày đêm giữ gìn trai giới. Vua triệu tập những người thợ giỏi mỗi ngày đến hướng dẫn làm hoa trân bảo. Nhà vua và phu nhân, thái tử đều tự tay mình làm, cho đến chín mươi ngày sau mới hoàn tất hoa báu. Nhà vua ra lệnh chuẩn bị xe ngựa thật trang nghiêm, để tự mình đem hoa dâng lên cúng dường Phật. Thế nhưng, một cận thần của nhà vua thưa:
- Hạ thần nghe nói mấy ngày trước, đức Phật đi đến nước Cưu di na kiệt và đã nhập nết bàn ở đó’.
Nhà vua nghe vậy, lòng rất đau buồn, rơi lệ nghẹn ngào than:
- Ta thành tâm thành ý, tự tay mình làm những vòng hoa này. Đức Phật tuy đã nhập niết bàn, ta vẫn đến núi Kỳ xà quật đặt vòng hoa lên chỗ Phật ngồi, để dâng lên lòng thành kính của ta.
Kì bà thưa:
- Pháp thân Phật không có hình tướng cũng không có niết bàn, chẳng thường trụ cũng chẳng nhập diệt, chỉ có người nào chí thành mới gặp được Phật. Phật tuy hiện hữu ở đời, nhưng nếu người không chí thành thì không gặp được Phật. Đại vương chí thành như vậy, Phật tuy thị hiện nhập niết bàn, nhưng nếu đại vương đến núi Linh Thứu thì chắc chắn sẽ được gặp Phật.
Nhà vua lập tức đến núi Kỳ xà quật. Vừa tới nơi, vua liền thấy Phật, vua vừa buồn, vừa vui, rơi lệ khóc thương tiến về phía trước, đầu mặt đảnh lễ đức Phật. Vua dùng hoa bằng bảy báu tung lên, tất cả hoa đều trụ ở giữa hư không, hóa thành lọng báu ngay trên thân đức Phật. Đức Phật thọ ký cho nhà vua:
- Tám vạn kiếp sau, có kiếp tên là Hỷ Quán, đại vương sẽ thành Phật ở cõi ấy, hiệu là Tịnh Kỳ Sở Bộ Như Lai, quốc độ ấy tên là Hoa Vương. Khi đó, dân chúng thọ bốn mươi tiểu kiếp.
Lúc ấy, thái tử con vua A xà thế tên là Chiên đà hòa lợi vừa lên tám tuổi, thấy cha được thọ ký nên rất vui mừng, liền cởi những đồ báu trên thân tung lên cúng dường đức Phật, rồi thưa:
- Con nguyện sau khi đức Tịnh Kỳ Sở Bộ thành Phật, con sẽ làm Kim luân thánh vương, được cúng dường Phật. Sau khi đức Phật đó nhập Niết bàn, con sẽ kế thừa làm Phật.
Bấy giờ, các vật báu mà thái tử cúng dường đều tự kết thành màn anh lạc che phía trên đức Phật.
Đức Phật nói:
- Con chắc chắn sẽ đạt như sở nguyện. Khi nhà vua thành Phật, con sẽ làm Kim luân thánh vương, hết tuổi thọ sẽ sinh lên cõi trời Đâu suất. Sau khi hết thọ mạng ở cõi trời này, con sẽ thành Phật, hiệu là Chiên Đàn, giáo hóa ở cõi nước Dược Vương. Thọ mạng của nhân dân, sự trang nghiêm của cõi nước v.v., cũng giống như cõi Hoa Vương của đức Phật Tịnh Kỳ Sở Bộ.
Sau khi đức Phật thọ ký xong, vua A xà thế và thái tử Chiên đà hòa lợi đến trước đức Phật đảnh lễ, khi ấy bỗng có một luồng ánh sáng bay lên, không ai còn thấy đức Phật nữa.
Câu chuyện này có đôi chỗ đáng để chúng ta suy ngẫm:
Việc bố thí không đặt nặng ở tiền tài, phẩm vật bố thí nhiều hay ít, mà quan trọng là ở việc phát tâm. Chẳng hạn như bà lão vô cùng nghèo khổ, không dễ gì mới xin được hai đồng tiền, nhưng bà không dùng tiền này mua đồ ăn sống qua ngày, mà cảm thấy đức Phật xuất hiện ở thế gian trăm nghìn vạn kiếp khó gặp được, nếu không nhân cơ hội này cúng dường, thì lúc nào mới có dịp được cúng dường Phật đây? Dầu thắp đèn mà vua A xà thế cúng dường tuy nhiều, nhưng xét theo phương diện phát tâm, thì bà lão vốn chẳng có gì, lại có thể đem hết tâm thành dâng dầu lên cúng Phật, sự phát tâm như thế thật không gì quý hơn.
Kế đến, vua A xà thế lại ra lệnh cho người giữ vườn hoa chọn ra những bông hoa đẹp nhất đem vào trong cung, để vua dâng lên cúng Phật. Vua không ngờ rằng người giữ vườn hoa giữa đường đã gặp Phật, một lòng nghe Phật thuyết pháp, vô cùng hoan hỷ, liền dâng hoa lên cúng dường Phật. Đức Phật thọ ký cho ông ấy tương lai sẽ thành Phật, hiệu là Giác Hoa Như Lai.
Vua A xà thế rất buồn bã, nghĩ rằng vì sao bà lão ăn mày và người giữ vườn hoa đều được Phật thọ ký, mà mình lại không được thọ ký. Đại thần Kì bà nói với Quốc vương rằng:
- Thưa Quốc vương, ngài tuy cúng dường đức Phật, nhưng đều sử dụng tài sản trong ngân khố quốc gia, lại chưa buông bỏ tâm xan tham, trong lòng lại đầy ắp kiêu ngạo, tự cao, phẫn nộ, bất mãn, như thế thì làm sao được Phật thọ ký?
Vua A xà thế nghe như vậy, liền giữ gìn trai giới trong ba tháng, đồng thời tự tay mình dùng châu báu làm thành vòng hoa để dâng lên cúng dường Phật. Nhưng khi vừa làm xong vòng hoa, nhà vua nghe nói đức Phật đã viên tịch rồi! Kì bà nói với vua A xà thế rằng:
- Sắc thân của Phật tuy đã nhập diệt, nhưng pháp thân của Ngài luôn luôn hiện hữu, chỉ cần thành tâm muốn gặp Phật thì có thể thấy được pháp thân Phật.
Cuối cùng, vua A xà thế đem hết tâm thành, dâng hoa cúng dường, được Phật thọ ký.
Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta: Có nhân duyên gặp được Tam bảo, thì nên trân quý, phát tâm trồng phước điền.
Ngoài ra, nói đến hương hoa cúng dường, kinh thứ hai trong kinh Trường A hàm là kinh Du hành, nhắc đến câu chuyện, lúc đức Thích Tôn sắp nhập niết bàn bên hai cội cây sa la. Khi ấy, vốn chẳng phải là mùa trổ hoa, nhưng hai cây sa la bỗng nhiên trổ hoa đẹp, cùng lúc ấy, Thiên long bát bộ cũng rải rất nhiều hoa và hương chiên đàn cúng dường Phật. Đức Phật nói với A nan:
- Nếu thật tâm muốn cúng dường báo ân, thì không phải là cúng dường hoa thế gian hay hoa trời, mà cần cúng dường hoa giác ngộ, cũng chính là trì giới thanh tịnh, đọc tụng kinh điển, thọ trì chánh pháp, y pháp mà thực hành, đây mới là chân thật cúng dường. Hoa giác ngộ thù thắng hơn hoa thế gian và hoa cõi trời, thể hội được vô ngã mới là sự cúng dường tối thượng.
Xin chia sẻ những điều trên đây cùng đại chúng để mọi người cùng nhau sách tấn tu học!
Lớp Giáo dục mở rộng Phước Nghiêm, ngày 19.12.2015