Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Hoc-Phat-Tuc-La-Hoc-Lam-Nguoi
Học Phật tức là học làm người, học làm một người tốt, học làm một người minh bạch.  Nhà Nho nói: “Đạt đến mức tốt lành tột bậc” [26], Phật pháp đích thật đã làm câu này được viên mãn.  Chí thiện là thiện đến mức cùng cực, đạt đến cứu cánh viên mãn.  Nhà Nho và nhà Phật đều có phương pháp đạt đến chí thiện, cơ sở của phương pháp này có thể nói là hoàn toàn tương đồng.  Nhà Nho dạy học trước hết đề ra ‘Tam Cương, Bát Mục’[27].  Nhà Phật dạy học trước hết đề ra ‘Tứ Hoằng, Lục Ðộ’, tinh thần và nội dung của hai thứ này rất giống nhau.  Thế nên tư tưởng, kiến giải, giáo học, hành trì của Khổng Lão phu tử và Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng hẹn mà hợp với nhau, đúng là ‘Cái nhìn của anh hùng đại lược giống nhau’.

Việc đầu tiên trong sự tu học là phải phát nguyện, nhà Nho nói phải lập chí, lập chí làm thánh hiền, làm đại sự, chẳng phải lập chí làm quan phát tài, hưởng vinh hoa phú quý.  Ðại sự là gì?  Nhà Phật nói: ‘Tử sanh đại sự’, câu này nói rõ ý nghĩa của đại sự.  Trong Phật pháp, đại sự nhân duyên nói đến chỗ cứu cánh viên mãn tức là phổ độ chúng sanh và cũng là nguyện thứ nhất trong Tứ hoằng thệ nguyện: ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’.  Ðộ là ví dụ, độ qua biển khổ sanh tử, độ qua lục đạo luân hồi, đây mới là đại sự.

Vô lượng kiếp đến nay chúng sanh kẹt mãi trong sanh tử luân hồi đời này sang kiếp khác, vĩnh viễn chẳng thể thoát ly; trong kinh gọi chúng sanh trong lục đạo là ‘người đáng thương xót’.  Tình trạng trong lục đạo chỉ có Phật, Bồ Tát mới rõ ràng, phàm phu mê trong đó và chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật.  Chân tướng sự thật này tức là chân tướng của sanh tử và chân tướng của đời sống chúng ta.

Ðức Phật nói khi chúng ta ở trong luân hồi thì nhất định thời gian trong ba ác đạo dài, thời gian trong ba thiện đạo ngắn.  Thọ mạng dài nhất trong tam thiện đạo là cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ ở trời Vô Sắc Giới, thọ mạng là tám vạn đại kiếp; một đại kiếp bằng thời gian thế giới chúng ta trải qua ‘thành - trụ - hoại - không’ một lần, tám vạn đại kiếp là thời gian thế giới chúng ta thành, trụ, hoại, không tám vạn lần, họ có thọ mạng dài như vậy.  Thời gian dài trong ác đạo càng dễ sợ hơn.  Kinh Ðịa Tạng dạy: ‘Thọ mạng trong địa ngục là vô số kiếp’.  Cho dù là trong cõi súc sanh tuy thọ mạng chẳng dài nhưng súc sanh ngu si, kiên cố chấp trước thân hình này là của mình cho nên rất khó thoát ra.  Lúc Thế Tôn còn tại thế, tại Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên có một ổ kiến, Thế Tôn nói với đệ tử: ‘Ðã trải qua bảy vị Phật rồi, cả ổ kiến này cũng chưa thoát thân làm kiến, đời đời kiếp kiếp cứ làm kiến hoài’.  Thời gian này dài hơn thọ mạng của Phi Phi Tướng Xứ Thiên quá nhiều, quá nhiều!

Cho nên Phật, Bồ Tát thường nhắc nhở chúng ta, cảnh cáo chúng ta, tam ác đạo tuyệt đối chẳng thể đi vào, đọa tam ác đạo rất dễ dàng, thoát ly tam ác đạo thì quá khó.  Tuy Phật, Bồ Tát từ bi ứng hóa trong ác đạo độ chúng sanh, nhưng ác đạo chúng sanh ngu si đến cùng cực, còn thêm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nặng nề, so với độ người còn khó gấp nhiều lần.  Tuy vậy nhưng Phật, Bồ Tát cũng chẳng buông bỏ, các Ngài thực sự là từ bi đến cùng cực.

Trong lục đạo chúng sanh dễ độ nhất là loài người, thế nên Bồ Tát thị hiện thành Phật cũng ở tại cõi người.  Nguyên nhân là gì?  Phật, Bồ Tát thị hiện ở chỗ nào là do cảm ứng đạo giao với chúng sanh nơi đó, chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát liền có ứng.  Do đó mới biết cõi người có sức cảm ứng rất lớn với chư Phật, Bồ Tát, thế nên quý Ngài ứng hóa trong cõi người, thị hiện làm Phật, làm Bồ Tát, đây là chân lý.

Ðời này chúng ta có thể sanh vào cõi người, cơ hội này vô cùng hiếm hoi và quý báu, quý ở chỗ cõi người dễ giác ngộ, dễ được độ, cho nên chúng ta nhất định phải nắm vững cơ duyên.  Vả lại cơ duyên này chẳng lâu dài vì thọ mạng của cõi người rất ngắn, cho dù sống đến một trăm tuổi thì cũng như búng ngón tay, một sát na ngắn ngủi mà thôi.  Thọ mạng ngắn nói lên cơ duyên này đặc biệt quý báu, vì vậy được thân người nếu chẳng nghe được Phật pháp thì rất đáng tiếc.  Số người được thân người nhưng chẳng có cơ duyên nghe Phật pháp đích thật là chiếm đại đa số.  Trong thời đại hiện nay Phật pháp nương vào khoa học kỹ thuật phổ biến truyền đến khắp thế giới, bất luận là tin hay không, chỉ vì ‘một phen lọt vào tai, vĩnh viễn là hạt giống đạo’, đây là người thế gian có phước.  Nếu ở trong đời này thiệt có thể thoát ly lục đạo luân hồi thì là thực sự thành tựu.  Ngược lại đời này chẳng thể thoát ly lục đạo, đời sau không cách chi tránh khỏi luân hồi như cũ; một khi đã luân hồi thì chẳng biết phải trôi lăn đến kiếp nào mới có thể gặp được Phật pháp.  Nhất định chẳng thể đời nào cũng gặp được Phật pháp, nếu đời nào cũng được gặp thì chúng ta đã thành Phật sớm rồi, bởi vậy mới biết việc này chẳng dễ.

Gặp được Phật pháp mọi người đều hy vọng ngay trong đời này được thành tựu, chuyện này cũng chẳng phải khó, đích thực mỗi người đều có thể làm được, mấu chốt là ở chỗ giác ngộ.  Biết được khuyết điểm của mình chính là giác ngộ; sửa khuyết điểm cho đúng trở lại là tu hành.  Nếu chẳng biết khuyết điểm của mình thì không biết bắt đầu sửa đổi từ đâu.  Nhưng một người biết được khuyết điểm của mình rất khó, ai cũng tưởng là mình đúng hoàn toàn.  Lý do phàm phu vẫn cứ là phàm phu vì họ chẳng biết lỗi lầm của mình, cứ cho rằng mình đúng.  Bồ Tát khác với phàm phu là vì Bồ Tát chẳng có quan niệm mình đúng, chỉ biết rằng lỗi lầm của mình quá nhiều, mỗi ngày đều phản tỉnh, ngày ngày đều sửa lỗi, đây là người giác ngộ.  Người mê thì cứ tưởng là mình đúng, cho dù phản tỉnh thì cũng nghĩ mình chẳng có lỗi, lỗi đều ở nơi người khác.  Nhưng họ chẳng biết khi thấy lỗi người khác thì chính là lỗi của mình; khi nào chẳng thấy lỗi của người khác thì lỗi của mình cũng chẳng còn.

Huệ Năng đại sư dạy: ‘Nếu là người tu đạo chân thật chẳng thấy lỗi thế gian’.  Nhìn thấy người khác có lỗi tức là phiền não tập khí của mình hiện ra.  Bên ngoài là duyên, duyên giúp cho phiền não tập khí của mình khởi lên, đây là lỗi lầm lớn.  Cho nên người biết tu hành, hết thảy ngoại duyên đều là thiện tri thức, gặp người thiện, chuyện thiện thì có thể học tập, gặp người ác, chuyện ác giúp mình phản tỉnh sửa lỗi lầm, thuận hay nghịch đều là thiện tri thức.  Trong lúc phản tỉnh ‘có lỗi thì sửa, không thì nhắc nhở để đừng phạm’, lý do Bồ Tát tu hành có thể thành Phật là ở tại điểm này.

Nếu chẳng hiểu đạo lý và chân tướng sự thật, học Phật mà chẳng thực sự thay đổi trên tâm địa, tức là học Phật nhưng vẫn tạo tội nghiệp y như cũ thì đúng như lời người xưa nói ‘Trước cửa địa ngục có nhiều Tăng sĩ’[28].  Chữ Tăng này không nhất định chỉ người xuất gia, người tại gia cũng bao gồm trong đó; Tăng là đoàn thể, bất luận là xuất gia hay tại gia, đoàn thể học Phật đều xưng là Tăng đoàn.

Hiện nay tu học pháp môn Niệm Phật có thể giúp chúng ta đoạn phiền não, tăng trưởng trí huệ, thoát ly sanh tử luân hồi, viên thành Phật đạo.  Trong vô lượng pháp môn đây là pháp môn hy hữu thù thắng hạng nhất, chẳng dễ gì gặp được.  Ðặc biệt là đạo tràng có tổ chức tu tập chung như vầy chẳng phải do sức người tạo nên, mà là do chư Phật, Bồ Tát gia trì nên đạo tràng có chư Phật hộ niệm, Long thiên ủng hộ.  Mọi người ở trong đạo tràng này tu học phải đặc biệt trân trọng cái nhân duyên hiếm có, khó gặp này, phải hết lòng nỗ lực, nhất định nội trong một đời này viên mãn thành tựu.

________________
[25]  Chỉ tịnh là thời gian đại chúng ngồi xuống, yên lặng, niệm Phật thầm sau khi nhiễu Phật, hoặc sau khi niệm lớn tiếng.

[26] (Chỉ ư chí thiện)

[27] Ðây là cương lĩnh tu thân của nhà Nho.  Tam Cương gồm: Minh minh đức, Thân Dân, Chỉ ư chí thiện. (Chữ Thân này thời cổ đọc là Tân (mới), nên hiện thời tuy viết là Thân nhưng vẫn phải đọc là Tân)

( Nghĩa là: Làm sáng tỏ cái đức sáng, làm cho dân chúng hiểu biết được cái hay đẹp rồi sửa đổi thành con người mới tốt đẹp, nhắm đến sự tốt đẹp tột bực, làm cho được rồi giữ cho nó tồn tại mãi).

Bát Mục gồm: Cách Vật, Trí Tri, Thành Ý, Chánh Tâm, Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ.  Xin xem Phụ lục ở cuối Tập 2.

[28] (Ðịa ngục môn tiền Tăng đạo đa)
 
Trích từ: Học Vi Nhân Sư Hành Vi Thế Phạm

Từ Ngữ Phật Học
phổ độ
(普度) I. Phổ Độ. Độ cho nhiều người cạo tóc xuất gia. Truyện Khổng thừa cung trong Tống sử ghi: Xin sửa chữa những ngôi chùa ở nơi bị chiến tranh tàn phá và độ cho nhiều người làm tăng ni. II. Phổ Độ. Cũng gọi Phổ độ chúng sinh. Ban bố pháp lực rộng rãi để cứu độ chúng sinh. Tức là Phật, Bồ tát thương xót chúng sinh trôi giạt, nổi chìm trong biển lớn sống chết, nên ban bố rộng rãi pháp lực để cứu độ khắp quần sinh, khiến cho họ thoát khỏi biển khổ sinh tử phiền não. Tín ngưỡng dân gian Trung quốc, hàng năm đến tháng 7 âm lịch, dân chúng sắm sửa thức ăn để cúng tế các vong linh, cũng gọi là Phổ độ. Phật giáo cũng có nghi thức Phổ độ đại trai. III. Phổ Độ (1196-1277). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, họ Sử, tự Hư chu. (xt. Hư Chu). IV. Phổ Độ (?-1330). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Đơn dương (huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), họ Tưởng. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đông lâm tại Lô sơn, tham học nhiều nơi, sau trụ ở chùa Diệu quả tại Đơn dương và Thiện pháp đường chùa Đông lâm, chuyên tu Tam muội niệm Phật. Bấy giờ xuất hiện bọn người tự xưng là Liên tông mà chuyên hành tà pháp, sư thâm cảm niềm lo âu. Cho nên, vào năm Đại đức thứ 9 (1305), sư biên soạn Liên tông bảo giám, 10 quyển, để làm sáng tỏ chính tông của ngài Từ chiếu Tử nguyên. Tháng 5, niên hiệu Chí đại năm đầu (1308) đời Nguyên, vua Vũ tông hạ chiếu chỉ nghiêm cấm Liên tông hoạt động, sư liền quyết định đặt kế hoạch phục hưng. Tháng 10, sư đến chùa Pháp vương tại Kinh đô để cùng bàn bạc với Quốc sư Quán đính, rồi đem bộ Liên tông bảo giám do sư soạn dâng lên vua. Sau khi vua Nhân tông lên ngôi, sư lại dâng biểu xin được phục hưng Liên tông. Tháng giêng, niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), Nhân tông sắc lệnh ban hành Liên tông bảo giám trong nước, đề cử sư làm Giáo chủ Liên tông và ban hiệu cho sư là Hổ Khê Tôn Giả. Niên hiệu Chí thịnh năm đầu (1330) sư thị tịch. Người đời tôn là Ưu đàm tông chủ, tổ Trung hưng Liên tông. [X. bài Tựa trong Lô sơn Liên tông bảo giám; Tịnh độ thần chung Q.10; Tịnh độ toàn thư Q.hạ; Tịnh độ thánh hiền lục Q.4].
Phật Quang Đại Từ Điển
phiền não tập
(煩惱習) Cũng gọi Dư tập, Tập khí, Tàn khí. Tập khí còn rớt lại do phiền não thường hiện khởi xông ướp(huân tập). Các bậc hiền thánh tuy đã dứt hết Phân biệt khởi Câu sinh khởi Hiện hành Chủng tử, Tập khí Hiện hành Chủng tử Tập khí Hiện hành Chủng tử, Tập khí Hiện hành Chủng tử, Tập khí Địa tiền phục Kiến đạo đoạn Địa 7 phục hết Định Kim cương dứt liền Đoạn trừ ở mỗi địa Địa tiền phục Kiến đạo đoạn Mỗi địa phục dần Mỗi địa đoạn trừ Phân biệt khởi Câu sinh khởi Phiền Não Chướng Sở Tri Chướng phiền não nhưng thói quen (tập khí) của nhiều kiếp vẫn còn sót lại. Như ngài Nan đà tuy đã chứng A la hán, nhưng vẫn còn tập khí dâm dục, nên khi nói pháp giữa thính chúng nam nữ, mắt thường nhìn về phía những người nữ và giọng nói rất hay. Cũng như ngài Xá lợi phất vì còn tập khí sân nên khi nghe đức Phật nói: Xá lợi phất ăn thức ăn bất tịnh liền nhả thức ăn ra và không nhận lời thỉnh thụ thực nữa. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 hạ) nói: Phiền não tập nghĩa là cái thói quen phiền não còn sót lại, như nghiệp thân, nghiệp khẩu không theo trí tuệ thì do phiền não mà sinh khởi. (xt. Tập Khí).
Phật Quang Đại Từ Điển
phiền não
(煩惱) Phạm: Kleza. Pàli:Kilesa. Hán âm: Cát lệ xá. Cũng gọi Hoặc. Gọi chung những tác dụng tinh thần làm cho tâm hữu tình bấn loạn, buồn sầu, khổ não. Để đạt mục đích tham muốn, thỏa mãn những dục vọng của cái ta mà con người có ý thức hoặc vô ý thức thường đắm chìm trong cảnh buồn vui nên bị phiền não trói buộc. Trong tất cả các loại tác dụng tâm, giác ngộ là mục đích cao nhất trong Phật giáo, cho nên bất luận tác dụng tinh thần nào làm trở ngại sự thực hiện giác ngộ đều được gọi là phiền não. Phiền não tùy theo tính chất có nhiều tên gọi như: Tùy miên (Phạm: Anuzaya), Triền (Phạm:Paryavasthàna), Cái (Phạm: Nivaraịa), Kết (Phạm:Saôyojana), Phược (Phạm: Bandhana), Lậu (Phạm: Àsrava), Thủ (Phạm: Upàdàna), Hệ (Phạm: Grantha), Sử, Cấu, Bạo lưu, Ách, Trần cấu, Khách trần... Nếu phân loại thêm nữa thì rất phức tạp, nhưng thông thường cho Tham, Sân, Si là nguồn gốc của tất cả phiền não và chia làm 2 loại là Căn bản phiền não (phiền não gốc) và Chi mạt phiền não ( phiền não ngọn). Căn bản phiền não có 6: Tham, Sân, Si (Vô minh),Mạn, Nghi và Kiến (Ác kiến); trong đó, Kiến lại được chia làm 5 thứ: Thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến, gọi chung là Thập phiền não (Thập sử). Chi mạt phiền não thì tùy thuộc vào Căn bản phiền não mà sinh khởi, theo luận Câu xá thì có 19 thứ gồm: Phóng dật, giải đãi..., còn theo luận Duy thức thì có 20 thứ gồm: Thất niệm, tán loạn, bất chính tri... Ngoài ra còn có các phương pháp phân loại như: Tam lậu, Tam kết, Tứ bạo lưu, Tứ thủ, Ngũ cái, Ngũ kết, Lục cấu, Thất lưu, Thập triền..., hoặc gọi là Bát bách phiền não (108 phiền não), hoặc vì cách tính toán khác nhau, nên có các thuyết bất đồng như Bát vạn tứ thiên phiền não (84.000 phiền não). [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.43, 46, 60; luận Câu xá Q.20, 21; luận Phật tính Q.3; luận Thành duy thức Q.6].
Phật Quang Đại Từ Điển
pháp môn
(法門) Phạm: Dharma-paryàya. Chỉ cho Phật pháp, giáo pháp. Giáo pháp do đức Phật nói là khuôn phép cho thế gian, nên gọi là Pháp. Pháp này là cửa ngõ vào đạo của các bậc hiền thánh, nên gọi là môn. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung, phần đầu (Đại 44, 252 trung) nói: Pháp nghĩa là khuôn phép để hiểu sự vật; Môn nghĩa là cửa ngõ của Thánh trí. Ngoài ra, Pháp môn cũng hàm ý là vô lượng vô tận cá tính sai biệt, như thường nói, vì chúng sinh có 8 vạn 4 nghìn phiền não, nên đức Phật nói 8 vạn 4 nghìn pháp môn... [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.10; kinh Duy ma Q.8; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; Hoa nghiêm đại sớ Q.2; Ma ha chỉ quán Q.1].
Phật Quang Đại Từ Điển
thị hiện
(示現) Phạm:Pràtihàrya. Hàm ý là hiển bày, hiển hiện. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 23 (bản dịch cũ) và luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 4, vì giáo hóa chúng sinh nên chư Phật vàBồ tát biến hiện ra nhiều thân hình, như 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của đức Phật và 33 thân tướng của bồ tát Quán âm... Ngoài ra, chữ sắc của cõi Sắc, thông thường có nghĩa là vật chất, nhưng trong ngữ ý cũng có hàm nghĩa biến ngại, thị hiện. Luận Câu xá quyển 2 (Đại 29, 7 thượng) nói: Trong 18 cõi thì cõi Sắc có thấy, vì có thể thị hiện đây, kia sai khác. Trong các kinh có ghi chép rất nhiều về danh tướng thị hiện và giải thích rõ ý nghĩa các danh tướng này. Như 3 thị hiện nói trong kinh Thương ca la trong Trung a hàm quyển 35 như sau: 1. Như ý túc thị hiện (Phạm:Fddhipràtihàrya,Pàli:Iddhi-pàỉihàriya). Cũng gọi Thầntúcbiến hóa thị hiện, Thần túc biến hóa, Thần túc thông thị hiện, Thần túc giáo hóa, Vô lượng thần túc, Thần thông biến hiện, Thần lực thần biến, Thần cảnh thần biến, Thần biến thị đạo, Thần thông luân, Thần biến luân, Thân luân. Nghĩa là Sa môn Phạm chí có đầy đủ đại uy đức, có năng lực từ 1 thân biến ra vô số thân, lại nhập vô số thân vào 1 thân, đi qua tường vách giống như đi giữa đồng trống, lướt trên mặt nước giống như đi trên đất liền, ngồi kếtgià phóng lên giống như chim bay liệng trong hư không, vô ngại tự tại. Tướng thị hiện này lấy Thần cảnh thông trong 6 thông làm tự tính. 2. Chiêm niệm thị hiện (Phạm: Àdezanà-pràtihàrya,Pàli:Àdesanàpàỉihàriya). Cũng gọi Tha tâm thị hiện, Ngôn giáo giáo hóa, Quán sát tha tâm thần túc, Tri tha tâm tùy ý thuyết pháp, Kí thuyết biến hiện, Kí thuyết thần biến, Kí tâm thị đạo, Kí tâm luân, Tha tâm luân, ý luân. Nghĩa là Sa môn Phạm chí dùng tha tướng, tha niệm, tha tư, tha thuyết để xem xét các pháp như tha ý, quá khứ, hiện tại, vị lai, tâm, tâm sở hữu... Tướng thị hiện này lấy Tha tâm thông(Thần thông biết được ý nghĩ của người khác) trong 6 thông làm tự tính. 3. Giáo huấn thị hiện (Phạm: Anuzàsana-pràtihàrya), Pàli: Anusasana-pàỉihàriya). Cũng gọi Giáo giới thị hiện, Lậu tận thị hiện, Huấn hối thị hiện, Giáo giới thần túc, Giáo giới thị đạo, Giáo giới luân, Thuyết pháp luân, Khẩu luân. Nghĩa là Sa môn Phạm chí đã tu đạo hạnh, diệt sạch các phiền não, chứng được tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự biết tự giác, tự chứng thành tựu, không còn chịu sinh tử luân hồi nữa, đồng thời đem điều mình chứng mình biết chỉ bảo cho người khác, rồi người này chỉ cho người kia cho đến vô lượng trăm nghìn người... Tướng thị hiện này lấy Lậu tận thông trong 6 thông làm tự tính. Bời vì, trong 6 thông chỉ lấy 3 thông trên đây (Thần cảnh thông, Tha tâm thông, Lậu tận thông) làm tự tính của 3 loại thị hiện, cho nên rất thù thắng. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần cuối, gọi 3 loại thị hiện nêu trên là Thần biến luân, Kí tâm luân và Giáo giới luân, đồng thời giải thích rõ tướng thị hiện như sau: 1. Tướng thần biến: Gồm có Năng biến và Năng hóa. Năng biến lại được chia làm 18 thứ và Năng hóa được chia làm 2 thứ.2. Tướng kí tâm: Gồm 6 thứ kí về tâm của 3 cõi, 5 đường có triền, có nhiễm, thắng trong liệt. 3. Tướng giáo giới: Gồm có 5 thứ như Già chỉ(ngăn cấm),Khai hứa(cho phép)... Ba thị hiện này là đức dụng thuộc 3 nghiệp thân, khẩu, ý của Như lai, tức Tha tâm luân là ý nghiệp của Như lai, Thần thông luân là thân nghiệp của Như lai và Thuyết pháp luân là khẩu nghiệp của Như lai, do đó mà làm cho chúng sinh thoát li ác nghiệp phiền não, hướng tới chính đạo.
Phật Quang Đại Từ Điển
lục đạo luân hồi
(六道輪回) vòng quanh trong 6 đường sinh tử. sáu đường: địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, người, trời và a tu la. chúng sinh vì tạo các nghiệp, hoặc thiện hoặc ác, nên phải trôi lăn mãi trong vòng sinh tử mà chịu khổ trong 6 đường, nên gọi là lục đạo luân hồi. [x. kinh quá khứ hiện tại nhân quả q.2; luận đại tì bà sa q.172]. (xt. thập giới).
Phật Quang Đại Từ Điển
tam thiện đạo
(三善道) Cũng gọi Tam thiện thú Chỉ cho 3 đường thiện trời, người, a tu la do tu 3 phẩm thiện nghiệp mà hướng tới để sinh về. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2 hạ (Đại 33, 698 hạ) nói: Vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm hạ thì khởi nhân duyên Tu la, như bức tranh màu vàng; vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm trung thì khởi nhân duyên cõi người, như bức tranh màu trắng; vô minh kết hợp với hạnh tu thiện phẩm thượng thì khởi nhân duyên cõi trời, như bức tranh màu trắng toát. [X. luận Đại trí độ Q.30; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].
Phật Quang Đại Từ Điển
tại gia
(在家) Phạm: Gfha-stha. Pàli: Gahaỉỉha. Cũng gọi Cư gia, Trụ gia, Tại gia nhân. Đối lại: Xuất gia. Chỉ cho người sống cuộc đời thế tục, có gia đình, sản nghiệp, tự làm việc để nuôi thân. Nhà(gia) có 2 loại: Một là nhà thế tục, hai là nhà lao ngục ba cõi. Ra khỏi nhà thế tục tương đối dễ, nhưng thoát li nhà lao ngục(5 dục, 6 trần) 3 cõi thì rất khó. Thân xuất gia chỉ cho việc ra khỏi nhà thế tục, còn tâm xuất gia thì chỉ cho việc thoát li nhà 3 cõi. Người tại gia mà qui y Phật giáo, thụ trì tam qui, ngũ giới thì cũng trở thành 1 thành viên của giáo đoàn Phật giáo, người nam gọi là ưu bà tắc, người nữ gọi là ưu bà di. Phật giáo cho rằng đời sống tại gia dễ bị chìm đắm vì tham trước vật dục, tình ái, trở ngại việc tu hành Phật đạo, vì thế trong các kinh nói rộng về các chướng ngại của nếp sống tại gia. Như kinh Bảo tích quyển 82 có nêu ra 99 thứ chướng nạn: Nhiều bụi bặm, nhơ nhớp, bị trói buộc, nhiều cáu bẩn... Kinh Văn thù sư lợi vấn thì liệt 90 (có thuyết nói 95) thứ quá hoạn như: Có chướng ngại, thu nạp các cáu bẩn, làm các việc ác, ở chỗ bụi bặm nhớp nhúa, chìm đắm trong vũng bùn nhục dục... Nhưng tại gia cũng có các vị Bồ tát đạt được địa vị giác ngộ giải thoát, như các vị Duy ma, Hiền hộ, Thắng man phu nhân, Bàng uẩn... họ đều là điển hình của hàng tại gia chứng quả.[X. kinh Tạp a hàm Q.20; kinh Hà khổ trong Trung a hàm Q.36; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; kinh Bồ tát thiện giới Q.7; kinh Ưu bà tắc giới Q.3; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.44; luận Đại tì bà sa Q.25; luận Câu xá Q.14; Đại tạng pháp số Q.16]. (xt. Xuất Gia).
Phật Quang Đại Từ Điển
thế giới
(世界) Phạm,Pàli:Loka-dhàtu. Hán âm: Lộ ca đà đổ. Gọi tắt: Giới. Nơi có thể bị hủy hoại. Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 4 thì Thế nghĩa là đổi dời; Giới chỉ cho phương vị. Tức về mặt thời gian có 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai dời đổi, về mặt không gian thì có định vị nơi chốn như đông, tây, nam, bắc, trên, dưới 10 phương, cũng chính là chỉ cho nơi chốn nương ở của chúng sinh, như núi sông, cõi nước... Như trên đã nói, thế giới vốn chỉ cho thế giới hữu vi trong 3 cõi; nhưng Phật giáo Đại thừa cũng chỉ cho thế giới Liên hoa tạng (cảnh giới Phật do tông Hoa nghiêm nói), Tịnh độ của Phật A di đà... Tức bao hàm thế giới tuyệt đối siêu việt thế giới tương đối, là thế giới vô vi. Ấn độ đời xưa y cứ vào Thuyết núi Tu di để thành lậpVũ trụ luận, tức lấy núi Tu di làm trung tâm, 4 phía chung quanh có 9 núi 8 biển, 4 châu(4 thiên hạ) bao bọc và mặt trời, mặt trăng hợp lại làmmộtđơn vị, gọi là một thế giới. Hợp chung lại 1000 cái một thế giới làm mộtTiểu thiên thế giới; hợp chung 1000 cái Tiểu thiên thế giới, gọi là Trungthiên thế giới; hợp 1000 cái Trung thiên thế giới thành một Đại thiên thế giới (Đại thiên giới, Đại thiên). Một Đại thiên thế giới bao gồm 3 thứ Tiểu, Trung, Đại thiên thế giới, cho nên Đại thiên thế giới cũng gọi là Tam thiên đại thiên thế giới(Tam thiên thế giới). Vũ trụ được cấu thành bởi vô số Tam thiên đại thiên thế giới, do đó có thể thấy thế giới rộng lớn vô biên. Phạm vi giáo hóa của một đức Phật(tức một cõi Phật) hoặc là một thế giới, hoặc là một Tam thiên đại thiên thế giới, hoặc một thế giới to rộng hơn nữa. Từ thế giới vốn đồng nghĩa với Thế gian, bao gồm Hữu tình thế gian và Khí thế gian, nhưng thông thường quen chỉ cho Khí thế gian. Chúng sinh hữu tình trụ trong một thế giới được phân loại làm 6 đường khác nhau là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh,A tu la, cõi người và cõiTrời. Trong đó, thế giới mà 5 đường trước an trú gọi là Dục giới; thế giới mà chư thiên có sắc chất an trú gọi là Sắc giới; thế giới mà chư thiên không có sắc chất cư trú gọi là Vô sắc giới. Nhưng theo các kinh luận Đại thừa thì còn có Tịnh độ của chưPhậttồn tại ngoài 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc nói trên. Như Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng, ngoài 6 đường còn lập Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật, gọi chung là Thập giới, trong Thập giới này mỗi giới đều có cõi nước an trụ. Lại như Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 3 y cứ theo thuyết trong kinh Hoa nghiêm mà nêu ra nơi an trụ cúa 10 cảnh giới Phật là Quốc độ hải và Thế giới hải. 1. Quốc độ hải: Nơi an trụ của tự thể Thập Phật, là y báo viên dung tự tại không thể nghĩ bàn. 2. Thế giới hải: Nơi 10 thân Xá na nhiếp hóa, lại được chia làm 3 loại: Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Thập trùng thế giới hải và Vô lượng tạp loại thế giới hải.
Phật Quang Đại Từ Điển
phát nguyện
(發願) Cũng gọi Phát đại nguyện, Phát nguyện tâm, Phát chí nguyện, Phát vô thượng nguyện. Phát khởi thệ nguyện, tức phát tâm bồ đề cầu chứng quả Phật, đặc biệt chỉ cho tâm hoàn thành Tịnh độ để cứu giúp chúng sinh (tức thệ nguyện). Nguyện mà Bồ tát phát khởi có rất nhiều loại như: Tổng nguyện, Biệt nguyện, Tịnh độ thành Phật nguyện, Uế độ thành Phật nguyện v.v... Đối với tông Tịnh độ, người thệ nguyện vãng sinh Tịnh độ khuyến khích tự mình tu thiện, tâm phát nguyện vãng sinh này, gọi là Hồi hướng phát nguyện tâm. Trong Quán kinh huyền nghĩa phần, khi giải thích 6 chữ Nam mô A di đà Phật, ngài Thiện đạo cho rằng Nam mô có nghĩa là phát nguyện hồi hướng. Ngài Thân loan thì cho rằng đó là đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ chúng sinh và là nhân của chúng sinh được cứu. Hoặc giải thích niệm chữ Nam mô là tuân hành lời khuyến khích và kêu gọi (phát khiển chiêu hoán)của 2 đức Phật Thích ca, Di đà mà phát tâm vãng sinh Tịnh độ. Về đại thể, Nguyện tâm có thể chia làm 2 loại: Một là nguyện cầu bồ đề, hai là nguyện hóa độ chúng sinh. Bốn thệ nguyện rộng lớn và 10 đại nguyện đều thuộc về phát nguyện. Ngoài ra, về việc làm phúc, tu thiện... đều phải phát nguyện trước; bài văn ghi chỉ thú của lời phát nguyện gọi là Phát nguyện văn, Nguyện văn, Thệ nguyện văn, như Thiên tăng hội nguyện văn của ngài Trầm ước đời Lương thuộc Nam triều, Phát nguyện văn của Đại sư Trí khải đời Tùy, Phát nguyện văn của ngài Thiện đạo đời Đường... [X. phẩm Chủng tính kinh Bồ tát địa trì Q.1; phẩm Nguyện thệ trong Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; luận Đại trí độ Q.5; phẩm Phân biệt thế luận Câu xá Q.12]. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).
Phật Quang Đại Từ Điển
luân hồi
(輪回) Phạm: Saôsarà. Hán âm: Tăng sa lạc. Cũng gọi Sinh tử, Sinh tử luân hồi, Sinh tử tương tục, Luân hồi chuyển sinh, Lưu chuyển, Luân chuyển. Bánh xe quay vòng. Chúng sinh do hoặc nghiệp (tham sân si) chết trong kiếp này, rồi lại sinh vào kiếp khác, hệt như cái bánh xe, cứ quay vòng mãi mãi trong 3 cõi. Đây là 1 trong những giáo nghĩa chủ yếu của Bà la môn giáo ở Ấn độ cổ đại, Phật giáo dùng theo và phát triển thêm thành giáo nghĩa Phật giáo. Nhưng có điểm khác nhau là: Bà la môn giáo cho rằng 4 giai cấp và tiện dân, trong quá trình luân hồi, đời đời kiếp kiếp vẫn y theo giai cấp ấy, không có gì thay đổi. Còn Phật giáo thì chủ trương rằng: Trước khi có nghiệp báo thì chúng sinh đều bình đẳng, nếu ở hạ đẳng mà kiếp này tu thiện đức, thì kiếp tới có thể sinh làm thượng đẳng, thậm chí có thể sinh lên cõi trời. Còn nếu kẻ ở thượng đẳng mà kiếp này làm ác, thì kiếp sau có thể sinh vào hạ đẳng, thậm chí sinh xuống địa ngục. Đây chính là nguyên nhân của sự bất bình đẳng ở nhân gian. Nếu muốn diệt cái khổ luân hồi trong 6 đường, thì trước hết phải tiêu trừ nhân tham, sân, si, vì đó chính là cái mầm mống khiến cho chúng sinh mãi mãi lưu chuyển trong 3 cõi. Nếu cắt đứt được ngã chấp và tham sân si, thì cái khổ luân hồi cũng sẽ chấm dứt. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.2; kinh Phân biệt nghiệp báo Q.thượng; phẩm Quán vô lượng tâm trong kinh Quán Phật tam muội hải Q.6; kinh Pháp hoa Q.1; kinh Chính pháp niệm xứ Q.41; kinh Niết bàn Q.16 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.30, Q.77; luận Thành duy thức Q.4].
Phật Quang Đại Từ Điển
thế tôn
(世尊) Người được thế gian tôn kính, cũng là bậc tối thắng trong thế giới, 1 trong 10 tôn hiệu của đức Như lai. Trong tiếng Phạm có rất nhiều từ được dịch là Thế tôn, nhưLoka-nàtha(Thế chủ),Loka-jyewỉha(Bậc tối tôn trong thế gian), Loka-vid (Thế gian giải), Lokàdhipati(Bậc tối thắng trong thế gian), Nàtha (Chủ),Nàyaka (Đạo sư), Sugata (Thiện thệ),Mahà-fwi(Đại tiên),Mahàvìra(Bậc Đại hùng),Tàyin(Người cứu độ), Anuttara (Vô thượng sĩ), Dharma-ràja (Pháp vương)... Nhưng trong các kinh luận thường sử dụng từ ngữ Bhagavat, Hán âm: Bà già bà, Bà nga phạ đế, Bà già phạm, Bạc già phạm. Ngoài dịch ý là Thế tôn, còn dịch thẳng là Hữu đức, Hữu danh thanh... Nghĩa là người có uy đức, tiếng tăm, tôn quí... Trong đó, từ ngữ Thế tôn là dễ hiểu nhất, cho nên xưa nay phần nhiều dịch giả Trung quốc thường dùng. Nhưng ở Ấn độ, từ ngữ Thế tôn thường được dùng để tôn xưng những người cao quí nói chung, chứ không phải chỉ dùng trong Phật giáo. Còn trong Phật giáo thì từ ngữ Thế tôn chỉ đặc biệt được dùng để tôn xưng đức Phật.
Phật Quang Đại Từ Điển
nhân duyên
(因緣) Phạm: Hetu-pratyaya. Từ gọi chung nhân và duyên. Nhân là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả. Duyên chỉ cho nguyên nhân gián tiếp giúp đỡ bên ngoài. Do vậy mà Nhân duyên còn được gọi là Nội nhân ngoại duyên, Thân nhân sơ duyên. Và nói theo nghĩa rộng thì Nhân hàm ý là Nhân và duyên, bao gồm Nội nhân ngoại duyên. Hết thảy muôn vật đều tùy thuộc vào sự tan hợp của nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh, Duyên sinh, Duyên thành, Duyên khởi. Tất cả pháp do nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh diệt pháp; còn cái kết quả do nhân và duyên hòa hợp mà sinh ra thì gọi là Nhân duyên hòa hợp. Hết thảy vạn hữu đều do nhân duyên hòa hợp mà giả sinh, không có tự tính, đó chính là lí Nhân duyên tức không. Nếu lấy phiền não làm nhân, lấy nghiệp làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi mê; còn nếu lấy trí làm nhân, lấy định làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi ngộ. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6, quyển 7 có nêu thuyết 6 nhân 4 duyên. Sáu nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Tương ứng nhân, Đồng loại nhân, Biến hành nhân và Dị thục nhân. Bốn duyên: Nhân duyên, Sở duyên duyên, Đẳng vô gián duyên và Tăng thượng duyên. Trong đó, Năng tác nhân trong 6 nhân là Tăng thượng duyên trong 4 duyên, còn 5 nhân kia thì là Nhân duyên trong 4 duyên. Nhưng tông Duy thức thì cho rằng Đồng loại nhân trong 6 nhân là chung cho cả Nhân duyên và Tăng thượng duyên, còn 5 nhân kia là Tăng thượng duyên. Đồng loại nhân là nguyên nhân dẫn sinh ra quả Đẳng lưu, vì thế cũng gọi là Tự chủng nhân. Cũng như luận Câu xá cho rằng nhân khác tính dẫn sinh ra quả khác tính là nhân duyên. [X. kinh Tạp a hàm Q.1; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; phẩm Quán tứ đế trong Trung luận Q.4; luận Đại tì bà sa Q.16; luận Đại thừa khởi tín; luận Thành duy thức Q.2; luận Du già sư địa Q.3, 5, 38;luận Hiển dương thánh giáo Q.18]. (xt. Nhân, Duyên). II. Nhân Duyên. Nhân tức là duyên, chỉ cho Nhân duyên trong 4 duyên. (xt. Tứ Duyên). III. Nhân Duyên. Phạm: Nidàna. Cũng gọi Duyên khởi.Thể tài thứ 6 trong 12 thể tài kinh. (xt. Ni Đà Na).
Phật Quang Đại Từ Điển
ác đạo
(惡道) Đối lại với Thiện đạo. Cùng nghĩa với Ác thú. Đạo, có nghĩa là thông suốt. Tức người lúc sống gây các nghiệp ác, sau khi chết phải đi suốt tới những nơi khổ sở. Gọi chung những nơi của y thân và khí thế giới, chủ yếu là chỉ địa ngục. Trong sáu đạo (ngả, đường), thông thường gọi địa ngục, quỉ đói và súc sinh là ba ác đạo, a tu la, cõi người và cõi trời là ba thiện đạo. Ngoài ra, bốn ác đạo là chỉ cho địa ngục, quỉ đói, súc sinh và A tu la. Năm ác đạo thì chỉ cho địa ngục, quỉ đói, súc sinh, cõi người, cõi trời. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; kinh Quán Vô Lượng Thọ; kinh A Di Đà; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.8 phần cuối]. (xt. Ác Thú).
Phật Quang Đại Từ Điển
thệ nguyện
(誓願) Phạm: Praịidhàna. Pàli:Paịìdhàna. Khởi tâm mong cầu, tự ước thúc tâm mình, tức phát nguyện, lập thệ hoàn thành một việc gì đó. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 8 trung) nói: Xá lợi phất nên biết, ta vốn lập thệ nguyện, muốn tất cả chúng sinh, được như ta không khác. Bồ tát từ lúc mới phát khởi tâm bồ đề, cho đến khi thành tựu thì dừng mà không thành Phật, đó là vì thệ nguyện của vị ấy lập ra. Nguyện chung của Phật và Bồ tát, gọi là Tổng nguyện, tức chỉ cho 4 thệ nguyện rộng lớn, còn các nguyện riêng của mỗi đức Phật và Bồ tát thì gọi là Biệt nguyện, như 48 nguyện của Phật A di đà, 12 nguyện của Phật Dược sư, 10 đại nguyện của bồ tát Phổ hiền... đều thuộc Biệt nguyện. Tông Tịnh độ đặc biệt gọi bản nguyện của Phật A di đà là Thệ nguyện. Vì Ngài thệ nguyện cứu độ khắp cả chúng sinh nên gọi là Hoằng nguyện, Hoằng thệ; lại vì tâm nguyện của Ngài rất sâu nặng nên gọi là Trọng nguyện, cũng gọi Bất xả thệ ước, Bản thệ. Năng lực của thệ nguyện gọi là Thệ nguyện lực; tác dụng của thệ nguyện phàm phu không thể nghĩ bàn được, nên gọi là Thệ nguyện bất tư nghị. Về sự dị, đồng giữa Thệ và Nguyện, Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển hạ, phần đầu cho rằng tự ước thúc tâm mình gọi là Thệ, chí cầu đầy đủ gọi là Nguyện. Còn Thắng man bảo quật quyển thượng, phần cuối của ngài Cát tạng thì cho rằng Thệ và Nguyện có đồng, cũng có dị, về đồng thì giống như trí và tuệ, nhãn và mục; về dị ở ngay việc, lấy hành làm Thệ, như Thập thụ...; mong cầu điều chưa được là Nguyện như Tam nguyện... Bởi thế biết thệ nguyện phải kèm theo nghĩa yêu chế (tức chí cầu, ước thúc – tự chế tâm mình), chứ không phải chỉ phát nguyện mong cầu mà thôi. Như lời văn nguyện ủa mỗi nguyện trong 48 nguyện của Phật A di đà đều có 2 câu Nếu tôi thành Phật và Không thành chính giác, trong đó, Nếu tôi thành Phật tức là nghĩa phát nguyện mong cầu, còn Không thành Chính giác thì nghĩa là yêu chế .
Phật Quang Đại Từ Điển
thế gian
(世間) Phạm: Loka. Hán âm: Lộ ca, Hán dịch: Hủy hoại. Phạm: Laukika, Hán dịch: Thế tục, phàmtục. Đồng nghĩa: Thế giới: Gọi tắt: Thế. Chỉ cho 3 cõi bị các phiền não trói buộc và tất cả hiện tượng thuộc về các pháp hữu vi hữu lậu. Thế nghĩa là đổi dời; gian nghĩa là gián cách. Thế gian bao hàm hữu tình và quốc độ(khí thế gian). Luận Phật tính quyển 2 thì cho rằng Thế có 3 nghĩa: 1. Đối trị: Vì có thể bị tiêu diệt hết. 2. Bất tĩnh trụ: Vì niệm niệm sinh diệt khôngdừng. 3. Hữu đảo kiến: Vì điên đảo, hư vọng. Về phân loại thế gian thì luận Câu xá quyển 8 nêu 2 loại thế gian: 1. Hữu tình thế gian(cũng gọi Chúng sinh thế gian, Hữu tình giới): Chỉ cho tất cả hữu tình chúng sinh (chúng sinh có tình thức). 2. Khí thế gian(cũng gọi Vật khí thế gian, Khí thế giới, Khí giới, Khí): Chỉ cho đất nước, núi sông là nơi các loài hữu tình cư trú. Luận Đại trí độ quyển 70 nêu 3 loại thế gian:1. Chúng sinh thế gian(cũng gọi Giả danh thế gian): Nghĩa là giả lập các danh tự trên các pháp như 10 cõi, 5 ấm... mỗi mỗi khác nhau. 2. Ngũ ấm thế gian(cũng gọi Ngũ chúng thế gian, Ngũ uẩn thế gian): Chỉ cho thế gian do 5 ấm: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức hình thành. 3. Quốc độ thế gian: Chỉ cho khí thế gian, tức là nơi nương ở của các loài chúng sinh.Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 nêu 3 loại thế gian: 1. Khí thế gian: Chỉ cho 3 nghìn thế giới, là những cảnh giới được đức Như lai hóa độ. 2. Chúng sinh thế gian: Chỉ cho những căn cơ được đức Như lai giáo hóa. 3. Trí chính giác thế gian: Chỉ cho thân trí năng hóa của đức Như lai. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí thì Ngũ uẩn thế gian và Chúng sinh thế gian là đồng nghĩa; Hữu tình thế gian và Khí thế gian giống với cách phân loại Chính báo và Y báo. Từ ngữ Thế gian chỉ được dùng cho cõi mê, còn từ Báo thì thông dụng cả cõi mê và cõi ngộ. Vượt khỏi thế gian(thế tục) thì gọi là Xuất thế gian, cho nên đối với các giai vị Bồ tát, trí, thiền định... có lập thế gian và xuất thế gian khác nhau. Chẳng hạn như thường nói nhân quả của cõi mê(khổ đế, tập đế) thuộc thế gian, nhân quả của cõi ngộ(diệt đế, đạo đế) thuộc xuất thế gian; trước giai vị Kiến đạo(Sơ địa) thuộc thế gian, Kiến đạo trở lên thuộc xuất thế gian. Ở đây tông Hoa nghiêm cho rằng người tu hành còn phải vượt qua xuất thế gian thông thường(xuất thế của Tam thừa), cho nên lập riêng xuất xuất thế(tức Xuất xuất thế gian). Ngoài ra, Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển trung, phần đầu, lập 2 loại thế gian là Phi học thế gian và Họcgiảthế gian. Đại bátNiết bàn kinh sớ quyển 18 thì nêu 6 loại thế gian như Ngũ ấm thế gian, Ngũ dục thế gian...
Phật Quang Đại Từ Điển
ngu si
(愚痴) Phạm: Moha, Mùđha. Cũng gọi Si, Vô minh. Không có trí sáng suốt, ngu tối mê muội, gặp việc không thể phán đoán đúng đắn, là 1 trong 6 phiền não căn bản, cũng là 1 trong 3 độc (tham, sân, si). [X. luận Câu xá Q.4; luận Thuận chính lí Q.11].
Phật Quang Đại Từ Điển
sắc giới
(色界) I. Sắc Giới. Phạn, Pàli:Rùpa-dhàtu. Cũng gọi Sắc thiên, Sắc hành thiên. Từ ngữ gọi chung thế giới và chúng sinh có sắc chất thanh sạch tốt đẹp, là chỗ cư trú của chư thiên, 1 trong 3 cõi. Chúng sinh ở cõi này tuy đã xa lìa dâm dục, không đắm trước các sắc pháp thô xấu nhơ nhớp, nhưng vẫn còn bị ràng buộc bởi sắc pháp nhỏ nhiệm thanh sạch, cho nên để phân biệt với cõi Dục ở dưới và cõi vô sắc ở trên mà gọi cõi này là cõi Sắc. Chư thiên cõi này không phân biệt nam nữ, y phục tự nhiên, dùng ánh sáng làm thức ăn và tiếng nói. Ở cõi này căn cứ vào thứ tự nhập định cạn sâu mà chia làm 4 địa (tức Tứ thiền thiên, Tứ tĩnh lự xứ). Sơ thiền gọi là Li sinh hỉ lạc địa, Nhị thiền gọi là Định sinh hỉ lạc địa, Tam thiền gọi là Li hỉ diệu lạc địa và Tứ thiền gọi là Xả niệm thanh tịnh địa. Cứ theo luận Câu xá quyển 8 thì Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền mỗi nơi đều có 3 tầng trời,còn Tứ thiền thì có 8 tầng trời, cộng chung lại thì tất cả là 17 tầng trời được phân bố như sau: A. Ba tầng trời cõi Sơ thiền: 1. Phạm chúng thiên (Phạn: Brahmapàriwadya) 2. Phạm phụ thiên (Phạn: Brahmapurohita) 3. Đại phạm thiên (Phạn: Mahàbrahman) B. Ba tầng trời cõi Nhị thiền: 1. Thiểu quang thiên (Phạn: Pàrìttàbha). 2. Vô lượng quang thiên (Phạn: Apramàịàbhà). 3. Cực quang tịnh thiên (Phạn: Àbhàsvara) C. Ba tầng trời cõi Tam thiền: 1. Thiểu tịnh thiên (Phạn: Parìtta- Zubha). . Vô lượng tịnh thiên (Phạn: Apramàịa- Zubha) 3. Biến tịnh thiên (Phạn: Zubhakftsna) D. Tám tầng trời cõi Tứ thiền: 1. Vô vân thiên (Phạn: Anabhraka). 2. Phúc sinh thiên (Phạn: Puịyaprasava). 3. Quảng quả thiên (Phạn: Bfhatphala). 4.Vô phiền thiên (Phạn:Avfha). 5. Vô nhiệt thiên( Phạn:Atapa). 6. Thiện hiện thiên (Phạn:Sudfza). 7. Thiện kiến thiên (Phạn: Sudarzana). 8. Sắc cứu cánh thiên: (Phạn: Akaniwỉha). Mười bảy tầng trời trên đây gồm khí thế gian và các hữu tình gọi chung là Sắc giới. Nhưng sự phế lập các tầng trời cõi Sắc có rất nhiều thuyết khác nhau. Kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Khởi thế quyển 8 và kinhĐại bát nhã quyển 403, đều liệt kê 22 tầng trời: Phạm thân thiên, Phạm phụ thiên, Phạm chúng thiên, Đại phạm thiên, Quang thiên, Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Quang âm thiên, Tịnh thiên, Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên, Nghiêm sức thiên, Tiểu nghiêm sức thiên, Vô lượng nghiêm sức thiên, Nghiêm sức quả thực thiên, Vô tưởng thiên, Vô tạo thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên, Đại thiện kiến thiên và A ca ni tra thiên. Còn kinh Hoa nghiêm quyển 13 (bản dịchcũ), quyển 21 (bản dịch mới), kinh Đại Bát Nhã quyển 402 và kinh Phật bản hạnh tập quyển 9 thì bỏ bớt Vô tưởng thiên mà chỉ nêu có 21 tầng trời. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 136, luận Lập thếa tì đàm quyển 6 và luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 thì bỏ đi 4 tầng trời: Phạm thân, Quang thiên, Tịnh thiên và Nghiêm sức thiên mà lập thuyết Thập bát thiên (18 tầng trời). Rồi kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 3, luận Thuận chính lí quyển 21 và luận Chương sở tri quyển thượng lại bỏ bớt Vô tưởng thiên trong Thập bát thiên mà lậpthuyết Thập thất thiên (17 tầng trời). A Tì Đàm tâm luận kinh cũng lập thuyết Thập thất thiên bằng cách cắt bỏ Đại phạm thiên mà thay bằng Vô tưởng thiên. Rồi trong thuyết này, kinh Địa động trong Trung a hàm quyển 9 lại loại bỏ Vô tưởng thiên mà chỉ nêu có 16 tầng trời thôi. Về chỗ ở, thân lượng, tuổi thọ của chúng sinh trong Tứ thiền thiên thuộc cõi Sắc thì kinh Trường a hàm quyển 20, kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 9,luận Lập thế a tì đàm quyển 3, luận Đại tì bà sa quyển 134, 136, luận Câu xá quyển 11, luận Thuận chính lí quyển 31... đều có trình bày rõ ràng nhưng hơi khác nhau. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; kinh Bồ tát địa trì Q.2; luận Đại trí độ Q.16; luận Thành thực Q.12; luận Câu xá Q.5, 28; Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.1; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối]. II. SắcGiới. Tức Sắc giới trong 18 giới. (xt. Sắc Cảnh).
Phật Quang Đại Từ Điển
nhiễu phật
(繞佛) Cũng gọi Toàn nhiễu, Hành đạo. Một trong những nghi lễ của Phật giáo, tức là đi vòng quanh đức Phật, tùy ý, theo chiều bên phải(theo chiều kim đồng hồ)1 vòng, 3 vòng, hoặc trăm vòng để biểu lộ lòng cung kính, khát ngưỡng. Đây vốn là 1 trong những lễ tiết của Ấn độ đời xưa, lúc đức Phật tại thế Ngài vẫn duy trì nghi thức này. Về sau lại được ứng dụng trong việc tu niệm hoặc trong pháp hội hành đạo. [X. phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Hành Đạo).
Phật Quang Đại Từ Điển
Bồ Tát
Bồ Tát có ý nghĩa là giác hữu tình, hay hữu tình giác. Là một chúng sinh được giác ngộ, rồi đem sự giác ngộ ấy mà giác ngộ cho các chúng sinh khác được giác ngộ như Bồ Tát, mà Giáo pháp Lục Ba La Mật là phương tiện thù thắng, cao cả, tối thượng để Bồ Tát thi hành công hạnh tu tập và độ sinh:

Lục độ Ba-la-mật gồm sáu phương tiện:

- Bố thí Ba-la-mật
- Trì giới Ba-la-mật
- Nhẫn nhục Ba-la-mật
- Tinh tấn Ba-la-mật
- Thiền định Ba-la-mật
- Trí huệ Ba-la-mật

Trích Lục Từ Ngữ Phật Học
thích ca
(釋迦) Phạm:Zàkya. Hán dịch: Năng nhân. Dòng họ của đức Phật, 1 trong 5 họ của Ngài. Tộc Thích ca là 1 trong các dân tộc ở Ấn độ đời xưa, thuộc giai cấp Vũ sĩ, là con cháu của vua Cam giá (Phạm: Jkwvàka) thuộc hệ thống Nhật chủng (Phạm:Sùryavaôsa). Đức Phật xuất thân từ chủng tộc này, cho nên gọi là Thích ca mâu ni (Phạm: Zàkya-muni, tức là bậc Thánh của chủng tộc Thích ca).
Phật Quang Đại Từ Điển
Lục Đạo
(s: ṣaḍ-gati, j: rokudō, 六道): hay còn gọi là Lục Thú (六趣), là 6 thế giới trong đó chúng sanh luân hồi lưu chuyển sanh tử do nghiệp nhân thiện ác mình đã từng tạo ra, gồm có:
(1) Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄),
(2) Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼),
(3) Súc Sanh (s; tiryagoni, p: tiracchāna, 畜生),
(4) Tu La (s, p: asura, 修羅),
(5) Con Người (s: manuṣya, p: manussa, 人間) và
(6) Cõi Trời (s, p: deva, 天).

Cũng có truyền thuyết theo thứ tự Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ và quan điểm gộp chung Tu La vào Địa Ngục để trở thành Ngũ Đạo (五道). Gati vốn phát xuất từ động từ √gam, nguyên ý là “sự đi, con đường”, được dịch là “đạo (道)” hay “thú (趣)”; tuy nhiên, trường hợp Lục Đạo thì có nghĩa là “cảnh giới, trạng thái sinh tồn”. Kết hợp với Tứ Sanh (四生), có dụng ngữ Lục Đạo Tứ Sanh (六道四生). Lục Đạo là tông thể phân loại về 4 hình thức sanh ra gồm thai sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh, từ đó nó bao quát hết toàn bộ tồn tại luân hồi. Luân hồi trong Lục Đạo được gọi là Lục Đạo Luân Hồi (六道輪廻). Từ khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc dưới thời Hậu Hán, quan niệm về Luân Hồi và Lục Đạo được tuyên truyền rộng rãi trong xã hội nước này và trở thành tác động to lớn đối với người dân Trung Quốc vốn mang chủ nghĩa hiện thế trung tâm.

Đặc biệt, sức mạnh báo động có hình ảnh Địa Ngục đã sản sinh ra những đồ hình biến tướng của Địa Ngục vốn miêu tả thảm cảnh ở cõi này, các Minh Báo Ký (冥報記) lưu truyền những câu chuyện bị đọa xuống Địa Ngục, hay văn học truyền khẩu, v.v; và tạo ảnh hưởng rộng rãi cho mỹ thuật cũng như văn học. Chính Đạo Giáo cũng lấy tư tưởng Lục Đạo của Phật Giáo để hình thành nên quan niệm Lục Đạo tương tợ như vậy. Hơn nữa, quan niệm cho rằng phạm tội ở đời này sẽ bị luân hồi trong Lục Đạo đã trở thành cơ duyên làm cho mọi người thức tỉnh về tội nghiệp của tự thân; cho nên, dưới thời đại Nam Bắc Triều, rất nhiều bản văn sám hối cầu nguyện cho tội lỗi tiêu trừ đã được sáng tác ra. Khi tư tưởng mạt pháp từ cuối thời Nam Bắc Triều cho đến thời Tùy Đường được quảng bá, niềm tin về đức A Di Đà Phật (阿彌陀佛), Địa Tạng (地藏), Quan Âm (觀音) cứu độ chúng sanh thoát khỏi cảnh khổ bị luân hồi trong Lục Đạo trở nên rất thịnh hành. Từ thời Ngũ Đại cho đến nhà Tống, trên các bức bích họa ở động Đôn Hoàng (敦煌) thỉnh thoảng xuất hiện hình Lục Đạo. Trong Thiên Thai Tông, tín ngưỡng về Lục Quan Âm (六觀音) được phối trí theo từng cảnh giới của Lục Đạo cũng khá phổ biến. Tại Nhật Bản, từ Lục Đạo, Địa Ngục, v.v., xuất hiện đầu tiên trong Nhật Bản Linh Dị Ký (日本靈異記, Nihonryōiki), nếu so sánh thì quan niệm về Lục Đạo rất lạc quan. Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 10, theo đà băng hoại của Chế Độ Luật Lịnh, trong những biến động và chiến loạn của xã hội, tư tưởng mạt pháp và quán sát vô thường càng mạnh hơn thêm; từ đó, quan niệm về Lục Đạo trở nên nghiêm trọng hơn.

Đặc biệt, trong phần Lục Đạo Giảng Thức (六道講式徃生) của bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集, Ōjōyōshū) cũng như Nhị Thập Ngũ Tam Muội Thức (二十五三昧式), Nguyên Tín (源信, Genshin) có miêu tả về sự khủng khiếp của Lục Đạo và đã tạo ảnh hưởng khá lớn cho văn học cũng như mỹ thuật. Do đó, Bảo Vật Tập (寳物集, Hōbutsushū) nói về nỗi khổ của Lục Đạo và khai thị 12 cửa vãng sanh, Bình Gia Vật Ngữ (平家物語, Heikemonogatari) lấy sự sa thải của Lục Đạo trong Quán Đảnh Quyển (灌頂巻) để làm nội dung cho toàn quyển, hay Phương Trượng Ký (方丈記, Hōjōki) làm cho liên tưởng đến những nghiệp khổ trong ác đạo thông qua các thiên tai như hỏa tai, gió lớn, nghèo đói, động đất, v.v., đều là những tác phẩm có ảnh hưởng sâu đến tư tưởng Lục Đạo. Mặt khác, từ giữa và cuối thời Bình An trở đi, các bức tranh bình phong cũng như tranh vẽ về Lục Đạo được phổ biến rộng rãi. Hiện còn lại một số tác phẩm tiêu biểu như Địa Ngục Thảo Chỉ (地獄草紙, Jigokusōshi), Ngạ Quỷ Thảo Chỉ (餓鬼草紙, Gakisōshi), Bệnh Thảo Chỉ (病草紙, Yamaisōshi), v.v., thuộc hậu bán thế kỷ 12. Hơn nữa, vào thời kỳ biến động và chiến loạn, tín ngưỡng về Lục Quan Âm cũng như Địa Tạng phát triển rộng khắp. Đặc biệt, Địa Tạng được gọi là “bậc có thể hóa độ chốn Lục Đạo”, đến thế kỷ thứ 11 thì tín ngưỡng Lục Địa Tạng cho rằng ngài có mặt khắp các cõi để cứu độ hết thảy chúng sanh, được hình thành. Đến cuối thời Liêm Thương trở đi, kết hợp với Thần Tạ Ơn, Thần Tổ Đạo, tại các ngã tư đường cũng như cửa vào mộ địa, người ta có đặt 6 bức tượng Địa Tạng. Những ngã tư như vậy được xem như là nơi người chết phân chia theo sáu đường, cho nên có tên gọi là “Ngã Tư Lục Đạo”. Như trong Phật Thuyết Dự Tu Thập Vương Sanh Thất Kinh (佛說預修十王生七經, CBETA No. 21) có câu: “Bi tăng phổ hóa thị uy linh, Lục Đạo luân hồi bất tạm đình, giáo hóa yếm khổ tư an lạc, cố hiện Diêm La Thiên Tử hình (悲增普化示威靈、六道輪迴不暫停、敎化厭苦思安樂、故現閻羅天子形, buồn thêm hóa độ hiện oai linh, sáu nẻo luân hồi chẳng tạm dừng, giáo hóa bỏ khổ vui an lạc, nên hiện Diêm La Thiên Tử hình).”
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
cảm ứng
(感應) Cũng gọi ứng cảm. Chúng sinh có cơ duyên thiện căn cảm động, Phật ứng với cơ duyên ấy mà đến, thì gọi là cảm ứng. Cảm, thuộc về chúng sinh, ứng thuộc về Phật. Đại minh tam tạng pháp số quyển 37 nói: Cảm tức chúng sinh, ứng tức Phật, có nghĩa là chúng sinh đem cơ duyên tròn đủ cảm Phật, Phật liền dùng hiệu ứng đáp lại, như nước chẳng đi lên, mặt trăng chẳng đi xuống, thế mà một vừng trăng ánh hiện khắp mọi dòng sông. Kinh Chính pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 67 thượng), nói : Vô số cõi Phật, rộng nói kinh pháp, việc Thế tôn làm, cảm ứng như thế Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 585 hạ), nói: Diệu cảm diệu ứng, đều không ngoài môn chữ A.
Phật Quang Đại Từ Điển
cảm ứng đạo giao
(感應道交) Chỉ ý chúng sinh được cảm và Phật hay ứng giao hòa nhau. Mối quan hệ giữa Phật và chúng sinh cũng giống như tình mẹ con, mối quan hệ ấy chẳng phải tự lực của chúng sinh, cũng chẳng do giáo hóa mà có, mà là do cơ duyên của chúng sinh đã thuần thục, thì tự nhiên Phật lực có thể tương ứng với, cũng tức là sự giao hòa hỗ tương giữa cảm của chúng sinh và ứng của Phật. Lại nữa, căn tính chúng sinh có vô số, cho nên sự diệu ứng của chư Phật cũng vô lượng, do đó mà có các loại cơ cảm khác nhau, mà theo kinh Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 phần trên đã tổng hợp, tóm thâu trong bốn câu sau đây: 1. Minh cơ minh ứng (cơ ngầm ứng ngầm), có nghĩa chúng sinh ở đời quá khứ khéo tu ba nghiệp, ở đời hiện tại chưa vận dụng nghiệp thân nghiệp khẩu, nhưng nhờ thiện căn ở kiếp trước, đó là minh cơ; tuy không hiện thấy linh ứng, nhưng kín đáo làm lợi ích pháp thân, chẳng thấy chẳng nghe, nhưng có hay biết, đó là minh ứng. 2. Minh cơ hiển ứng (cơ ngầm ứng hiện), có nghĩa là chúng sinh đã trồng căn lành ở quá khứ, minh cơ đã thành, được gặp Phật nghe pháp, được lợi ích ở hiện tại. 3. Hiển cơ hiển ứng (cơ rõ ứng rõ), có nghĩa là chúng sinh ở đời hiện tại, thân khẩu ý tinh cần không biếng nhác, cũng có thể cảm được lợi ích. 4. Hiển cơ minh ứng (cơ rõ ứng ngầm), có nghĩa là chúng sinh trong một đời chịu khó, chứa góp nhiều thiện căn ở hiện tại, tuy không cảm rõ, nhưng có lợi ngầm. Sau bốn câu trên đây, Pháp hoa huyền nghĩa lại lập thêm ba mươi sáu câu khác để phân biệt. Cuối cùng, lại đứng về phương diện mười pháp giới mà trình bày rõ ràng về sự sai khác giữa bốn câu. Tổng kết lại, thì cảm của chúng sinh và ứng của chư Phật, có tất cả sáu vạn bốn nghìn tám trăm cơ ứng. [X. Pháp hoa văn cú Q.1 phần trên; Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên; Quan âm huyền nghĩa Q.hạ]. (xt. Tam hập Lục Cú).
Phật Quang Đại Từ Điển
cứu cánh
(究竟) Phạm, Pàli: Uttara. Dịch âm là Uất đa la. Hình dung cái cảnh giới cao đến cùng tột không gì hơn, hoặc sự vật đã đến mức cùng tận triệt để. Nghĩa trước, như đức Phật thị hiện chân lí cùng tột không gì hơn, gọi là Cứu cánh pháp thân - đại Niết bàn hiển bày cái mục đích chung cùng của Phật giáo, gọi là Cứu cánh Niết bàn. Nghĩa sau, như đem tâm nguyện không lùi bước mà thành tựu lời thề nguyền, gọi là Cứu cánh nguyện, đây là lời khen ngợi sức bản nguyện của Phật A di đà. [X. kinh Thắng man chương Nhất thừa - kinh Đại nhật Q.1 phẩm Trụ tâm - luận Thập trụ tì bà sa Q.3].
Phật Quang Đại Từ Điển
Gia trì

Trong Mật giáo, từ “gia trì” có nghĩa là gia hộ. Sức oai thần của Phật và Bồ-tát giúp đỡ cho hành giả tinh tấn tu tập, không bị sa lạc vào nẻo tà. Nhờ sức “ba mật” của Phật nâng đỡ cho “ba nghiệp” của hành giả, làm cho ba mật và ba nghiệp tương ứng nhau, khiến cho hành giả có thể thành tựu đạo quả ngay trong đời hiện tại. Lại nữa, “gia trì” còn có nghĩa là cầu đảo, vì cầu đảo là cầu Phật lực thêm sức cho hành giả vượt khỏi tai nạn, bệnh tật, hoặc giúp trừ khử tà ma, ác quỉ, hoặc giúp tiêu trừ tội chướng cho vong linh. Vì vậy, cầu đảo đôi khi được gọi thẳng là gia trì, hay gia trì kì đảo.

Trích Lục Từ Ngữ Phật Học
thù thắng
(殊勝) Tính cách siêu tuyệt, hiếm có của một sự kiện gọi là Thù thắng. Như trong kinh thường tán thán Tịnh độ cực lạc, vì đức Phật A di đà đã phát 48 đại nguyện độ khắp các chúng sinh, bất cứ ai, hễ có một niệm thiện thì đều được vãng sanh, hóa sinh trong hoa sen, đó thật là một việc hiếm có.
Phật Quang Đại Từ Điển
nỗ lực
(努力) Gắng sức không ngừng, quyết chí thực hiện được mục đích. Con đường giác ngộ diệt trừ khổ não mà đức Phật chỉ dạy có 8 thứ gọi là Bát chính đạo, trong đó Chính tinh tiến tức là nỗ lực vậy. Lại nữa, Phật giáo Đại thừa lập ra 6 Ba la mật(cũng gọi Lục độ)là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ là những đức mục thực tiễn cao nhất của Phật giáo, trong đó tinh tiến (Phạm:Vìrya) tức là nỗ lực, hoặc cũng có nghĩa là siêng năng, có thể thành tựu các thiện hạnh, diệt trừ ác pháp.
Phật Quang Đại Từ Điển
hộ niệm
(護念) Phật, Bồ tát, chư thiên và các vị thiện thần thường nhớ nghĩ và che chở những người tin kính Tam bảo, khiến cho họ không bị các chướng nạn làm hại. Sự nhớ nghĩ che chở của các Ngài như bóng theo hình, không cách rời, làm cho ác quỉ không thể đến gần làm hại, vì thế gọi là Ảnh hộ hộ niệm. Lại nữa, để chứng minh cho giáo pháp do đức Phật nói ra là chân thực, chư Phật và Bồ tát bèn lập thệ nguyện, nếu chúng sinh tin nhận và làm theo giáo pháp này, thì sẽ được lợi ích vô cùng, đó gọi là Chứng thành hộ niệm.
Phật Quang Đại Từ Điển
thánh hiền
(聖賢) Từ gọi chung Thánh nhân và Hiền nhân. Người tu hành Phật đạo, khi đạt đến giai vị Kiến đạo trở lên, gọi là Thánh; còn người chưa đến Kiến đạo, chỉ mới bỏ các điều ác thì gọi là Hiền. Trong luận Câu xá có nêu thuyết Thất hiền, Thất thánh. Thất hiền cũng gọi là Thất gia hạnh, tức là: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ(trên đây là Tam hiền), Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp (trên 0939252565đây là Tứ thiện căn). Thất thánh là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. Còn Đại thừa thì có thuyết Tam hiền, Thập thánh. Tam hiền chỉ do Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng; Thập thánh thì chỉ cho Bồ tát từ Sơ địa đến Thập địa. Tập tự Thánh giáo tự của Vương hi chi. Ngoài ra, Thập bát hữu học và Cửu vô học, được gọi chung là Nhị thập thất hiền thánh, nhưng số này đều là các bậc Thánh, chứ không phân biệt Hiền và Thánh. (xt. Hữu Học, A La Hán, Hiền Thánh).
Phật Quang Đại Từ Điển
phật đạo
(佛道) I. Phật Đạo. Đạo là dịch nghĩa của chữ Phạm bodhi (Hán âm: Bồ đề). Phật đạo là chỉ cho quả Vô thượng bồ đề. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 thượng) nói: Ta thấy hằng sa Bồ tát ở cõi ấy, có nhiều nhân duyên để cầu Phật đạo. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.18]. II. Phật Đạo. Chỉ cho nền đạo mà đức Phật giáo hóa chúng sinh, tức là Phật giáo. III. Phật Đạo. Chỉ cho đường thành Phật, tức là con đường dẫn đến quả Phật Vô thượng. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 (Đại 44, 828 hạ) nói: Đạo có khả năng đưa hành giả đến nơi Niết bàn, vì thế là thông suốt, bởi thông suốt nên gọi là Đạo. (xt. Phật Giáo).
Phật Quang Đại Từ Điển
tâm địa
(心地) Đất tâm. Có 3 nghĩa: 1. Chỉ cho giới: Giới lấy tâm làm gốc, hệt như thế gian lấy đất làm nền, cho nên gọi Giới là Tâm địa. 2. Chỉ cho tâm của 50 giai vị Bồ tát: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng và Thập địa. Vì Bồ tát nương vào tâm mà tu hành nên tâm được ví dụ là đất. 3. Chỉ cho Bồ đềdo Tổ Đạt ma truyền được gọi là Tâm địa. [X. kinh Phạm võng].
Phật Quang Đại Từ Điển
thích ca mâu ni
(釋迦牟尼) Phạm: Zàkya-muni. Pàli: Sakya-muni. Cũng gọi Thích ca văn ni, Xa ca dạ mâu ni, Thích ca mâu nẵng, Thích ca văn. Gọi tắt: Thích ca, Mâu ni, Văn ni. Hán dịch: Năng nhân, Năng nhẫn, Năng tịch, Tịch mặc, Năng mãn, Độ ốc tiêu.Phạm Hán: Thích ca tịch tĩnh, cũng gọi Thích ca mâu ni thế tôn, Thích tôn. Đức Thích tôn ra đời khoảng thế kỉ V trước Tây lịch, sinh trong dòng họ Thích ca, là Thái tử con vua Tịnh phạn (Phạm: Zuddhodana) và Hoàng hậu Ma da (Phạm: Màyà), thành Ca tì la vệ (Phạm:Kapilavastu), thuộc Bắc Ấn độ, được đặt tên là Tất đạt đa (Phạm: Siddhàrtha,Pàli: Siddhattha), cũng gọi Tát bà tất đạt (Phạm: Sarva-siddhàrtha,Pàli:Sabbasiddhattha). Sau khi sinh được 7 ngày thì Hoàng hậu Ma da qua đời, Thái tử được di mẫu (em gáicủaHoàng hậu Ma da)là Ma ha ba xà ba đề (Phạm:Mahàprajàpatti) nuôi nấng nên người. Theo phẩm Tập học kĩ nghệtrong kinh Phật bản hạnh tập quyển 11 và Hữu bộ tì nại da phá tăng sự quyển 3, lúc còn nhỏ, Thái tử theo người Bà la môn tên Tì sa mật đa la (Phạm: Visvamitra,Thể quang giáp) học tập văn chương và theo ông Sằn đề đề bà (Phạm: Kwàntideva,Đồng thần) học tập vũ nghệ, mọi môn đều thông hiểu. Khi lớn lên, Thái tử cưới con gái vua Thiện giác (Phạm: Suprabuddha) ở thành Thiên tí (Phạm: Devadaha) tên là Da du đà la (Phạm: Yazodharà) làm vợ, sinh con là La hầu la (Phạm:Ràhula). Theo phẩm Du quan trong kinh Tu hành bản khởi quyển hạ, một hôm Thái tử đi dạo 4 cửa thành, thấy các người già, người bệnh, người chết và sa môn, Ngài cảm nhận sâu xa nổi thống khổ và vô thường của đời người, từ đó Thái tử đã lập chí xuất gia tu đạo. Năm 29 tuổi (có thuyết nói 19 tuổi), nữa đêm Thái tử ra khỏi cung vua tìm đường giải thoát như vị sa môn mà Thái tử đã thấy ngoài cửa thành. Trước hết, Thái tử đến hỏi đạo nơi đạo sĩ Bạt già đà (Phạm:Bhàrgava) ở nước Tì xá li (Phạm:Vaizàlì), sau đó, Thái tử đến thành Vương xá (Phạm: Rajagfha) thỉnh vấn các đạo sĩ: A la la ca lam (Phạm: Àràđa-kàlàma) và Uất đà ca la ma tử (Phạm: Udraka-ràmaputra). Vì những điều đã học được từ các đạo sĩ trên không thể đưa đến giải thoát nên Thái tử bèn đến rừng Khổ hạnh ở thôn Ưu lâu tần loa (Phạm:Uruvilvà), phía nam thôn Già da (Phạm:Gayà) thuộc nước Ma yết đà (Phạm:Magadha), mở đầu cuộc sống khổ hạnh trong 6 năm. Sau thời gian này, Thái tử nhận ra rằng khổ hạnh không phải là nhân đắc đạo nên từ bỏ, ra khỏi rừng khổ hạnh, đến sông Ni liên thiền (Phạm: Nairaĩjanà) tắm gội, đồng thời tiếp nhận bát cháo sữa do cô gái chăn bò cúng dường. Sau đó, Thái tử đến gốc cây Tất bát la (Phạm:Pippala) ở thôn Già da, trải cỏ cát tường làm tòa kim cương, ngồi kết già xoay mặt về hướng đông, đoan thân chính niệm, tĩnh tâm lặng soi, tư duy về đạo giải thoát. Sau 49 ngày, vào rạng sáng ngày mồng 8 tháng 12, Thái tử hoát nhiên đại ngộ, bấy giờ Thái tử đã 35 tuổi(có thuyết nói 30). Sau khi thành đạo, đức Thích tôn đến vườn Lộc dã (Phạm:Mfgadava) gần thành ba la nại (Phạm:Bàràịasì), nói pháp Tứ đế độ cho 5 vị thị giả cùng tu khổ hạnh với Ngài ở rừng khổ hạnh, nhưng khi thấy Ngài không tu khổ hạnh nữa thì 5 vị bỏ Ngài mà đến vườn Lộc dã này. Đây là lần thuyết pháp đầu tiên của đức Phật mà trong sử gọi là Sơ chuyển pháp luân. Năm vị thị giả này chính là 5 vị tỉ khưu nổi tiếng: A nhã kiều trần như (Phạm:Ajĩatakauịđinya), Bạt đề (Phạm:Bhadrika), Bà sa ba (Phạm: Bàwpa), Ma ha nam (Phạm: Mahànàma) và A thuyết thị (Phạm: Azvajit). Rời vườn Lộc dã, đức Thích tôn đến nước Ma yết đà hóa độ 3 anh em: Ưu lâu tần loa ca diếp (Phạm:Uruvilvà-kàzyapa), Na đề ca diếp (Phạm:Nadi-kàzyada), Già da ca diếp (Phạm:Gaỳa-kàzyada), thuộc giáo phái thờ lửa và 1000 đệ tử của họ. Rồi Ngài lại hóa độ Xá lợi phất (Phạm: Zàriputra) và Mục kiền liên (Pàli: Moggallàna), thuộc 1 trong 6 phái ngoại đạo. Quốc vương thành Vương xá là Tần ba sa la qui y đức Thích tôn. Vua kiến lập tinh xá trong vườn trúc do Trưởng giả Ca lan đà (Phạm:Kalanda) hiến tặng để cúng dường đức Thích tôn. Sau, đức Thích tôn trở về thành Ca tì la vệ, ở đây có nhiều người qui y xuất gia, như Nan đà, La hầu la, Đề bà đạt đa, người thợ hớt tócƯu ba li... Ngài lại độ cho Trưởng giả Tu đạt đa (Phạm: Sudatta) ở thành Xá vệ (Phạm: Zravastì), Trưởng giả tạo lập một đại tinh xá trong khu rừng cây do Thái tử Kì đà (Phạm:Jeta) ở thành Xá vệ tặng để cúng dường đức Thích tôn, làm nơi an trụ và hoằng pháp lâu dài. Vua nước Xá vệ là Ba tư nặc (Phạm: Prasenajit) cũng qui y đức Thích tôn vào thời gian này. Sau khi vua Tịnh phạn băng hà, đức Thích tôn lại trở về cố quốc. Lần này, di mẫu Ba xà ba đề, Da du đà la và một số phụ nữ dòng họ Thích trong hoàng tộc cũng thế phát xuất gia. Sau đó, đức Thích tôn lần lượt thuyết pháp giáo hóa ở nhiều nơi thuộc Ấn độ, bất luận giàu nghèo, sang hèn, nam nữ đều được giáo hóa. Trong khoảng thời gian 44 năm kể từ sau khi đức Thích tôn thành đạo, Ngài đã lần lượt an cư ở những nơi như: Nước Ba la nại, trên núi Linh thứu (Phạm: Gfdhrakùỉa), núi Ma câu la (Phạm: Makula), Trời 33,vườn Cấp cô độc, núi Chá lê... Còn theo kinh Bát đại linh tháp danh hiệu thì đức Thích tôn từng trụ ở rừng Tì sa, núi Nhạ lí, núi Đại dã (Phạm: Aơàvì), tụ lạc Vĩ nỗ... Lại học giả người Anh là T.W.Rhys Davids (1843-1922), căn cứ vào Phật truyện của Tích lan và Miến điện, Pháp cú kinh chú (Dhammapada atthakathà) bằng tiếngPàli..., cho rằng từ khi vườn Cấp cô độc được kiến lập trong rừng cây của Thái tử Kì đà về sau, đức Thích tôn từng trụ ở Đại lâm (Pàli:Mahà-vana) gần thành Tì xá li, núi Ma câu la, Tăng ca xá (Pàli:Saíkìssa), Ba lợi lôi tạp ca (Pàli: Prrileyyaka), Mạn đặc lạt (Pàli: Mantala)... Trong một năm cuối cùng còn tại thế của đức Thích tôn, Ngài rời nước Ma yết đà, vượt qua sông Hằng đi về phía bắc, qua Tì xá li, đến thành Ba bà (Phạm:Pàvà), nhận sự cúng dường lần cuối cùng của người thợ kim hoàn tên là Thuần đà (Phạm: Cunda). Sau đó, đức Thích tôn xuống sông Câu tôn (Pàli:Kakuỉỉhà) tắm gội lần sau cùng, rồi Ngài lại đi đến thành Câu thi na yết la (Phạm:Kuzinagara), tới rừng cây Sa la song thụ, nằm theo dáng cát tường, đầu hướng về phía bắc. Nửa đêm, đức Thích tôn răn dạy các đệ tử lần cuối cùng, sau đó Ngài an nhiên nhập tịch. Di thể đức Thích tôn ban đầu được đặt ở chùa Thiên quan (Phạm: Makuỉaban= dhana-cetiya) của dòng họ Mạt la (Phạm, Pàli:Malla) và được hỏa táng. Nhưng do vấn đề phân phối di cốt, 8 nước là Câu thi na yết la, Ba bà, Già la, La ma già, Tì lưu đề, Ca tì la, Tì xá li và Ma yết đà khởi tranh chấp. Sau nhờ Bà la môn Hương tính (Pàli:Doịa) đứng ra dàn xếp mới được ổn thỏa, theo đó 8 nước được chia di cốt đều nhau, còn Bà la môn Hương tính thì được chiếc bình dùng để chia xá lợi, còn những người ở thôn Tất bát (Phạm: Pipphalivana) vì đến chậm nên chỉ được phần tro. Các nước đều xây tháp cúng dường, đó là nguồn gốccủa10 ngôi tháp hiện nay. Ngay trong năm đức Thích tôn nhập diệt, cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất được cử hành ở hang Thất diệp gần thành Vương xá. Ngài Đại ca diếp (Phạm: Mahàkàzyapa) làm chủ tọa, ngài A nan (Phạm:Ànanda) tụng lại kinh, ngài Ưu ba li (Phạm:Upàli) tụng lại luật; sau đó, đại chúng thảo luận, kiểm xét, sửa chữa mà thành là chuẩn tắc cho kinh luật đời sau. Từ đó về sau, trải qua nhiều biến thiên, giáo pháp của đức Thích tôn bèn chia làm 2 hệ thống là hệ thống Nam truyền lấy tiếng Pàli làm chính và hệ thống Bắc truyền lấy kinh điển Hán dịch làm chính. Cả 2 hệ thống đều được truyền bá rộng rãi ở đời sau.Năm tháng xác thực về đản sinh, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân lần đầu, tuổi thọ, nhập diệt... của đức Thích tôn trong các kinh điển có nhiều thuyết khác nhau. Về tuổi thọ của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Phẩm Thế đẳng trong kinh Bồ tát xử thai cho rằng Ngài thọ 84 tuổi. 2. Kinh Bát nê hoàn quyển hạ nói Ngài thọ 79 tuổi. 3. Phẩm Thọ lượng trong kinh Kim quang minh quyển 1, kinh Bát đại linh tháp danh hiệu, kinh Đại bát niết bàn (Mahàparinibbàna-sutta) bằng tiếng Pàli và truyền thuyết của Miến điện cho rằng Ngài thọ 80 tuổi. 4. Luận Đại tì bà sa quyển 126 nói Ngài thọ hơn 80 tuổi. Về niên đại đản sinh của đức Thích tôn thì giữa các học giả hiện đại cũng có nhiều suy đoán. Học giả Phật giáo Nhật bản là ông Vũ tỉnh Bá thọ cho rằng năm 466 trước Tây lịch là năm Phật đản; ông Trung thôn nguyên y cứ vào thuyết này, sau dùng các sử liệu Hi lạp mới được phát hiện để khảo chứng rồi sửa lại là năm 463 trước Tây lịch. Về ngày tháng đản sinh của đức Thích tôn thìcó các thuyết sau đây: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4, kinh Quá khứ hiện tại quyển 1, kinh Phật bản hạnh tập quyển 7 và Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 2 cho rằng đức Thích tôn đản sinh vào ngày 8 tháng 2. . Phẩm Bồ tát giáng thân trong kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, cho là ngày mồng 7 tháng 4, hoặc ngày mồng 8 tháng 4. 3. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng, kinh Dị xuất bồ tát bản khởi, phẩm Sinh trong Phật sở hành tán quyển 1, kinh Thập nhị du và kinh Quán tẩy Phật hình tượng... đều cho là ngày mồng 8 tháng 4. 4. ĐiềuKiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6 cho là ngày mồng 8 của nửa sau tháng Vệ tắc (Pàli: Vesàkhà), tương đương với ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch Trung quốc. 5. Thượng tọa bộ cho rằng đức Thích tôn đản sinh vào ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc, tức ngày trăng tròn, tương đương với ngày 15 tháng 3 âm lịch Trung quốc. Về ngày tháng xuất gia của đức Thích tôn có các thuyết sau đây: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4 cho là ngày mồng 8 tháng 2. 2. Kinh Quá khứ hiện tại quyển 2 cho là ngày mồng 7 tháng 2. 3. Phẩm Xuất giakinhTu hành bản khởi quyển hạ cho là ngày mồng 7 tháng 4. 4. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng và kinh Quán tẩy Phật hình tượng cho là ngày mồng 8 tháng 4. 5. Kinh Phật truyện bản sinh tiếngPàli cho là ngày 15 A sa trà (Pàli:Asàơhà). Về ngày tháng thành đạo của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3 và Tát bàđa tì ni tì bà sa quyển 2 đều cho rằng đức Thích tôn thành đạo vào ngày mồng 8 tháng 2. 2. Đại sử (Mahàvaôsa) tiếngPàli cho là ngày trăng tròn tháng Vệ tắc. 3. Đại đường tây vực kí quyển 8 cho là ngày mồng 8 của nửa tháng sau tháng Vệ tắc.4. Thượng tọa bộ cho là ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc. Về ngày tháng chuyển pháp luân lần đầu của đức Thích tôn có các thuyết sau: 1. Kinh Trường a hàm quyển 4 cho rằng đức Thích tôn chuyển pháp luân lần đầu vào ngày mồng 8 tháng 2. 2. Kinh Đại bát niết bàn quyển 1 và Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1 đều cho là ngày 15 tháng 2. 3. Bài tựa trong Nhất thiết thiện kiến luật (Samantapàsàdikà) bằng tiếngPàli, Luật tạng (Vinaya-piỉaka) tiếngPàli, Đại sử chương 3, điều Câu thi na yết la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6, đều cho là ngày 15 của nửa sau tháng Vệ tắc.4. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 2 cho là ngày mồng 8 tháng 8. 5. Luận Đại tì bà sa quyển 191 cho là ngày mồng 8 của nửa sau tháng Ca lạt để ca. 6. Kinh Quán tẩy Phật hình tượng cho là ngày mồng 8 tháng 4. Sau hết, về niên đại nhập diệt của đức Thích tôn cũng có nhiều thuyết khác nhau. Ông Vũ tỉnh bá thọ người Nhật chủ trương năm 386 trước Tây lịch, ông Trung thôn nguyên chủ trương 383 trước Tây lịch; còn ngàiẤn thuận của Trung quốc thì chủ trương năm 390 trước Tây lịch. Tóm lại, tổng hợp các điểm trình bày trên, về ngày tháng đức Thích tôn đản sinh, xuất gia, thành đạo có thể chia làm 3 thuyết: 1. Mồng 8 tháng 2. 2. Mồng 8 tháng 4. 3. Ngày 15 tháng 2. Về ngày tháng nhập diệt cũng chia làm 3 thuyết: 1. Mồng 8 tháng 2. 2. Ngày 15 tháng 2. 3. Mồng 8 tháng 8. Ngoài ra, luận Nhị giáo của ngài Đạo an đời Bắc Chu, Câu xá luận bảo sớ quyển 1...so sánh nguyệt phần giữa lịch Ấn độ và âm lịch Trung quốc cho rằng tháng 2 của Ấn độ tương đương với tháng 4 của Trung quốc; ngày mồng 1 mỗi tháng của lịch Ấn độ tương đương với ngày 16 của âm lịch Trung quốc, ngày cuối tháng tương đương với ngày 15 tháng kế của lịch Trung quốc, nửa tháng trước gọi là phần đen, nữa tháng sau gọi là phần trắng. (xt. Phật TruyệnĐiển Tịch, Phật Diệt Niên Đại, Lịch).
Phật Quang Đại Từ Điển
tập khí
(習氣) Phạm,Pàli:Vàsanà. Cũng gọi Phiền não tập, Dư tập, Tàn khí. Gọi tắt: Tập. Do tư tưởng, hành vi(đặc biệt là phiền não) của người ta dấy sinh hằng ngày, rồi huân tập(xông ướp, tập tành) thành những thói quen, hơi hướng sót lại, rớt lại trong tâm người ta, gọi là Tập khí, giống như để hương trong hộp, khi lấy hương ra rồi mà trong hộp vẫn còn mùi thơm. Nói cách nôm na là tất cả ý nghĩa và việc làm của chúng ta đều để lại trong ta những kinh nghiệm và thói quen, đó chính là Tập khí. Trong Phật giáo, từ Tập khí được dùng để ví dụ tuy đã diệt trừ chính thể của phiền não, nhưng vẫn còn hơi hướng của thói quen rớt lại và rất khó diệt trừ. Trong kinh Phật có ghi chép nhiều trường hợp, chẳng hạn như thói quen dâm dục của ngài Nan đà khi còn ở tại gia, thói quen nổi giận của ngài Xá lợi phất và ngài Ma ha ca diếp, thói quen kiêu căng của ngài Tì lăng già bà bạt, thói quen nhún nhảy chơi đùa của ngài Ma đầu bà tư tra, thói quen nhai suốt ngày như trâu của ngài Kiều phạm bát đề... đều là Tập khí; chỉ có đức Phật mới vĩnh viễn đoạn trừ cả chính thể và tập khí của phiền não.Tông Duy thức cho Tập khí là tên khác của chủng tử(hạt giống), là phần khí được huân tập bởi hiện hành, có năng lực sinh ra tư tưởng, hành vi và tất cả các pháp hữu vi được chứa đựng trong thức A lại da. Tập khí lại được chia làm 3 loại là: 1. Danh ngôn tập khí: Chỉ cho các chủng tử nương vào danh ngôn(biểu tượng của lời nói) mà được huân tập thành, là nguyên nhân trực tiếp, làm cho tất cả các pháp hữu vi đều tự sinh. Cũng tức là các chủng tử do khái niệm về danh tướng được huân tập trong thức A lại da mà hình thành. 2. Ngã chấp tập khí: Tập khí(chủng tử)nương vào ngã chấp mà được huân tập thành. Cũng tức là các chủng tử do ngã kiến được huân tập trong thức A lại da mà thành. 3. Hữu chi tập khí: Những chủng tử nghiệp thiện ác do nhân của Tam hữu (sự sống còn trong 3 cõi) huân tập thành. Ngoài ra, khí phần do các thiện căn tích tập được cũng gọi là Tập khí. Như phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nói: Bồ tát Đệ thập địa có 10 loại Tập khí: Tập khí Bồ đề tâm (cũng gọi Bản khí), tập khí Thiện căn(cũng gọi Thành hành khí), tập khí Giáo hóa chúng sinh(hạ hóa), tập khí Kiến Phật(thượng kiến), tập khí Ư thanh tịnh độ thụ sinh (thụ sinh), tập khí Bồ tát hạnh(đại hạnh), tập khí Đại nguyện(thập nguyện), tập khí Ba la mật(thập độ), tập khí Xuất sinh bình đẳng pháp(lí trí) và tập khí Chủng chủng phân biệt cảnh giới(lượng tri). Mười loại tập khí này đều vì áp phục và đoạn trừ các phiền não mà tích lũy, huân tập khí phần các thiện hạnh, nên gọi là Tập khí. [X. luận Đại trí độ Q.27; luận Du già sư địa Q.52; luận Thành duy thức Q.8; Thập địa kinh luận Q.11; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Hoa nghiêm kinh sớ Q.53]. (xt. Chủng Tử).
Phật Quang Đại Từ Điển
Huệ Năng

Tức Tuệ Năng (xem mục “Tuệ Năng”).

Trích Lục Từ Ngữ Phật Học
thiện tri thức
(善知識) Phạm: Kalyàịamitra. Pàli:Kalyàịa-mitta. Hán âm: Ca la mật, Ca lí dã nẵng mật đát la. Cũng gọi Tri thức, Thiện hữu, Thân hữu, Thắng hữu, Thiện thân hữu. Bạn lành, tức chỉ cho người chính trực, có đức hạnh, có năng lực dẫn dắt người khác hướng về chính đạo. Trái lại, người bạn dắt dẫn ta đi vào tà đạo thì gọi là Ác hữu.Cứ theo phẩm Thường đề trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27 thì người có khả năng nói các pháp không, vô tướng, vô tác, vô sinh, vô diệt và Nhất thiết chủng trí, khiến người nghe vui vẻ tin ưa, gọi là Thiện tri thức. Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm ghi rằng trong quá trình cầu đạo, đồng tử Thiện tài đã tham phỏng 55 vị Thiện tri thức(thông thường nói chỉ có 53 vị Thiện tri thức), tức trên từ chư Phật, Bồ tát, dưới đến người, trời... bất luận xuất hiện dưới hình thức nào, hễ có năng lực dắt dẫn chúng sinh đi theo con đường bỏ ác, tu thiện để bước vào đạo Phật, thì đều có thể được gọi là Thiện tri thức. Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì trích dẫn luận Du già sư địa nêu lên 10 thứ công đức của Thiện tri thức là: Điều phục, tịch tĩnh, trừ hoặc, tăng đức, dũng mãnh, kinh phú, giác chân, thiện thuyết, bi thâm và li thoái. Lại theo Luật Tứ phần quyển 41 thì Thiện thân hữu phải có đủ 7 điều kiện là: Cho được cái khó cho, làm được việc khó làm, nhẫn được điều khó nhẫn, đem việc kín bảo cho nhau biết, khuyên nhau không che giấu điều lỗi, gặp khổ nạn không bỏ nhau và nghèo hèn không khinh nhau, gọi là Thiện hữu thất sự(bảy việc của người bạn lành). Trong kinh luận có nêu các loại Thiện tri thức khác nhau, cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 4 hạ của ngài Trí khải thì có 3 loại Thiện tri thức dưới đây: 1. Ngoại hộ: Giúp đỡ ở bên ngoài để bạn được an ổn tu đạo. 2. Đồng hành: Cùng nhau hành động, khích lệ lẫn nhau. 3. Giáo thụ: Nói pháp khéo léo. Theo Câu xá luận tụng sớ quyển 29 của ngài Viên huy thì người bạn cho pháp là Thượng thân hữu, người cho của và pháp là Trung thân hữu, còn người chỉ cho của không thôi thì là Hạ thân hữu; trên đây gọi là Tam hữu. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 cũng nêu ra 3 loại Thiện tri thức là Nhận, Pháp và Nhân pháp hợp biện.Cứ theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 36 (bản dịch cũ) thì có 10 loại Thiện tri thức đó là: 1. Thiện tri thức thường giúp đỡ bạn an trụ nơi tâm bồ đề. 2. Thiện tri thức có năng lực khiến bạn tu tập các căn lành. 3. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu cácBa la mật một cách rốt ráo. 4. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn phân biệt giảng nói tất cả pháp. 5. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ và thành thục tất cả chúng sinh. 6. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn có đủ biện tài giải đáp được các nghi vấn. 7. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn không bám níu tất cả sinh tử. 8. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu hạnh Bồ tát trong tất cả kiếp mà tâm không chán mỏi. 9. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ nơi hạnh Phổ hiền. 10. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tiến sâu vào tất cả trí của Phật. [X.kinh Tạp a hàm Q.27, 36, 45; kinh Tức vị tỉ khưu thuyết trong Trung a hàm Q.10; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; phẩm Thiện tri thức trong kinh Tăng nhất a hàm Q.11; kinh Thi a la việt lục phương lễ; kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Nam); phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa Q.7; luận Đại trí độ Q.71, 96]. (xt. TriThức).
Phật Quang Đại Từ Điển
niệm phật
(念佛) Phạm: Buddhànusmfti. Pàli:Buddhànussati. Trong tâm nhớ nghĩ về Pháp thân của Phật(lí niệm Phật), quán tưởng thân tướng cụ thể của Phật, hoặc quán tưởng công đức của Phật, cho đến miệng xưng niệm danh hiệu của Phật... đều gọi là niệm Phật, là 1 trong những phương pháp tu hành cơ bản của Phật giáo. Trong đó, niệm Phật theo lí pháp, gọi là Pháp thân niệm Phật; trong tâm nhờ nghĩ về công đức và thân tướng của Phật, gọi là Quán tưởng niệm Phật; còn miệng xưng niệm danh hiệu Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. Tiểu thừa chỉ niệm Phật Thích ca mâu ni, Đại thừa thì chủ trương trong 10 phương 3 đời có vô số Phật, cho nên danh hiệu Phật được niệm cũng rất nhiều. Nhưng thông thường thì niệm Phật A súc, Phật Dược sư,Phật Di lặc, Đại nhật Như lai, Phật A di đà v.v...Trong đó, đối tượng chính là Phật A di đà, cho nên niệm Phật A di đà được xem như niệm tất cả chư Phật. Trong các kinh A hàm, niệm Phật tức là bày tỏ lòng qui kính, lễ bái, tán thán, nhớ nghĩ đối với đức Phật Thích ca mâu ni. Nhờ công đức niệm Phật mà diệt trừ tham sân si, được sinh lên cõi trời, được chứng nhập Niết bàn. Trong các kinh Đại thừa như: Bát chu tam muội, Đại A di đà quyển hạ, phẩm Hiền thủ trong kinh Hoa nghiêm quyển 7 (bản dịch cũ)... đều có lập pháp môn Niệm Phật Tam Muội, tức buộc tâm vào danh hiệu của 1 đức Phật, quán tưởng 32 tướng hảo của Phật, cứ như thế niệm niệm nối nhau không dứt, thì có thể ở trong định thấy được Phật, cũng được sinh về cõi Phật. Tại Trung quốc, đối với việc niệm Phật, các sư nêu ra nhiều thuyết: 1. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 7, ngài Hoài cảm nêu ra 2 loại Niệm Phật tam muội là Hữu tướng niệm Phật tam muội và Vô tướng niệm Phật Tam muội, cho rằng: Nếu muốn được Vô tướng niệm Phật tam muội thì phải niệm Pháp thân Phật, còn muốn được Hữu tướng niệm Phật tam muội thì niệm Báo thân Phật và Hóa thân Phật. 2. Trong Ngũ phương tiện niệm Phật môn, ngài Trí khải nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn: Lúc hành giả niệm Phật thì phải khởi tâm muốn sinh về Tịnh độ. b) Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật phóng ra ánh sáng, ánh sáng ấy chiếu soi tất cả tội chướng, khiến đều tiêu diệt. c) Chư cảnh duy tâm niệm Phật tam muội môn: Đức Phật mà hành giả quán tưởng là từ nơi tự tâm hành giả mà ra, chứ không có cảnh giới nào khác. d) Tâm cảnh câu li niệm Phật tam muội môn: Chính cái tâm quán tưởng của hành giả cũng là không, chẳng có tự tướng. e) Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn: Hành giả tiến vào thiền định sâu xa, lặng bặt, buông bỏ tất cả tâm thức, ý thức, được chư Phật 10 phương gia bị, hộ niệm, nhờ đó, cửa trí tuệ mở ra, tự tại vô ngại, thành tựu công đức viên mãn. 3. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 56, ngài Trừng quán cũng nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Duyên cảnh niệm Phật môn: Duyên theo cảnh mà niệm Phật. b) Nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn: Thu nhiếp cảnh vào tâm... c) Tâm cảnh câu mẫn niệm Phật môn: Tâm và cảnh đều bặt... d) Tâm cảnh vô ngại niệm Phật môn: Tâm và cảnh không ngăn ngại nhau. e) Trùng trùng vô tận niệm Phật môn: Lớp này lớp khác, lớp lớp vô tận. 4. Trong Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm biệt hành sớ sao quyển 4, ngài Tông mật nêu ra 4 loại niệm Phật: a) Xưng danh niệm: Chuyên tâm xưng niệm danh hiệu của Phật. b) Quán tượng niệm: Quán niệm tượng Phật. c) Quán tưởng niệm: Quán tưởng thân tướng tốt đẹp của Phật. d) Thực tướng niệm: Quán xét tướng chân thực của mình và tất cả các pháp. 5. Trong luận Niệm Phật tam muội bảo vương, ngài Phi tích nêu ra 3 pháp niệm Phật: a) Niệm hiện tại Phật: Chuyên chú vào 1 cảnh mà viên thông 3 đời. b) Niệm quá khứ Phật: Biết Phật và chúng sinh mê ngộ khác nhau, nhưng nhân quả của Phật và chúng sinh thì giống nhau. c) Niệm vị lai Phật: Nghĩ tất cả chúng sinh đều bình đẳng, đều là Phật vị lai. Ngoài ra, Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh Viên thông sớ quyển 5 của ngài Truyền đăng và Ngẫu ích tông luận quyển 7 của ngài Trí húc, nêu ra 3 loại Niệm Phật: a) Niệm tha Phật: Niệm cảnh công đức trang nghiêm của Phật A di đà, hoặc niệm tướng hảo của Ngài, hoặc niệm pháp môn, thực tướng của Ngài. Đây là pháp môn tu hành của ngài Tuệ viễn và các sư ở Lô sơn. b) Niệm tự Phật: Quán xét cái tâm 1 niệm hiện tiền không có thể tính, lìa các lỗi lầm, đầy đủ trăm giới và mọi tính tướng, cùng với chư Phật 3 đời bình đẳng không 2, nếu quán xét rõ ràng đến được nhất tâm bất loạn, thì Tam muội liền thành, hoát nhiên phá trừ vô minh, vào cảnh minh tâm kiến tính. Đây là pháp môn tu hành của các sư thuộc Thiền tông và tông Thiên thai. c) Tự tha câu niệm: Tâm quán xét cùng với Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác; biết rõ chúng sinh là chúng sinh trong tâm của chư Phật, mà chư Phật tức là chư Phật trong tâm của chúng sinh, cả 2 cảm ứng đạo giao, tự tha không cách nhau. Đây là pháp môn tu trì của các ngài Vĩnh minh, Diên thọ và Sở thạch Phạm kì. Vãng sinh yếu tập quyển hạ, phần cuối của ngài Nguyên tín, người Nhật, thì chia pháp môn niệm Phật làm 3 loại: a) Tầm thường niệm Phật: Niệm Phật hằng ngày. b) Biệt thời niệm Phật: Niệm Phật có thời gian và nơi chốn nhất định. c) Lâm chung niệm Phật: Niệm Phật lúc hấp hối mong được Phật đến đón. Ngoài ra, nhiều người kết đoàn với nhau cùng tu pháp môn niệm Phật, gọi là Niệm Phật hội, Niệm Phật giảng, Kết xã niệm Phật. Ngôi nhà dùng làm nơi tu hành niệm Phật, gọi là Niệm Phật đường. Niệm Phật liên tục gọi là Bất đoạn niệm Phật, Thường niệm Phật; tĩnh tâm niệm Phật gọi là Định tâm niệm Phật; thời khóa niệm Phật hằng ngày gọi là Nhật khóa niệm Phật... Còn có các pháp môn niệm Phật như: Nhiếp tâm niệm Phật, Sổ tức niệm Phật, Tham cứu niệm Phật, Khán thoại niệm Phật, Thích ca niệm Phật, Quan âm niệm Phật, Dược sư niệm Phật, Di lặc niệm Phật v.v... Tóm lại, ý nghĩa đích thực của việc niệm Phật là từ nơi miệng niệm Phật tiến vào niệm Phật trong tâm, niệm niệm không quên, cũng tức niệm này là Phật, thì niệm niệm thành Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Trì trai trong Trung a hàm Q.55; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; kinh Na tiên tỉ khưu; phẩm Niệm Phật trong kinh Phật tạng Q.thượng; luận Đại trí độ Q.21; luận Nhiếp đại thừa Q.hạ; phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5; phẩm Niệm Phật Q.9; luận Phân biệt công đức Q.2; Quán niệm pháp môn; Tư duy lược yếu pháp]. (xt. Ngũ Hội Niệm Phật, Thiên Thai Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền Tông).
Phật Quang Đại Từ Điển
tội nghiệp
(罪業) Phạm: Nigha. Chỉ cho tội ác do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra. Cứ theo kinh Đạibátniết bàn quyển 20 (bản Bắc) thì tội ác do tất cả chúng sinh tạo ra có 2 thứ: Một là nhẹ, hai là nặng; các tội do tâm và miệng tạo ra thuộc về tội nhẹ, các tội do thân, miệng và tâm tạo ra thuộc về tội nặng. (xt. TộiÁc).
Phật Quang Đại Từ Điển
Chúng sanh
(s: sattva, p: satta, 眾生): là từ gọi chung cho các vật thể có sự sống, cho tất cả sinh vật hữu tình của thế gian và xuất thế gian. Tuy nhiên, phần lớn người ta thường phân biệt và xem hạng phàm phu là chúng sanh, còn các bậc Thánh như Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, La Hán, v.v., thì không phải là chúng sanh.
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
hoằng thệ
(弘誓) Phạm: Mahàsarnàha-Sannaddha. Cũng gọi Hoằng thệ nguyện, Đại thệ trang nghiêm. Thệ nguyện rộng lớn bao trùm khắp cả chúng sinh. Nguyên nghĩa của tiếng Phạm là mặc giáp lớn , tức là lập thệ nguyện rộng lớn cứu độ chúng sinh để thành tựu Vô thượng bồ đề. Đây chỉ cho nguyện chung của hàng Bồ tát. Nguyện này rộng lớn bền chắc, nên dùng giáp trụ để ví dụ, gọi là giáp hoằng thệ . Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 trung), nói: … Vì chúng sinh nên mặc giáp hoằng thệ, tích lũy công đức, độ thoát tất cả . Nói chung thì chư Phật và Bồ tát đều có 4 thệ nguyện rộng lớn. Ngoài 4 nguyện này, mỗi vị Phật, Bồ tát còn có nguyện riêng, như bồ tát Pháp tạng (tên của đức Phật A di đà khi chưa thành Phật) có 48 nguyện, bồ tát Di lặc phụng hành 10 nguyện lành...Tịnh độ Chân tông Nhật bản lấy nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà làm Bản hoằng thệ nguyện (Bản nguyện, Hoằng nguyện, Thệ nguyện, Hoằng thệ) và lấy giáo nghĩa hoằng nguyện này làm pháp chân thực, vì thế Tịnh độ Chân tông Nhật bản còn được gọi là Hoằng nguyện chân tông . Hoằng thệ này không thể nghĩ bàn nên gọi là Nan tư hoằng thệ. Nan tư hoằng thệ này là sức thệ nguyện rộng lớn của đức Phật A di đà, là tăng thượng duyên cho chúng sinh được vãng sinh Tịnh độ, cho nên gọi là Hoằng nguyện cường duyên. Nghĩa là bản nguyện hoằng thệ của đức Phật A di đà là nhân duyên thù thắng giúp chúng sinh vãng sinh. Hoằng thệ ấy có khả năng chuyên chở chúng sinh vượt qua biển sinh tử để đến Tịnh độ, cho nên dùng thuyền để ví dụ gọi là Hoằng thệ thuyền, cũng gọi Đại nguyện thuyền. Luận Tịnh độ quyển hạ của ngài Ca tài (Đại 47, 102 thượng), nói: Đức Phật A di đà vận dụng mái chèo từ bi, lái con thuyền đại nguyện chuyên chở tất cả chúng sinh ra khỏi biển sinh tử khổ não . Hoằng thệ còn được ví với biển cả mà gọi là Hoằng thệ hải. Biển hoằng thệ sâu rộng có thể bao dung tất cả, vô luận chúng sinh thiện hay ác đều có thể vượt qua. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.1; phẩm Hư không tạng bồ tát trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.17; phẩm Vấn tăng na trong kinh Phóng quang bát nhã Q.3; Vãng sinh yếu tập Q.3]. (xt. Tứ Hoằng Thệ Nguyện, Yếu Môn).
Phật Quang Đại Từ Điển
cơ duyên
(機緣) Cơ, căn cơ - Duyên, nhân duyên. Căn cơ của chúng sinh có đủ nhân duyên để tiếp nhận sự giáo hóa của Phật và Bồ tát, gọi là Cơ duyên. Việc nói pháp giáo hóa đều lấy cơ căn chín mùi làm duyên mà phát khởi. Ngoài ra, các Thiền sư khi dạy đệ tử, rất nhấn mạnh ở điểm thuận ứng các cơ duyên mà ban bố giáo pháp. Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục (Đại 47,500 trung), nói: Ông xem lông mày có bao nhiêu sợi là có bấy nhiêu cơ duyên, nếu người học không hiểu, thì đó là kẻ cuồng tâm. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1 - kinh Lục tổ đàn phẩm Cơ duyên - Pháp hoa huyền nghĩa Q.6 phần trên].
Phật Quang Đại Từ Điển
ngoại duyên
(外緣) Đối lại: Nội nhân. Duyên từ bên ngoài có năng lực giúp cho sự vật sinh thành và biến hóa. Tức là sự ảnh hưởng gián tiếp của 1 pháp này đối với 1 pháp khác. Là tăng thượng duyên trong 4 duyên. Ảnh hưởng duyên này được chia làm 2 loại: 1. Dữ lực tăng thượng duyên: Có công năng thúc đẩy pháp khác sinh ra. 2. Bất chướng tăng thượng duyên: Không cản trở pháp khác sinh khởi. Vì muôn vật đều có sức ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên không 1 pháp nào mà không có công năng của Tăng thượng duyên. Nhưng các pháp phải đợi khi nào nội nhân và ngoại duyên hòa hợp lẫn nhau mới hình thành được. Chẳng hạn như việc thụ sinh trong cõi người, phải lấy nghiệp thức của chính mình làm nội nhân và tinh cha huyết mẹ làm ngoại duyên, do sự hòa hợp của các nhân duyên ấy mới thụ sinh được. Cũng như công đức lợi tha của Phật chính là ngoại duyên giúp chúng sinh thành Phật, nhưng chúng sinh phải lấy Như lai tạng của bản thân làm nội nhân để chứng đắc bồ đề, nhờ những nhân duyên ấy hòa hợp thì mới khế cơ thành Phật được. Ngoài ra, theo luận Đại thừa khởi tín thì Tăng thượng duyên còn được chia ra làm 2 loại là Sai biệt duyên và Bình đẳng duyên. [X. luận Đại tì bà sa Q.21, 127; luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.8 phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu].
Phật Quang Đại Từ Điển
Sanh tử
(生死): vấn đề sanh tử (sống chết) được xem như vô cùng trọng đại đối với con người. Phật Giáo chia sanh tử của chúng sanh làm 2 loại: Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dị Sanh Tử (變異生死). Phần Đoạn Sanh Tử, còn gọi là Phần Đoạn Tử (分段死), Hữu Vi Sanh Tử (有爲生死), đối xưng với Biến Dị Sanh Tử, tức chỉ chúng sanh mỗi đời quả báo chiêu cảm không giống nhau, cho nên hình tướng, thọ mạng cũng khác nhau; đó được gọi là Phần Đoạn Thân (分段身). Sau khi thọ thân này, tất phải có một lần kết thúc sinh mạng, vì vậy có tên là Phần Đoạn Sanh Tử. Biến Dị Sanh Tử, hay Vô Vi Sanh Tử (無為生死), Bất Tư Nghì Biến Dị Tử (不思議變易死), Biến Dị Tử (變易死), tức chỉ sự sanh tử của các bậc thánh trong Ba Thừa như A La Hán (阿羅漢), Bích Chi Phật (辟支佛), Bồ Tát (菩薩), v.v., do vì bi nguyện cứu độ chúng sanh mà trở lại cõi đời này. Trong kinh điển Phật Giáo có rất nhiều ví dụ về sanh tử. Như Câu Xá Luận (俱舍論) ví sanh tử như bùn: “Sanh tử nê giả, do bỉ sanh tử, thị chư chúng sanh trầm nịch xứ cố, nan khả xuất cố, sở dĩ thí nê (生死泥者、由彼生死、是諸眾生沉溺處故、難可出故、所以譬泥, bùn sanh tử là do sanh tử ấy, là nơi chúng sanh bị chìm đắm, khó có thể ra được, vì vậy mới ví như bùn).” Thành Duy Thức Luận (成唯識論) thì ví như đêm dài: “Vị đắc chơn giác, hằng xử mộng trung, cố Phật thuyết vi sanh tử trường dạ (未得眞覺、恆處夢中、故佛說爲生死長夜, chưa được chánh giác, thường ở trong mộng, cho nên Phật dạy sanh tử là đêm dài).” Trong Phật Sở Hành Tán (佛所行讚) lại cho sanh tử là biển cả: “Đương thừa trí tuệ chu, siêu độ sanh tử hải (當乘智慧舟、超度生死海, phải lên thuyền trí tuệ, vượt qua biển sanh tử).” Hay Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) thì xem sanh tử như là đám mây mù: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Trong khi đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論) ví sanh tử là bánh xe: “Sanh tử luân tải nhân, chư phiền não kiết sử, đại lực tự tại chuyển, vô nhân năng cấm chỉ (生死輪載人、諸煩惱結使、大力自在轉、無人能禁止, xe sanh tử chở người, các phiền não kiết sử, lực lớn tùy ý chuyển, chẳng ai ngăn cấm được).” Hoặc Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) lại ví dụ sanh tử là khu vườn: “Thị ứng hóa thân, hồi nhập sanh tử viên, phiền não lâm trung du hí thần thông (示應化身,迴入生死園、煩惱林中遊戲神通, hiện thân ứng hóa, trở lại vào vườn sanh tử, thần thông rong chơi trong rừng phiền não).” Tại bảo tháp của Tổ Giác Tiên (覺先, 1880-1936), người khai sơn Chùa Trúc Lâm tại Huế và cũng là vị sáng lập Hội An Nam Phật Học Trung Việt, có câu đối: “Tàng bách niên sanh tử, quy nhất lộ Niết Bàn (藏百年生死、歸一路涅槃, ẩn trăm năm sống chết, về một đường Niết Bàn).” Tại Lâm Dương Tự (林陽寺) thuộc Phúc Châu (福州) có câu đối rằng: “Chúc khứ phạn lai mạc bả quang âm già diện mục, chung minh bảng hưởng thường tương sanh tử quải tâm đầu (粥去飯來莫把光陰遮面目、鐘鳴板響常將生死掛心頭, cháo đi cơm đến chớ để tháng ngày chơ mặt mũi, chuông ngân bảng vọng thường đem sanh tử mang trong tâm).” Thiền Sư Giới Không (界空, ?-?) của Việt Nam có một bài thơ về sanh tử rằng: “Ngã hữu nhất sự kỳ đặc, phi thanh huỳnh xích bạch hắc, thiên hạ tại gia xuất gia, thân sanh ố tử vi tặc, bất tri sanh tử dị lộ, sanh tử chỉ thị thất đắc, nhược ngôn sanh tử dị đồ, trám khước Thích Ca Di Lặc, nhược tri sanh tử sanh tử, phương hội lão tăng xứ nặc, nhữ đẳng hậu học môn nhân, mạc nhận bàn tinh quỹ tắc (我有一事希特、非青黃赤白黑、天下在家出家、親生惡死爲賊、不知生死異路、生死衹爲失得、若言生死異塗、賺卻釋迦彌勒、若知生死生死、方會老僧處匿、汝等後學門人、莫認盤星軌則, ta có một việc kỳ đặc, chẳng xanh vàng đỏ trắng hắc, trên đời tại gia xuất gia, thích sống ghét chết là giặc, chẳng biết sống chết hai nẻo, sống chết chỉ là được mất, nếu bảo sống chết khác đường, lừa cả Thích Ca Di Lặc, nếu biết sống chết sống chết, mới biết lão tăng chốn nào, các người môn nhân hậu học, chớ lầm khuôn mẫu phép tắc).” Hay Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) cũng có nhận định về sanh tử như sau: “Tâm chi sanh hề sanh tử sanh, tâm chi diệt hề sanh tử diệt, sanh tử nguyên lai tự tánh không, thử huyễn hóa thân diệc đương diệt (心之生兮生死生、心之滅兮生死滅、生死元來自性空、此幻化身亦當滅, tâm mà sanh chừ sống chết sanh, tâm mà diệt chừ sống chết diệt, sống chết nguyên lai tự tánh không, thân huyễn hóa này cũng phải diệt).” Câu “phần đoạn sanh tử quả nhân (分斷生死果因、盡滅冤恩煩惱)” có nghĩa là đoạn trừ từng phần nhân và quả của sanh tử, nhờ vậy mới có thể diệt tận mọi oán ân, phiền não.
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
mâu ni
(牟尼) I. Mâu Ni. Phạm: Pàli: Muni. Cũng gọi Văn ni, Mậu nê. Hán dịch: Tịch mặc, Tịch, Hiền nhân, Nhân, Tiên. Chỉ cho bậc Thánh hoặc tiên nhân tôn quí, thù thắng. Từ Mâu Ni đã thấy xuất hiện vào cuối thời đại Lê câu phệ đà ở Ấn Độ xưa, nghĩa là nhận lãnh linh cảm, hoặc chỉ cho bậc Thánh, người ẩn dật, người tiên, người tu hạnh vắng lặng v.v... Đến thời đại Áo nghĩa thư thì từ Mâu Ni được dùng để chỉ cho người tu hành ở thời kì lâm thê (ẩn tu trong rừng) thứ 3 và đặc biệt chỉ cho bậc Thánh đã khai ngộ ở thời kì du hành khất thực thứ 4 trong 4 Trụ kì (Phạm: Àzrama) của Bà la môn giáo. Trong Mật giáo, từ Mâu Ni cũng có các nghĩa: Bậc Thánh, tiên nhân, người tu hạnh vắng lặng... Theo sự giải thích trong Huyền ứng âm nghĩa quyển 18, thì Mâu Ni là người tu tâm học đạo, đã thông suốt nội ngoại, ẩn cư lâu ngày trong rừng núi. Trong Pháp sắc của vua A Dục có khuyên người xuất gia, tại gia đọc tụng 7 kinh, trong đó, Mâu Ni kệ (Phạm: Muni-gàthà) có lẽ là Mâu Ni kinh (Munisutta) trong Kinh Tập bảnPàli, cho rằng Mâu Ni là Tỉ khưu chân thực. Còn kinh Pháp cú thứ 268, 269 bản Pàli thì gọi người làm thiện lánh ác là Mâu Ni. Tiểu bộ kinh nghĩa thích bản Pàli cho rằng người có trí tuệ, tri giải là Mâu Ni và phân biệt 6 bậc Mâu Ni: Tại gia Mâu Ni, Phi tại gia Mâu Ni, Hữu học Mâu Ni, Vô học Mâu Ni, Bích chi Mâu Ni và Mâu Ni Mâu Ni. II. Mâu Ni. Phạm: Mauna. Pàli:Mona. Cũng gọi Mâu na. Là hình dung từ Mâu Ni. Cũng chỉ cho trí, tức là tính chất của Mâu Ni. Theo Tiểu bộ kinh nghĩa thích, trí Mâu Ni bao gồm: Tuệ, tri giải, giản trạch, tư sách, hiền minh, thiện xảo, biện biệt, tuệ đăng, chính kiến v.v... [X. kinh Ưu Ba Li trong Trung bộ bản Pàli]. III. Mâu Ni. Phạm: Mauneya.Pàli: Moneyya. Cũng gọi Mâu Ni Vị, Mâu Ni Tính, Mâu Ni Hạnh, Tịch Mặc. Tức là lí Mâu Ni. Trung Quốc và Nhật Bản xưa nay thường cho rằng Muni thuộc về sự Mâu Ni, còn Mauneya thuộc về lí Mâu Ni. Về lí Mâu Ni thì từ thời Phật giáo nguyên thủy đến nay có thuyết Tam Mâu Ni (Pàli: Tìni moneyyàni), Hán dịch là Tam tịch mặc, đó là: Thân Mâu Ni, ngữ Mâu Ni và ý Mâu Ni. Cứ theo sự giải thích trong luận Tập dị môn túc quyển 6, thì thân luật nghi của bậc Vô học là thân tịch mặc, ngữ luật nghi của bậc Vô học là ngữ tịch mặc và tâm của bậc Vô học là ý tịch mặc. [X. luận Câu Xá Q.16; luận Thành Duy Thức Q.10; Đại Nhật Kinh Sớ Q.1,12; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q.10 phần cuối; Tông Luân Luận Thuật Kí].
Phật Quang Đại Từ Điển