a. Gặp duyên rất quan trọng.

Những năm đầu Dân quốc, Thái Hư pháp sư đề xướng ‘Bồ Tát Học Xứ’, ý tưởng này rất tốt.  Hiện nay chúng ta đề xướng làm ‘Ðệ Tử Di Ðà’.  Ðệ tử Di Ðà đương nhiên cũng là Bồ Tát.  Như thế nào mới làm được?  Ðây là vấn đề của giáo dục.  Thánh nhân thế gian và xuất thế gian dạy: ‘Người ta ai cũng có thể làm thánh hiền, ai cũng có thể làm Nghiêu, Thuấn’, mấu chốt là ở tại giáo học.  Dùng Phật pháp mà nói, giáo học là trợ duyên, tăng thượng duyên, nếu gặp được tăng thượng duyên tốt, người có tài năng hạng trung cũng có thể làm thánh làm hiền, trong nhà Phật có chuyện này, trong các triều đại Trung Quốc cũng có.  Ðặc biệt là trong Phật pháp, hạ hạ căn cũng có thể làm A La Hán, làm Bồ Tát, đây là chỗ cao minh của nền giáo học Phật pháp.  Trong nhóm đệ tử của Thế Tôn, Châu Lợi Bàn Ðà Già [30] là một thí dụ rất hay.  Ngay cả người hạ hạ căn cũng có thể chứng quả vị A La Hán, có thể thành đại Bồ Tát, huống chi là người trung, thượng căn?

Phần đông người ta cả một đời chẳng thể thành tựu, pháp thế gian và xuất thế gian chẳng thành, hoặc có được chút ít thành tựu nhưng sau cùng lại thất bại đều là vì gặp duyên chẳng tốt.  Phật thuyết pháp: ‘Hết thảy pháp do nhân duyên sanh’ rất có đạo lý.  Một duyên phần tốt thì chỉ có thể gặp mà chẳng thể cầu.  Vậy thì đời này chúng ta có thể gặp duyên tốt chăng?  Câu trả lời là khẳng định được, tại vì ‘trong nhà Phật chẳng xả một người nào hết’, vấn đề ở tại phát tâm.  Nếu chúng ta phát tâm thuần chánh, chư Phật Bồ Tát nhất định sẽ đến làm tăng thượng duyên cho chúng ta, sẽ đến giúp đỡ chúng ta.

b. Phát tâm.

Nhà Phật nói chữ ‘thuyết pháp’, cơ duyên chín muồi mà bạn chẳng thuyết pháp cho họ nghe thì đánh mất cơ hội, là mất đi thời tiết nhân duyên; nếu cơ duyên chẳng chín muồi mà thuyết pháp cho họ thì là không đúng lúc.  Phật hiểu rõ thời tiết nhân duyên nên Phật thuyết pháp được ví như  ‘hải triều âm’.  Hải triều chỉ thủy triều dâng (nước lên) và xuống có thời gian nhất định, nhất định chẳng bao giờ sai.  Ðức Phật giáo hóa chúng sanh cũng vậy.

Ðây là nói rõ một sự thật: chúng sanh có Cảm thì Phật sẽ Ứng, cảm ứng đạo giao.  Do đó có thể biết thành tựu hay không là thao túng trong tay của chính mình.  Nếu mình hy vọng làm thánh làm hiền, làm Phật, làm Bồ Tát thì cái tâm này là Cảm, nhất định Phật, Bồ Tát sẽ có Ứng.  Nếu niệm này chẳng sanh khởi thì là chẳng có Cảm; chẳng có Cảm thì đương nhiên Phật, Bồ Tát chẳng có Ứng, cho nên bạn sẽ chẳng  gặp được cơ duyên.  Nếu nguyện vọng của bạn là chân thật thì cảm ứng sẽ rất nhanh chóng; nếu nguyện vọng rất yếu ớt, khi có khi không, thì cảm ứng cũng sẽ yếu ớt.  Cho nên một đời này của bạn có thành tựu hay không là do sự ‘phát tâm’.

Nguyên nhân ‘Bồ Tát Học Xứ’ của Thái Hư pháp sư chưa thực hiện thành công là vì người chân chánh phát tâm làm Phật, làm Bồ Tát quá ít.  Chân chánh phát tâm làm Bồ Tát thì nhất định chẳng bị danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần trong thế gian dụ hoặc; nếu còn bị dụ hoặc thì sẽ chẳng làm Bồ Tát nổi.  Chuyện này phải nhờ tự mình khắc phục phiền não tập khí thì mới có được cảm ứng, có được trợ duyên.

Hiện nay ngoại duyên ở Tân Gia Ba đã chín muồi, đây là cảm ứng của Phật, Bồ Tát.  Chúng ta từ sự ‘ứng’ của Phật, Bồ Tát thì có thể biết được trong nhóm đồng tu có Cảm; nếu chẳng có Cảm thì làm sao có Ứng được?  Cho nên trong các vị đồng tu nhất định có người chân chánh phát tâm muốn làm Bồ Tát, muốn làm đệ tử Di Ðà nên duyên này mới chín muồi, chẳng có chút gì miễn cưỡng, đây là chân thật chẳng hư dối.  Chúng ta gặp được thời tiết nhân duyên vô cùng thù thắng như vậy thì càng tăng thêm tín nguyện của chúng ta, và từ đó chúng ta cũng thành tựu theo.  Ðúng như lời của cư sĩ Bành Tế Thanh ‘vô lượng kiếp đến nay hiếm có, khó gặp’, chúng ta nhất định phải trân quý cái duyên phần này.  Nếu trong nhân duyên thù thắng như vậy mà vẫn chẳng chống nổi phiền não tập khí, chẳng chống nổi danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần dụ hoặc, bỏ lỡ cơ duyên quý báu thì thiệt rất đáng tiếc!

Cư sĩ Lý Mộc Nguyên phát tâm chân thật, chẳng có một chút tâm riêng tư, cho nên làm việc hoằng pháp được thành công, làm tăng thượng duyên cho mọi người.  Nếu ổng có một chút tâm riêng tư thì công chuyện sẽ nhất định thất bại, vì nếu có tâm riêng tư thì sẽ chẳng được Tam Bảo cảm ứng.  Nếu vẫn có cảm ứng thì nhất định là ma đến ứng, chẳng phải Phật đến ứng.  Ma và Phật khác nhau chẳng ở cảnh bên ngoài mà là ở nội tâm.  Một niệm chân thành, Phật đến cảm ứng; một niệm tự tư tự lợi thì ma đến cảm ứng.  Thế nên trong tâm chẳng có một chút tâm niệm ham muốn riêng tư mới cảm được chư Phật đến ứng.

c.Tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi

Trong đời sống hằng ngày lúc đối người, đối sự, đối vật chẳng thể có ‘tôi đúng anh sai’, ‘tôi chánh anh tà’.  Nếu vẫn còn tâm niệm tự tư tự lợi, cứ cho là mình đúng thì đó là phiền não tập khí, tâm như vậy sẽ chẳng thanh tịnh, chẳng bình đẳng, đó là chướng ngại cho sự cảm ứng đạo giao với chư Phật, Bồ Tát.  Chuyện tốt cuối cùng biến thành ma cảnh là ở tại một niệm sai trái này.  Tâm Phật, Bồ Tát là tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, nhìn hết thảy chúng sanh đều bình đẳng, đối với hết thảy chúng sanh đều chân thành, cung kính.  Chúng ta phải học tập những tâm này thì mới có được cảm ứng, có được trợ duyên.  Có được trợ duyên rồi thì tự hành hóa tha sẽ rất thuận tiện.

Cứ thường thấy lỗi người khác, cứ cho là mình đúng, đây là lỗi lầm lớn nhất.  Cho dù người khác tạo nên tội ngũ nghịch, thập ác, chúng ta vẫn phải học Phật, Bồ Tát dùng con mắt từ bi mà quán, họ chỉ vì một lúc mê hoặc nên tạo thành lỗi lầm, họ chẳng dùng chân tâm, trong chân tâm chẳng có lỗi lầm, họ dùng vọng tâm nên bị phiền não tập khí chi phối.  Chư Phật Bồ Tát nhìn thấy những người này sẽ dùng tâm thương xót, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng để đối đãi; vì chân tâm Phật tánh của họ chẳng bị giảm mất chút nào, Phật, Bồ Tát đối với họ vẫn hoàn toàn cung kính.  Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta ‘Lễ kính chư Phật’, cho nên đối với những người làm ác đa đoan, lễ kính vẫn chẳng giảm bớt mảy may.

Chuyện này chúng ta có thể làm được hay không?  Nếu có phân biệt, chấp trước thì sẽ làm không được.  Làm không được thì là chúng sanh, chẳng phải Bồ Tát.  Muốn học làm Bồ Tát thì phải bắt đầu học từ chỗ này, phải chân chánh làm được đối với người cực ác thì cũng hoan hỷ khen bề tốt, mặt thiện của họ, tuyệt đối chẳng đề cập đến bề ác, mặt xấu của họ.  Không những không đề cập, trong tâm cũng chẳng lưu lại dấu vết, tâm như vậy mới thực sự thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ được đại tự tại.  Chúng ta xem họ cũng giống như một vị Phật, vì ‘hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’, Phật đối đãi với người như vậy đó.  Chúng ta học Phật thì cũng phải đối đãi với người như vậy.  Bây giờ họ làm ác chỉ bất quá là vì một lúc hồ đồ, hồ đồ rồi một ngày nào đó cũng sẽ minh bạch; chúng ta có nghĩa vụ giúp đỡ họ, làm cho họ sớm hiểu rõ; khi hiểu rõ rồi thì họ cũng sẽ phổ độ hết thảy chúng sanh, chúng sanh sẽ có phước.

Trong tâm đừng nên nghĩ về thị - phi, nhân - ngã, ân - ân, oán - oán, phải thường nghĩ đến lời dạy của Phật, thường nghĩ đến ý nghĩa của kinh.  Dùng kinh Vô Lượng Thọ làm chánh thì phải thường nghĩ đến nghĩa lý của kinh Vô Lượng Thọ, đem nghĩa lý đó biến thành sự suy nghĩ chân chánh của mình, ứng dụng trong đời sống, dùng mắt Phật quán thế gian, chúng ta mới chân chánh thành đệ tử Di Ðà, chân chánh làm Bồ Tát, chuyển phàm thành thánh.  Chuyển từ trong tâm, chuyển trên hành vi, đây là công đức chân thật, hy vọng mọi người cùng nhau khích lệ.

________________________

[30] Tánh Ngài cực kỳ ngu độn, xuất gia đã nửa năm, cả năm trăm vị La Hán xúm vào dạy dỗ, Ngài vẫn không thể trì tụng nổi nửa bài kệ. Học suốt cả ba năm vẫn chưa thuộc nổi, nhớ câu trước quên câu sau, nhớ được câu sau liền quên ngay câu trước. Người anh bực quá, quở trách, buộc em hoàn tục. Do thiện căn thâm hậu, lúc đương khóc lóc ngoài cửa, bịn rịn chẳng đi, gặp đức Thế Tôn lân mẫn dạy niệm hai chữ “tảo chửu” (quét dọn). Thế mà vẫn cứ nhớ chữ này quên chữ kia. Nhưng nhờ Ngài vẫn cứ siêng gắng, chẳng lười, nên lâu ngày hốt nhiên chứng ngộ: “Tảo Chửu nghĩa là trừ dơ khiến cho sạch. Như vậy là đức Thế Tôn muốn ta đoạn trừ những dơ bẩn phiền não trong thân”. Nhờ thế, ngài đắc quả A La Hán.  Theo kinh Ngũ Bách Ðệ Tử Bản Khởi, tôn giả trong đời trước do xua lợn qua sông, dùng dây buộc chặt miệng nó khiến hơi thở không thông, con lợn bị chết ngộp giữa giòng. Vì thế, Ngài bị quả báo ám muội. Thêm nữa, trong thời Phật Ca Diếp, Ngài là một vị Tam Tạng Pháp Sư, do tiếc pháp chẳng hóa độ chúng nên cảm ác báo ấy. Ác nghiệp đời trước mãi đến đời này mới hết, mới có thể đoạn ngu, phát huệ. (Trích Kinh Di Đà Hợp Giải)
 
Trích từ: Học Vi Nhân Sư Hành Vi Thế Phạm

Từ Ngữ Phật Học
phổ độ
(普度) I. Phổ Độ. Độ cho nhiều người cạo tóc xuất gia. Truyện Khổng thừa cung trong Tống sử ghi: Xin sửa chữa những ngôi chùa ở nơi bị chiến tranh tàn phá và độ cho nhiều người làm tăng ni. II. Phổ Độ. Cũng gọi Phổ độ chúng sinh. Ban bố pháp lực rộng rãi để cứu độ chúng sinh. Tức là Phật, Bồ tát thương xót chúng sinh trôi giạt, nổi chìm trong biển lớn sống chết, nên ban bố rộng rãi pháp lực để cứu độ khắp quần sinh, khiến cho họ thoát khỏi biển khổ sinh tử phiền não. Tín ngưỡng dân gian Trung quốc, hàng năm đến tháng 7 âm lịch, dân chúng sắm sửa thức ăn để cúng tế các vong linh, cũng gọi là Phổ độ. Phật giáo cũng có nghi thức Phổ độ đại trai. III. Phổ Độ (1196-1277). Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, họ Sử, tự Hư chu. (xt. Hư Chu). IV. Phổ Độ (?-1330). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Đơn dương (huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô), họ Tưởng. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đông lâm tại Lô sơn, tham học nhiều nơi, sau trụ ở chùa Diệu quả tại Đơn dương và Thiện pháp đường chùa Đông lâm, chuyên tu Tam muội niệm Phật. Bấy giờ xuất hiện bọn người tự xưng là Liên tông mà chuyên hành tà pháp, sư thâm cảm niềm lo âu. Cho nên, vào năm Đại đức thứ 9 (1305), sư biên soạn Liên tông bảo giám, 10 quyển, để làm sáng tỏ chính tông của ngài Từ chiếu Tử nguyên. Tháng 5, niên hiệu Chí đại năm đầu (1308) đời Nguyên, vua Vũ tông hạ chiếu chỉ nghiêm cấm Liên tông hoạt động, sư liền quyết định đặt kế hoạch phục hưng. Tháng 10, sư đến chùa Pháp vương tại Kinh đô để cùng bàn bạc với Quốc sư Quán đính, rồi đem bộ Liên tông bảo giám do sư soạn dâng lên vua. Sau khi vua Nhân tông lên ngôi, sư lại dâng biểu xin được phục hưng Liên tông. Tháng giêng, niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), Nhân tông sắc lệnh ban hành Liên tông bảo giám trong nước, đề cử sư làm Giáo chủ Liên tông và ban hiệu cho sư là Hổ Khê Tôn Giả. Niên hiệu Chí thịnh năm đầu (1330) sư thị tịch. Người đời tôn là Ưu đàm tông chủ, tổ Trung hưng Liên tông. [X. bài Tựa trong Lô sơn Liên tông bảo giám; Tịnh độ thần chung Q.10; Tịnh độ toàn thư Q.hạ; Tịnh độ thánh hiền lục Q.4].
Phật Quang Đại Từ Điển
phổ hiền
(普賢) Tông Hoa nghiêm gọi cảnh giới Phật đoạn tuyệt tất cả lời nói, ý nghĩ, là Tính hải quả phần, tức là pháp môn của đức Phật Tì lô giá na. Trái lại, ứng với cơ duyên của chúng sinh mà thuyết pháp, giáo hóa thì gọi là Duyên khởi nhân phần, tức là pháp môn của bồ tát Phổ hiền. Bồ tát Phổ hiền về mặt nhân cách là bồ tát Đẳng giác. Về mặt lí thì bồ tát Phổ hiền tượng trưng cho lí, định, hành, là nguồn gốc của chư Phật, cũng là thể tính của tất cả các pháp, nếu khi nhập vào quả vị thì gọi là Tính hải; cho nên tất cả phổ pháp tín, giải, hành, chứng chẳng kể phàm thánh, đều gọi là Phổ hiền. Thể ngộ được cảnh giới đại cơ của Nhất thừa Phổ hiền này, gọi là cảnh giới Phổ hiền. Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 4 nêu ra 2 loại: Tam thừa phổ hiền và Nhất thừa phổ hiền, mỗi loại lại có 3 lớp Nhân, Giải, Hành nên gọi là Lục chủng Phổ hiền. Trong Tam thừa Phổ hiền thì Nhân (người) là bồ tát Phổ hiền; Giải (hiểu) là hiểu rõ được lí họp ba về một... hướng tới Nhất thừa; Hành (tu hành) là hạnh nguyện Phổ hiền, tất cả đều được nói rõ trong phẩm Phổ hiền kinh Pháp hoa. Trong Nhất thừa Phổ hiền thì Nhân là bồ tát Phổ hiền nói trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm; Giải là chỉ cho Phổ biến và Thâm nhập được nói trong 60 hành môn trong phẩm Phổ hiền kinh Hoa nghiêm, là cảnh giới hỗ tương dung hợp bất khả tư nghị; Hành là chỉ cho 10 tâm Phổ hiền và 10 hạnh nguyện Phổ hiền nói trong phẩm Li thế gian của kinh Hoa nghiêm. Hạnh nguyện Phổ hiền chỉ cho 10 đại nguyện: 1. Lễ kính chư Phật: Thường lễ kính tất cả Phật. 2. Xưng tán Như lai: Thường khen ngợi công đức Như lai. 3. Quảng tu cúng dường: Thường phụng sự và cúng dường tất cả Phật. 4. Sám hối nghiệp chướng: Thường sám hối những nghiệp ác đã tạo tác từ vô thủy đến nay và luôn giữ gìn giới pháp thanh tịnh. 5. Tùy hỉ công đức: Thường vui theo công đức của tất cả Phật, Bồ tát cho đến của tất cả chúng sinh trong 6 đường và 4 loài. 6. Thỉnh chuyển pháp luân: Thường lễ thỉnh tất cả Phật tuyên nói giáo pháp. 7. Thỉnh Phật tại thế: Thỉnh cầu Phật, Bồ tát không vào Niết bàn mà trụ nơi thế gian để thuyết pháp, giáo hóa. 8. Thường tùy Phật học: Thường theo đức Phật Tì lô giá na để học giáo pháp của Ngài. 9. Hằng thuận chúng sinh: Tùy thuận sự khác biệt của các loài chúng sinh mà làm các việc cúng dường. 10. Phổ giai hồi hướng: Đem những công đức trên hồi hướng cho tất cả chúng sinh để thành tựu nguyện thành quả Phật. Nếu người nào gắng sức thực hành 10 hạnh nguyện trên đây một cách liên tục thì có thể hoàn thành được hạnh nguyện của bồ tát Phổ hiền. Hoặc người nào có lòng tin sâu xa thụ trì đại nguyện, hoặc đọc tụng hay biên chép thì cũng có thể được nhiều công đức. [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm]. (xt. Tam Thánh Viên Dung Quán).
Phật Quang Đại Từ Điển
quả báo
(果報) Phạm:Vipàka. Cũng gọi Dị thục, Quả thục, Báo quả, Ứng quả, Dị thục quả. Tức là cái kết quả do nghiệp nhân từ quá khứ mang lại. Có 2 loại: 1. Tổng báo: Quả báo do dẫn nghiệp (nghiệp báo chung) đưa đến, như sự sống còn của con người là do dẫn nghiệp từ đời trước mang lại. 2. Biệt báo: Quả báo riêng của mỗi người do mãn nghiệp (nghiệp báo riêng) đưa đến, cũng gọi Mãn quả, như cùng sinh làm người nhưng có nam, nữ, nghèo, giàu... khác nhau. Nói về thời gian thì có quả báo 3 thời của nghiệp 3 thời: 1. Thuận hiện báo (cũng gọi Hiện báo): Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ngay.2. Thuận sinh báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng trong đời sau. 3. Thuận hậu báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ở đời sau nữa. Trong 6 đường thì trời và người là quả báo do giữ 5 giới, tạo 10 nghiệp thiện mà được, cho nên gọi là Thiện quả; nhưng thiện quả này vẫn còn phiền não mê vọng, vì thế cũng gọi là Điên đảo thiện quả. Tuy nhiên, nếu nói một cách chặt chẽ, thì ý nghĩa quả và báo cũng có khác nhau, như quả Đẳng lưu là do nhân cùng loại sinh ra gọi là Quả; còn quả Dị thục là do nhân khác loại sinh ra, thì gọi là Báo. Cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, phần đầu, thì Tập quả là quả, còn báo quả là báo. Phiền não đời sau là Tập quả, đau khổ thì gọi là Báo quả; cho nên nghèo, giàu, khổ, vui... đều là Quả báo. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.trung, phần 2; Câu xá thích luận Q.3, 5; Pháp uyển châu lâm Q.69; Kim cương bát nhã ba la mật đa kinh chú giải; Ma ha chỉ quán Q.8, phần cuối].
Phật Quang Đại Từ Điển
nhân duyên
(因緣) Phạm: Hetu-pratyaya. Từ gọi chung nhân và duyên. Nhân là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả. Duyên chỉ cho nguyên nhân gián tiếp giúp đỡ bên ngoài. Do vậy mà Nhân duyên còn được gọi là Nội nhân ngoại duyên, Thân nhân sơ duyên. Và nói theo nghĩa rộng thì Nhân hàm ý là Nhân và duyên, bao gồm Nội nhân ngoại duyên. Hết thảy muôn vật đều tùy thuộc vào sự tan hợp của nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh, Duyên sinh, Duyên thành, Duyên khởi. Tất cả pháp do nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh diệt pháp; còn cái kết quả do nhân và duyên hòa hợp mà sinh ra thì gọi là Nhân duyên hòa hợp. Hết thảy vạn hữu đều do nhân duyên hòa hợp mà giả sinh, không có tự tính, đó chính là lí Nhân duyên tức không. Nếu lấy phiền não làm nhân, lấy nghiệp làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi mê; còn nếu lấy trí làm nhân, lấy định làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi ngộ. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6, quyển 7 có nêu thuyết 6 nhân 4 duyên. Sáu nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Tương ứng nhân, Đồng loại nhân, Biến hành nhân và Dị thục nhân. Bốn duyên: Nhân duyên, Sở duyên duyên, Đẳng vô gián duyên và Tăng thượng duyên. Trong đó, Năng tác nhân trong 6 nhân là Tăng thượng duyên trong 4 duyên, còn 5 nhân kia thì là Nhân duyên trong 4 duyên. Nhưng tông Duy thức thì cho rằng Đồng loại nhân trong 6 nhân là chung cho cả Nhân duyên và Tăng thượng duyên, còn 5 nhân kia là Tăng thượng duyên. Đồng loại nhân là nguyên nhân dẫn sinh ra quả Đẳng lưu, vì thế cũng gọi là Tự chủng nhân. Cũng như luận Câu xá cho rằng nhân khác tính dẫn sinh ra quả khác tính là nhân duyên. [X. kinh Tạp a hàm Q.1; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; phẩm Quán tứ đế trong Trung luận Q.4; luận Đại tì bà sa Q.16; luận Đại thừa khởi tín; luận Thành duy thức Q.2; luận Du già sư địa Q.3, 5, 38;luận Hiển dương thánh giáo Q.18]. (xt. Nhân, Duyên). II. Nhân Duyên. Nhân tức là duyên, chỉ cho Nhân duyên trong 4 duyên. (xt. Tứ Duyên). III. Nhân Duyên. Phạm: Nidàna. Cũng gọi Duyên khởi.Thể tài thứ 6 trong 12 thể tài kinh. (xt. Ni Đà Na).
Phật Quang Đại Từ Điển
chứng quả
(證果) Chỉ sự chứng vào quả vị. Tức đem chính trí khế hợp chân lí mà tiến vào các quả vị Phật, Bồ tát, Thanh Văn và Duyên giác. Lại như Đại thừa từ Sơ địa cho đến Đẳng giác chứng được phần quả của Bồ tát và mãn quả của Phật, Tiểu thừa chứng được bốn quả A la hán, A na hàm v.v... đều gọi chứng quả. Đại đường tây vực kí quyển 7 mục Phệ xá li quốc, có ghi chép về việc Xá lị tử chứng được quả A la hán. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 3 giải thích câu Do hoặc đến hết hoặc, chứng nhất thiết trí của Phật trong Nhiếp luận (Nhiếp đại thừa luận thích quyển 17, bản dịch đời Lương), bảo rằng (Đại 45, 493 thượng): Hết hoặc, là hết Sở tri chướng, tức do lưu phiền não chướng phát khởi thắng hạnh mà đến được giai vị này, chứng quả Phật vậy. Đây là nói về sự đoạn hoặc chứng quả của Bồ tát. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.7 duyên thứ 87, Q.9 duyên thứ 114 - luận Bồ đề tâm].
Phật Quang Đại Từ Điển
tăng thượng duyên
(增上緣) Phạm: Adhipati-pratyaya. I. Tăng Thượng Duyên. Nguyên nhân gián tiếp giúp cho tất cả pháp hữu vi sinh khởi hay kết quả, là 1 trong 4 duyên; nghĩa là bất cứ lực dụng mạnh mẽ nào có khả năng giúp thêm sức cho sự sinh khởi hoặc đưa đến kết quả của các pháp khác thì đều gọi là Tăng thượng duyên. Như 6 căn tiếp xúc với 6 cảnh sinh ra 6 thức, trong đó có những lực dụng tăng thượng giúp cho các pháp khi sinh khởi không bị ngăn ngại. Cũng như ruộng, phân, nước... đều là Tăng thượng duyên giúp cho lúa mạ phát triển mạnh và kết quả tốt. Tăng thượng duyên được chia làm 2: 1. Dữ lực tăng thượng duyên: Chỉ cho Tăng thượng duyên giúp sức để thành tựu sự sinh khởi của các pháp. 2. Bất chướng tăng thượng duyên: Chỉ cho Tăng thượng duyên không gây trở ngại cho sự sinh khởi của các pháp. Do đó mà biết tất cả muôn pháp trong vũ trụ đều có công năng của duyên này; vì thế ảnh hưởng của Tăng thượng duyên đối với các pháp phổ biến hơn ảnh hưởng của Sở duyên duyên. Tuy nhiên, phạm vi của Tăng thượng duyên cũng có chỗ hạn chế:1. Một vật không thể ảnh hưởnglại chính mình, tức 1 vật không thể là Tăng thượng duyên của bản thân. 2. Pháp hữu vi không thể làm Tăng thượng duyên cho pháp vô vi, đó là vì pháp vô vi vốn là pháp vô sinh, cho nên không nằm trong phạm vi của 4 duyên. [X. luận Du già sư địa Q.52; luận Đại tì bà sa Q.17, 107; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Đại trí độ Q.31; Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần cuối]. (xt. Tứ Duyên). II. Tăng Thượng Duyên. Chỉ cho bản nguyện của đức Phật A di đà, là 1 trong 3 duyên Nhiếp thủ. Tịnh độ giáo lấy bản nguyện của đức Phật A di đà làm duyên tăng thượng giúp thêm cho việc vãng sinh Tịnh độ của chúng sinh.Quán kinh huyền nghĩa phần (Đại 37, 246 trung) nói: Phàm phu mà được vãng sinh đều do nương vào nghiệp lực đại nguyện của đức Phật A di đà làm Tăng thượng duyên. (xt. Nhiếp Thủ).
Phật Quang Đại Từ Điển
tăng thượng
(增上) Phạm: Aupacayika, adhipati. Thêm lên, tức tăng cường năng lực giúp cho tác dụng tiến triển khiến các pháp lớn mạnh. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 1, nếu nói theo tâm tăng thượng thì đó là Tố đát lãm(Kinh); nếu nói theo giới tăng thượng thì đó là Tì nại da(Luật); nếu nói theo tuệ tăng thượng thì đó là A tì đạt ma (Luận). Nhiếp Đại thừa luận thích quyển 1(bản dịch đời Đường), nói:Tuệ tăng thượng là trí tuệ hướng tới chứng ngộ. Luận Đại tì bà sa quyển 21 và luận Hiển dương thánh giáo quyển 1... có nêu 3 thứ Tăng thượng: 1. Tự tăng thượng: chỉ cho sức tăng thượng của chính mình tạo ra, như không tạo nghiệp ác thì không bị đọa vào đường ác. 2. Thế tăng thượng: Chỉ cho sức tăng thượng của thế gian, như làm các việc thiện thì được người đời khen ngợi; còn nếu làm các việc độc ác, tàn bạo, thì bị người thế gian nguyền rủa, chê cười. 3. Pháp tăng thượng: Chỉ cho sức tăng thượng của chính pháp, như vì hộ trì chính pháp nên không khởi nghiệp ác, cũng không khiến cho người đời khinh thường và phá hủy chính pháp. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 15 nêu 7 thứ Tăng thượng: 1. Thủ tăng thượng: Năm căn như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân có sức tăng thượng đối với cảnh giới năng thủ. 2. Sinh tăng thượng: Như nam căn, nữ căn có sức tăng thượng đối với việc sinh nở, thụ thai. 3. Trụ tăng thượng: Như mệnh căn có sức tăng thượng đối với sự tồn tại lâu dài của sắc thân. 4. Thụ dụng tạp nhiễm tăng thượng: Nămthụcăn như khổ căn, lạc căn, xả căn... có sức tăng thượng đối với các cảm nhận của thân tâm như thân không vui, tâm vui, thân tâm chẳng phải vui chẳng phải không vui... Đó cũng là sở tùy miên của tham sân si, tức vui là sở tùy miên của tham, khổ là sở tùy miên của sân, không khổ không vui là sở tùy miên của si. 5. Thanh tịnh tăng thượng: Năm căn như tín, tinh tiến, niệm... và 3 căn: Vị tri dục tri, tri, dĩ tri có sức tăng thượng đối với các pháp thanh tịnh thế gian và xuất thế gian. 6. Điền tăng thượng: Cộng nghiệp có sức tăng thượng đối với sự sinh khởi của khí thế gian như núi, sông, đất đai (điền)... 7. Chấp thụ tăng thượng: Bốn đại chủng đất,nước,lửa, gió có sức tăng thượng đối với các sắc pháp được tạo ra như sắc, hương... Trên đây là nói rõ tác dụng của mỗi căn trong 22 căn đều có sức tăng thượng đối với các pháp sở đối(đối tượng) của nó. Ngoài ra, mỗi một pháp đối với sự sinh, trụ của các pháp khác không gây trở ngại, hoặc giúp thêm sức cho thì gọi là Tăng thượng duyên. Quả của nhân năng tác gọi là Tăng thượng quả, còn thánh dục ưa thích đế lí thì gọi là Tăng thượng nhẫn pháp. Sự tăng thịnh của 3 căn bất thiện, gọi là Tăng thượng bất thiện căn. Thế lực của kiến mạnh mẽ bén nhạy, gọi là Kiến tăng thượng; sự tăng thượng của tuệ, gọi là Tuệ tăng thượng. Ngoài ra còn có Trí tăng thượng, Bi tăng thượng, Tín tăng thượng, Niệm tăng thượng, Kiến tăng thượng đạo, Tu tăng thượng đạo... [X. luận Đại tì bà sa Q.18, 54, 61; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.20; luận Hiển dương thánh giáo Q.14].
Phật Quang Đại Từ Điển
thiện căn
(善根) Phạm: Kuzala-mùla. Pàli:Kusala-mùla. Cũng gọi Thiện bản, Đức bản. Tức là cội rễ sinh ra các pháp lành. Cứ theo kinh Đại câu hi la trong Trung a hàm quyển 7 thì tỉ khưu biết thiện, biết thiện căn, đó gọi là thành tựu kiến, đối với phápđược bất hoại tịnh, được chính kiến, vào trong chính pháp. Ba tính vô tham, vô sân, vô si là thể của thiện căn, gọi chung là Tam thiện căn. Còn Bất thiện căn (Phạm: Akuzala-mùla) thì là tương phản với Thiện căn;tham, sân, si gọi là Tam bất thiện căn, hoặc gọi là Tam độc. Lại vì pháp lành là cội gốc để được quả lành, cho nên cũng có thể được gọi là Thiện căn. [X. phẩm Tựa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Hàng tượng trong kinh Phật bản hạnh tập Q.5; kinh Bi hoa Q.8; phẩm Lô xá na Phật trong kinh Hoa nghiêm Q.4 (bản dịch cũ); phẩm Cụ thiện căn trong kinh Đại bảo tích Q.78; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Nhiếp đại thừa luận thích Q.7]. (xt. Tam Thiện Căn).
Phật Quang Đại Từ Điển
ngũ nghịch
(五逆) Cũng gọi Ngũ nghịch tội. Chỉ cho 5 cái tội cực ác trái với đạo lí. Cứ theo thuyết của Tiểu thừa thì 5 tội nghịch là: 1. Hại mẹ, cũng gọi giết mẹ. (Phạm: Màtf-ghàta). 2. Hại cha, cũng gọi giết cha (Phạm: Pitfghàta). 3. Hại A la hán, cũng gọi giết A la hán (Phạm: Arhad-ghàta). 4. Ác tâm làm thân Phật ra máu, cũng gọi làm thân Phật ra máu (Phạm: Tathàgatasyàntike duwỉa-cittarudhirotpàdana). 5. Phá tăng, cũng gọi Phá hòa hợp tăng, Đấu loạn chúng tăng (Phạm: Saôghabheda). Trong 5 tội trên đây, 2 tội trước là bỏ ruộng ân nghĩa, 3 tội sau là hủy hoại ruộng đức, vì thế gọi là Năm tội nghịch, Năm tội nặng. Vì hành vi của 5 tội là nguyên nhân làm cho người vi phạm phải rơi vào địa ngục Vô gián nên cũng gọi là Năm nghiệp Vô gián (Phạm: Paĩca anantarya-karmàịi), gọi tắt là Năm vô gián hoặc 5 tội không cứu được. Ba tội trước là tội cố ý giết hại cha, mẹ và A la hán. Còn tội Phá hòa hợp tăng thì chia làm 2: a) Phá yết ma tăng: Li khai giáo đoàn mà mình vốn là 1 thành viên để thành lập giáo đoàn mới thực hành các việc bố tát, yết ma riêng rẽ. b) Phá pháp luân tăng: Tôn thờ thầy khác, lập học thuyết khác, tổ chức giáo đoàn riêng. Ngoài ra, theo luận Câu xá quyển 18, thì Ngũ vô gián đồng loại nghiệp (Phạm:Paĩca Upànantarìyaịi), cũng gọi Cận ngũ vô gián, Ngũ vô gián đồng phận, Cận ngũ nghịch, Loại tự ngũ nghịch, là 5 tội cùng loại với 5 nghiệp Vô gián nói trên. Tức là: 1. Ô nhiễm ni A la hán (Phạm:Màtur arhantyà dùwaịam). 2. Giết bồ tát Trụ định địa (Phạm: Niyatabhùmisthitasya bodhisattvasya màraịam). 3. Giết bậc thánh Hữu học (Phạm: Zaikwsasya màraịam). 4. Phá hòa hợp tăng (Phạm: Saôghàyadvàraharaịam). 5. Phá hoại tháp (Phạm: Stùpabhedanam). Kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết quyển 4 thì nêu 5 tội nặng là: 1. Phá hoại chùa tháp, thiêu hủy kinh tượng, chiếm đoạt tài sản của Tam bảo, hoặc sai bảo người khác làm các việc ấy. 2. Chê bai Thanh văn, Duyên giác và pháp Đại thừa. 3. Cản trở người tu hành hoặc giết hại người xuất gia. 4. Vi phạm 1 trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa.5. Chủ trương không có nghiệp báo, thực hành 10 nghiệp bất thiện; hoặc không sợ quả báo đời sau, khuyến khích người khác làm 10 điều ác. Trong Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 5, ngài Tuệ chiểu hợp tội giết cha và giết mẹ trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa làm 1 và thêm tội phỉ báng Phật pháp mà lập thành 5 tội nghịch chung cho cả 3 thừa.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; kinh Đại tập địa tạng thập luân Q.3; luật Tứ phần Q.46; luật Thập tụng Q.36; luận Câu xá Q.17; luận Thuận chính lí Q.43; Du già luận kí Q.3, thượng, Q.5; Du già sư địa luận lược toản Q.4; Câu xá luận quang kí Q.18].
Phật Quang Đại Từ Điển
ngoại duyên
(外緣) Đối lại: Nội nhân. Duyên từ bên ngoài có năng lực giúp cho sự vật sinh thành và biến hóa. Tức là sự ảnh hưởng gián tiếp của 1 pháp này đối với 1 pháp khác. Là tăng thượng duyên trong 4 duyên. Ảnh hưởng duyên này được chia làm 2 loại: 1. Dữ lực tăng thượng duyên: Có công năng thúc đẩy pháp khác sinh ra. 2. Bất chướng tăng thượng duyên: Không cản trở pháp khác sinh khởi. Vì muôn vật đều có sức ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên không 1 pháp nào mà không có công năng của Tăng thượng duyên. Nhưng các pháp phải đợi khi nào nội nhân và ngoại duyên hòa hợp lẫn nhau mới hình thành được. Chẳng hạn như việc thụ sinh trong cõi người, phải lấy nghiệp thức của chính mình làm nội nhân và tinh cha huyết mẹ làm ngoại duyên, do sự hòa hợp của các nhân duyên ấy mới thụ sinh được. Cũng như công đức lợi tha của Phật chính là ngoại duyên giúp chúng sinh thành Phật, nhưng chúng sinh phải lấy Như lai tạng của bản thân làm nội nhân để chứng đắc bồ đề, nhờ những nhân duyên ấy hòa hợp thì mới khế cơ thành Phật được. Ngoài ra, theo luận Đại thừa khởi tín thì Tăng thượng duyên còn được chia ra làm 2 loại là Sai biệt duyên và Bình đẳng duyên. [X. luận Đại tì bà sa Q.21, 127; luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.8 phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu].
Phật Quang Đại Từ Điển
thanh tịnh
(清淨) Phạm: Zuddha, Vizuddha, Parizu= ddha. Thanh Thế TôngPàli: Suddha, Visuddha, Parisuddha. Hán âm: Tì du đà, Du đà, Vĩ thú đà, Thú đà. Gọi tắt: Tịnh. Cũng gọi: Phạm ma (Phạm: Brahma). Trong sạch, tức đã xa lìa lỗi lầm phiền não do các việc làm xấu ác gây ra. Phổ thông thường dùng 3 thứ thanh tịnh là: Thân thanh tịnh, Khẩu thanh tịnh và Ý thanh tịnh, tức việc làm, lời nói và ý nghĩ đều trong sạch. Về chủng loại thanh tịnh, trong các kinh luận đều có nói rõ như sau: 1. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 2 của ngài Vô tính nêu 2 loại thanh tịnh trong việc áp phục và đoạn trừ phiền não: a. Thế gian thanh tịnh: Nhờ tu hành đạo hữu lậu, có thể tạm thời đè nén sự hiện hành của phiền não, không cho trỗi dậy, gọi là Thế gian thanh tịnh. b. Xuất thế gian thanh tịnh: Nhờ tu hành đạo vô lậu, có năng lực diệt hết sạch phiền não, gọi là Xuất thế gian thanh tịnh. 2. Luận Tịnh độ của ngài Thế thân nêu ra 2 thứ thanh tịnh: a. Khí thế gian thanh tịnh: Làm cho hoàn cảnh trở nên thanh tịnh. b. Chúng sinh thế gian thanh tịnh: Một khi khí thế gian đã thanh tịnh, thì chúng sinh ở trong đó biến thành Thánh chúng. Hai thế gian trên đây hiển bày nghĩa Y báo và Chính báo đều thanh tịnh. 3. Luận Đại trí độ quyển 73 nêu 3 thứ thanh tịnh: a. Tâm thanh tịnh: Người tu học Bát nhã sẽ không dấy lên tâm ô nhiễm và tâm sân hận. b. Thân thanh tịnh: Tâm đã thanh tịnh thì thường được hóa sinh, cho nên thân thanh tịnh. c. Tướng thanh tịnh: Thân được đầy đủ các tướng tốt đẹp, trang nghiêm. 4. Luận Nhiếp đại thừa quyển trung (bản dịch đời Lương) nêu 4 thứ thanh tịnh: a. Bản lai tự tính thanh tịnh. b. Vô cấu thanh tịnh. c. Chí đắc đạo thanh tịnh. d. Đạo sinh cảnh giới thanh tịnh. 5. Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 4 nêu 2 thứ thanh tịnh, tức Bản lai tự tính thanh tịnh được chia làm 2: a. Tự tính thanh tịnh: Muôn pháp đều không, xưa nay vốn tức thanh tịnh. b. Li cấu thanh tịnh: Tách khỏi phiền não mà thành thanh tịnh. 6. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 3 liệt kê 9 thứ thanh tịnh: Thi la(tức giới) thanh tịnh, Tâm thanh tịnh, Kiến thanh tịnh, Độ nghi thanh tịnh(hết ngờ vực), Đạo phi đạo trí kiến thanh tịnh, Hành trí kiến thanh tịnh, Hành đoạn trí kiến thanh tịnh, Vô duyên tịch diệt thanh tịnh và Quốc độ thanh tịnh. 7. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 7 liệt kê 8 thứ thanh tịnh: Tam muội thanh tịnh, Trí tuệ thanh tịnh, Thần thông thanh tịnh, Hiện thân thanh tịnh và Đa văn thanh tịnh... [X. phẩm Thán tịnh trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 12; kinh Đại bảo tích Q.14, 39; kinh Vô thượng y Q.thượng; luận Tập dị môn túc Q.6, luận Thích tịnh độ quần nghi Q.1].
Phật Quang Đại Từ Điển
cung kính
(恭敬) Phạm: Satkàsa, Pàli: Sakkàra. Mình tự khiêm nhường mà tôn trọng lễ kính người khác. Cung kính thông cả ba nghiệp thân khẩu ý. Luận Thập trụ tì bà sa quyển 2 (Đại 26, 19 thượng), nói: Cung kính, nghĩa là nhớ đến công đức và tôn trọng người ấy. Trên đây là nói về ý nghiệp. Cũng luận đã dẫn quyển 2 còn nói (Đại 26, 30 trung): Cung kính, nghĩa là tôn trọng lễ bái, đón đến đưa đi, chắp tay đứng hầu ở gần. Đây là nói về thân nghiệp. Cũng luận trên quyển 2 (Đại 26, 30 trung), nói: Đem pháp Tiểu thừa giáo hóa chúng sinh, gọi là cúng dường - đem pháp Bích chi phật giáo hóa chúng sinh, gọi là phụng cấp - đem pháp Đại thừa giáo hóa chúng sinh, gọi là cung kính. Đây gọi khẩu nghiệp nói pháp giáo hóa là cung kính. Còn cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2 chép, thì người Ấn độ xưa biểu hiện lòng tôn kính bằng chín cách: 1. Nói lời thăm hỏi. 2. Cúi đầu. 3. Dơ tay cao mà vái. 4. Chắp tay cúi mình. 5. Xuống gối. 6. Quì gối. 7. Đầu gối và tay đặt sát đất. 8. Năm ngón tay đều co lại. 9. Đầu, hai khuỷu tay, hai đầu gối đều đặt sát đất. Tây phương yếu quyết quyển hạ chủ trương, người tu Tịnh độ, phải tu năm thứ cung kính: 1. Cung kính bậc thánh có duyên. 2. Cung kính tượng giáo có duyên. 3. Cung kính thiện tri thức có duyên. 4. Cung kính bạn đồng duyên. 5. Cung kính Tam bảo. [X. luận Phật tính Q.1 phần Duyên khởi - luận Đại trí độ Q.30].
Phật Quang Đại Từ Điển
tập khí
(習氣) Phạm,Pàli:Vàsanà. Cũng gọi Phiền não tập, Dư tập, Tàn khí. Gọi tắt: Tập. Do tư tưởng, hành vi(đặc biệt là phiền não) của người ta dấy sinh hằng ngày, rồi huân tập(xông ướp, tập tành) thành những thói quen, hơi hướng sót lại, rớt lại trong tâm người ta, gọi là Tập khí, giống như để hương trong hộp, khi lấy hương ra rồi mà trong hộp vẫn còn mùi thơm. Nói cách nôm na là tất cả ý nghĩa và việc làm của chúng ta đều để lại trong ta những kinh nghiệm và thói quen, đó chính là Tập khí. Trong Phật giáo, từ Tập khí được dùng để ví dụ tuy đã diệt trừ chính thể của phiền não, nhưng vẫn còn hơi hướng của thói quen rớt lại và rất khó diệt trừ. Trong kinh Phật có ghi chép nhiều trường hợp, chẳng hạn như thói quen dâm dục của ngài Nan đà khi còn ở tại gia, thói quen nổi giận của ngài Xá lợi phất và ngài Ma ha ca diếp, thói quen kiêu căng của ngài Tì lăng già bà bạt, thói quen nhún nhảy chơi đùa của ngài Ma đầu bà tư tra, thói quen nhai suốt ngày như trâu của ngài Kiều phạm bát đề... đều là Tập khí; chỉ có đức Phật mới vĩnh viễn đoạn trừ cả chính thể và tập khí của phiền não.Tông Duy thức cho Tập khí là tên khác của chủng tử(hạt giống), là phần khí được huân tập bởi hiện hành, có năng lực sinh ra tư tưởng, hành vi và tất cả các pháp hữu vi được chứa đựng trong thức A lại da. Tập khí lại được chia làm 3 loại là: 1. Danh ngôn tập khí: Chỉ cho các chủng tử nương vào danh ngôn(biểu tượng của lời nói) mà được huân tập thành, là nguyên nhân trực tiếp, làm cho tất cả các pháp hữu vi đều tự sinh. Cũng tức là các chủng tử do khái niệm về danh tướng được huân tập trong thức A lại da mà hình thành. 2. Ngã chấp tập khí: Tập khí(chủng tử)nương vào ngã chấp mà được huân tập thành. Cũng tức là các chủng tử do ngã kiến được huân tập trong thức A lại da mà thành. 3. Hữu chi tập khí: Những chủng tử nghiệp thiện ác do nhân của Tam hữu (sự sống còn trong 3 cõi) huân tập thành. Ngoài ra, khí phần do các thiện căn tích tập được cũng gọi là Tập khí. Như phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nói: Bồ tát Đệ thập địa có 10 loại Tập khí: Tập khí Bồ đề tâm (cũng gọi Bản khí), tập khí Thiện căn(cũng gọi Thành hành khí), tập khí Giáo hóa chúng sinh(hạ hóa), tập khí Kiến Phật(thượng kiến), tập khí Ư thanh tịnh độ thụ sinh (thụ sinh), tập khí Bồ tát hạnh(đại hạnh), tập khí Đại nguyện(thập nguyện), tập khí Ba la mật(thập độ), tập khí Xuất sinh bình đẳng pháp(lí trí) và tập khí Chủng chủng phân biệt cảnh giới(lượng tri). Mười loại tập khí này đều vì áp phục và đoạn trừ các phiền não mà tích lũy, huân tập khí phần các thiện hạnh, nên gọi là Tập khí. [X. luận Đại trí độ Q.27; luận Du già sư địa Q.52; luận Thành duy thức Q.8; Thập địa kinh luận Q.11; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Hoa nghiêm kinh sớ Q.53]. (xt. Chủng Tử).
Phật Quang Đại Từ Điển
cơ duyên
(機緣) Cơ, căn cơ - Duyên, nhân duyên. Căn cơ của chúng sinh có đủ nhân duyên để tiếp nhận sự giáo hóa của Phật và Bồ tát, gọi là Cơ duyên. Việc nói pháp giáo hóa đều lấy cơ căn chín mùi làm duyên mà phát khởi. Ngoài ra, các Thiền sư khi dạy đệ tử, rất nhấn mạnh ở điểm thuận ứng các cơ duyên mà ban bố giáo pháp. Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục (Đại 47,500 trung), nói: Ông xem lông mày có bao nhiêu sợi là có bấy nhiêu cơ duyên, nếu người học không hiểu, thì đó là kẻ cuồng tâm. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1 - kinh Lục tổ đàn phẩm Cơ duyên - Pháp hoa huyền nghĩa Q.6 phần trên].
Phật Quang Đại Từ Điển
Ngũ dục
五欲; C: wǔyù; J: goyoku;
Có ba nghĩa sau: 1. Sự khao khát từ 5 giác quan. Năm loại ham muốn phát sinh từ sự tiếp xúc của các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với cảnh trần. Là sự ham muốn thường tình của người đời; 2. Nói đến 5 đối tượng trong ý nghĩa chính nó là nguyên nhân của những tham dục nầy; 3. Năm loại tham dục: tài sản (tài), nữ sắc (sắc), ăn uống (thực), tiếng khen (danh), ngủ nghỉ (thùy).
Từ Điển Phật Học Huệ Quang
thế gian
(世間) Phạm: Loka. Hán âm: Lộ ca, Hán dịch: Hủy hoại. Phạm: Laukika, Hán dịch: Thế tục, phàmtục. Đồng nghĩa: Thế giới: Gọi tắt: Thế. Chỉ cho 3 cõi bị các phiền não trói buộc và tất cả hiện tượng thuộc về các pháp hữu vi hữu lậu. Thế nghĩa là đổi dời; gian nghĩa là gián cách. Thế gian bao hàm hữu tình và quốc độ(khí thế gian). Luận Phật tính quyển 2 thì cho rằng Thế có 3 nghĩa: 1. Đối trị: Vì có thể bị tiêu diệt hết. 2. Bất tĩnh trụ: Vì niệm niệm sinh diệt khôngdừng. 3. Hữu đảo kiến: Vì điên đảo, hư vọng. Về phân loại thế gian thì luận Câu xá quyển 8 nêu 2 loại thế gian: 1. Hữu tình thế gian(cũng gọi Chúng sinh thế gian, Hữu tình giới): Chỉ cho tất cả hữu tình chúng sinh (chúng sinh có tình thức). 2. Khí thế gian(cũng gọi Vật khí thế gian, Khí thế giới, Khí giới, Khí): Chỉ cho đất nước, núi sông là nơi các loài hữu tình cư trú. Luận Đại trí độ quyển 70 nêu 3 loại thế gian:1. Chúng sinh thế gian(cũng gọi Giả danh thế gian): Nghĩa là giả lập các danh tự trên các pháp như 10 cõi, 5 ấm... mỗi mỗi khác nhau. 2. Ngũ ấm thế gian(cũng gọi Ngũ chúng thế gian, Ngũ uẩn thế gian): Chỉ cho thế gian do 5 ấm: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức hình thành. 3. Quốc độ thế gian: Chỉ cho khí thế gian, tức là nơi nương ở của các loài chúng sinh.Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 nêu 3 loại thế gian: 1. Khí thế gian: Chỉ cho 3 nghìn thế giới, là những cảnh giới được đức Như lai hóa độ. 2. Chúng sinh thế gian: Chỉ cho những căn cơ được đức Như lai giáo hóa. 3. Trí chính giác thế gian: Chỉ cho thân trí năng hóa của đức Như lai. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí thì Ngũ uẩn thế gian và Chúng sinh thế gian là đồng nghĩa; Hữu tình thế gian và Khí thế gian giống với cách phân loại Chính báo và Y báo. Từ ngữ Thế gian chỉ được dùng cho cõi mê, còn từ Báo thì thông dụng cả cõi mê và cõi ngộ. Vượt khỏi thế gian(thế tục) thì gọi là Xuất thế gian, cho nên đối với các giai vị Bồ tát, trí, thiền định... có lập thế gian và xuất thế gian khác nhau. Chẳng hạn như thường nói nhân quả của cõi mê(khổ đế, tập đế) thuộc thế gian, nhân quả của cõi ngộ(diệt đế, đạo đế) thuộc xuất thế gian; trước giai vị Kiến đạo(Sơ địa) thuộc thế gian, Kiến đạo trở lên thuộc xuất thế gian. Ở đây tông Hoa nghiêm cho rằng người tu hành còn phải vượt qua xuất thế gian thông thường(xuất thế của Tam thừa), cho nên lập riêng xuất xuất thế(tức Xuất xuất thế gian). Ngoài ra, Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển trung, phần đầu, lập 2 loại thế gian là Phi học thế gian và Họcgiảthế gian. Đại bátNiết bàn kinh sớ quyển 18 thì nêu 6 loại thế gian như Ngũ ấm thế gian, Ngũ dục thế gian...
Phật Quang Đại Từ Điển
thánh nhân
(聖人) I. Thánh Nhân. Phạm:Àrya. Cũng gọi Thánh giả, Thánh. Chỉ cho bậc đã chứng được Thánh trí và ở địa vị Kiến đạo trở lên. Vì người ở địa vị Kiến đạo trở lên cuối cùng sẽ hoàn thành Thánh trí vô lậu nên gọi là Thánh nhân. II. Thánh Nhân. Chỉ cho Phật, Bồ tát và những người quyền hóa(phương tiện thị hiện làm người nhưng có đức hạnh cao hơn người). III. Thánh Nhân. Từ tôn xưng các bậc cao tăng, thạc đức. Người Ấn Độ thường tôn xưng các bậc Luận sư là Thánh giả. Tại Nhật bản, các bậc cao tăng cũng được tôn xưng là Thánh nhân.
Phật Quang Đại Từ Điển
thành phật
(成佛) Phạm: Buddho bhavati. Tạng: Ftshaí-rgya-ba. Cũng gọi Tác Phật, Đắc Phật, Thành đạo, Đắc đạo, Thành chính giác, Thành bồ đề, Chứng bồ đề, Hiện đẳng giác, Đắc Phật quả. Chỉ cho Bồ tát tu hành trong nhiều kiếp, nhân hạnh tròn đầy, hoàn thành đức lợi mình, lợi người mà đạt đến ngôi vị cùng tột.Trong tiếng Phạm, Thành Phật có các từ khác nhau như: Bodhiô spfzate Miếu Thành Hoàng được vẽ trong Tục kỉ văn đời Thanh (nghĩa là chứng Bồ đề tối thượng), Abhisaôbudhyate (nghĩa là hiện Đẳng giác),Buddhatvam avàpnoti (nghĩa là được tính Phật), Bodhiôlabhate, Bodhiprapta(nghĩa là được Bồ đề tối thượng), Buddho vibudhyate(nghĩa là giác ngộvà trở thành Phật)... Tiểu thừa giáo, như luận Đại tì bà sa quyển 143 quyển 176... cho rằng trong 3 thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thì chỉ có Bồ tát là có khả năng thành Phật. Tam thừa giáo trong Đại thừa cũng lập thuyết Ngũ tính các biệt, chủ trương Thanh văn và Duyên giác không thể trở thành Phật. Nhưng Nhất thừa giáo như kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn thì cho rằng Nhị thừa đều thành Phật, hơn nữa, còn chủ trương ngay cả những người phỉ báng Phật pháp như Nhất xiển đề... cũng có thể thành Phật. Lại kinh Cù đàm di trong kinh Trung a hàm quyển 28 và luật Ngũ phần quyển 29, cho rằng người nữ có 5 chướng, không thành Phật được; trái lại, kinh Đạo hành bát nhã quyển 6, kinh Duy ma cật quyển hạ và kinh Pháp hoa quyển 4 thì có thuyết Chuyển nữ thành nam, nghĩa là người nữ cũng có khả năng thành Phật, đây là giáo chỉ đặc hữu của Đại thừa. Ngoài ra, Tiểu thừa giáo chỉ bàn vấn đề nhờ có tu hành mới thành Phật(tu đắc), nhưng Đại thừa giáo thì chủ trương chúng sinh vốn có sẵn nhân thành Phật(tính đắc), do đó cho rằng chúng sinh đều có khả năng thành Phật.Thành Phật phải trải qua thời gian rất lâu dài và qua nhiều thứ bậc khác nhau. Tiểu thừa chủ trương phải qua 3 a tăng kì kiếp và 100 đại kiếp. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 176 thì Bồ tát trong 3 vô số kiếp tu các pháp Bồ đề phần và các hạnh Ba la mật đa, rồi lại trong 100 đại kiếp tu nghiệp tướng hảo(tu phúc nghiệp 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp), vĩnh viễn đoạn trừ tất cả si mê nhiễrn ô và bất nhiễm ô, biết rõ tất cả hạnh tự lợi, lợi tha mới thành Phật. Còn Đại thừa thì cho rằng tu hành phải trải qua 3,7 hoặc 33 a tăng kì kiếp mới thành Phật. TheoNhiếp đại thừa luận thích quyển 9,11 (bản dịch đời Lương), Đại thừa lập các giai vị tu hành từ Thập địa cho đến 40 giai vị, trong 33 vô số đại kiếp chứa góp tư lương phúc đức, trí tuệ, tu 10 hạnh Ba la mật... thành tựu đại bồ đề, hết cõi vị lai lợi lạc vô cùng. Tông Thiên thai cho rằng Biệt giáo phải trải qua thời gian lâu dài mới tiến dần đến quả Phật; nhưng Viên giáo thì ở ngay Sơ trụ(Phát tín trụ)trong Thập trụ cũng có thể thành Phật tức khắc. Tông Hoa nghiêm thì y cứ vào Thắng thân, Kiến văn, Nhất thời, Nhất niệm và Vô niệm mà chủ trương 5 trường hợp thành Phật mau chóng. Đó là: 1. Y cứ vào thắng thân: Tức nhờ vào thân thù thắng của con Luân vương hoặc Đâu suất thiên tử mà thành Phật ngay nơi thân hiện tại. 2. Y cứ vào kiến văn: Tức thấy nghe diệu pháp, tin chắc quyết định, chứng đắc 10 lực của Phật mà được Bồ đề. 3. Y cứ vào nhất thời: Tức như đồng tử Thiện tài ở nơi thiện tri thức, chỉ trong nhất thời chứng được pháp Phổ hiền. 4. Y cứ vào nhất niệm: Tức y cứ vào niệm tục đế, chỉ trong một niệm khế hợp, chứng được pháp Phổ hiền. 5. Y cứ vào vô niệm: Tức hiểu rõ tất cả pháp chẳng sinh chẳng diệt và thấy được Phật chân thực. Ngoài ra, tông Hoa nghiêm còn có thuyết Tam chủng thành Phật. 1. Nói về vị: Vào giai vị Thập giải liền thành Phật. 2. Nói về hạnh: Không theo thứ tự giai vị mà đối với mỗi hạnh được hoàn thành thì liền thành Phật. 3. Nói về lí: Nói theo lí thì xưa nay chúng sinh vốn tức là Phật. Và thuyết Tam sinh thành Phật: 1. Kiến văn sinh: Giai vị Tín thấy nghe giáo pháp. 2. Giải hành sinh: Giai vị tu hành mà được trí tuệ. 3. Chứng nhập sinh: Giai vị được quả Phật tột cùng. Còn kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển hạ thì cho rằng mỗi một giai vị tu hành của Bồ tát đều là Phật, cho nên cảnh giới Thập tín mãn vị gọi là Tín mãn thành Phật; cảnh giới Thập trụ mãn vị gọi làGiải mãn thành Phật; Bồ tát tu hành hoàn thành Thập địa mãn vị gọi là Hành mãn thành Phật; hoàn toàn đạt đến cảnh giới của quả Phật thì gọi là Chứng mãn thành Phật. Bốn giai vị trên đây được gọi là Tứ mãn thành Phật. Trong Mật giáo thì có 3 thuyết Tức thân thành Phật là Lí cụ thành Phật, Gia trì thành Phật và Hiển đắc thành Phật. Thiền tông thì chủ trương Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, cũng tức là dùng việc tọa thiền thấy suốt tự tâm hiện thực, như vậy thì có thể mở ra manh mối thành Phật. Lại có thuyết Cây cỏ thành Phật. Các nhà Thiên thai y cứ vào nghĩa Nhất sắc nhất hương đều là Trung đạo và các nhàMật giáo thì y cứ vào thuyết Lục đại duyên khởi mà luận về Phi tình thành Phật. Tại Nhật bản thì Tịnh độ chân tông có thuyết Vãng sinh tức thành Phật, cho rằng cùng lúc sinh về Tịnh độ của Phật A di đà tức là thành Phật. Tông Nhật liên thì chủ trương xướng niệm đề mục (tên kinh Diệu pháp liên hoa) tức có thể thụ trì thành Phật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.16; phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa Q.5; kinh Duy ma cật Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.177; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.7; luận Thành duy thức Q.7; luận Câu xá Q.12; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, hạ; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần đầu]. (xt. Tam Sinh Thành Phật, Tức Thân Thành Phật).
Phật Quang Đại Từ Điển
ác nghiệp
(惡業) Đối lại với Thiện nghiệp. Tức là những hành vi trái lí do thân, khẩu, ý tạo nên. Chỉ những việc làm xấu, lời nói xấu và ý nghĩ xấu của thân, miệng, ý, có khả năng dẫn đến quả khổ trong hiện tại và vị lai. Thông thường chỉ sự tạo nghiệp ngũ nghịch, thập ác. Kinh Hoa Nghiêm (40 quyển) quyển 40 (Đại 10, 847 thượng), nói: Xưa kia tôi gây bao nghiệp ác, đều bởi vô thủy tham sân si. [X. kinh Lục Ba La Mật Q.5; Câu Xá Luận Quang Kí Q.13]. (xt. Thiện Nghiệp).
Phật Quang Đại Từ Điển
thế tôn
(世尊) Người được thế gian tôn kính, cũng là bậc tối thắng trong thế giới, 1 trong 10 tôn hiệu của đức Như lai. Trong tiếng Phạm có rất nhiều từ được dịch là Thế tôn, nhưLoka-nàtha(Thế chủ),Loka-jyewỉha(Bậc tối tôn trong thế gian), Loka-vid (Thế gian giải), Lokàdhipati(Bậc tối thắng trong thế gian), Nàtha (Chủ),Nàyaka (Đạo sư), Sugata (Thiện thệ),Mahà-fwi(Đại tiên),Mahàvìra(Bậc Đại hùng),Tàyin(Người cứu độ), Anuttara (Vô thượng sĩ), Dharma-ràja (Pháp vương)... Nhưng trong các kinh luận thường sử dụng từ ngữ Bhagavat, Hán âm: Bà già bà, Bà nga phạ đế, Bà già phạm, Bạc già phạm. Ngoài dịch ý là Thế tôn, còn dịch thẳng là Hữu đức, Hữu danh thanh... Nghĩa là người có uy đức, tiếng tăm, tôn quí... Trong đó, từ ngữ Thế tôn là dễ hiểu nhất, cho nên xưa nay phần nhiều dịch giả Trung quốc thường dùng. Nhưng ở Ấn độ, từ ngữ Thế tôn thường được dùng để tôn xưng những người cao quí nói chung, chứ không phải chỉ dùng trong Phật giáo. Còn trong Phật giáo thì từ ngữ Thế tôn chỉ đặc biệt được dùng để tôn xưng đức Phật.
Phật Quang Đại Từ Điển
tâm chân
(心真) Chỉ cho chân tính của tâm tự tính thanh tịnh mà ai ai cũng sẵn có. Bởi vì tâm tính của chúng ta vốn thanh tịnh, xa lìa phiền não, không có nhiễm ô, cho nên trong các kinh điển phần nhiều gọi đó là Tự tính thanh tịnh, Bản tính thanh tịnh tâm, hoặc Tính tịnh tâm, cũng gọi Như lai tạng tâm, hoặc Phật tính. (xt. Tự Tính Thanh Tịnh Tâm).
Phật Quang Đại Từ Điển
thuyết pháp
(說法) Phạm: Dharma-dezanà. Pàli: Dhamma-desanà. Đồng nghĩa: Thuyết giáo, Thuyết kinh, Diễn thuyết, Pháp thí, Pháp độc, Pháp đàm, Đàm nghĩa, Tán thán, Khuyến hóa, Xướng đạo.Giảng nói Phật pháp để giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh. Việc thuyết pháp của đức Phật là tùy theo năng lực, căn cơ... chúng sinh mà ban cho họ giáo pháp thích hợp để đạt đến hiệu quả trọn vẹn. Trong một hội thuyết pháp, Phật dùng một âm thanh diễn nói giáo pháp, người nghe tùy theo căn cơ mà hiểu sâu, cạn khác nhau. Cứ theo kinh Tư ích phạm thiên sở vấn quyển 2 thì Phật dùng 5 lực dụng mà nói pháp trong 5 trường hợp sau đây: 1. Ngôn thuyết: Lời nói. Nghĩa là Phật dùng lời nói khế hợp với chân lí để nói về các pháp 3 đời, pháp thế gian và xuất thế gian, pháp có tội không tội, pháp hữu lậu vô lậu... 2. Tùy nghi: Nghĩa là Phật tùy theo năng lực, căn tính... của chúng sinh mà nói các giáo pháp thiên, viên, tiệm, đốn... 3. Phương tiện: Nghĩa là Phật dùng phương tiện khéo léo như nói bố thí sẽ được phúc lớn, giữ giới sẽ được sinh lên cõi trời... để khuyến khích chúng sinh tu thiện mà ra khỏi biển khổ. 4. Pháp môn: Nghĩa là đức Phật nói pháp thù thắng để hiển bày đạoBồ đề. 5. Đại bi: Vì cứu độ chúng sinh nên Phật dùng tâm đại bi dắt dẫn họ, đối với người chấp không thì nói có, với người hay oán giận thì nói từ bi... Về tư cách thuyết pháp thì có 5 hạng người gọi là Ngũ thuyết, hoặc Ngũ chủng thuyết nhân. Theo luận Đại trí độ quyển 2, Ngũ chủng thuyết nhân là: Phật, đệ tử Phật, tiên nhân, chư thiên và hóa nhân (Phật, Bồ tát hoặc La hán... ẩn tướng chân thực mà hiển hiện dưới mọi hình tượng để thuyết pháp). Trong Quán kinh sớ huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo thì nêu Ngũ chủng nhân là: Phật, Thánh đệ tử, Thiên tiên, Quỉ thần và biến hóa. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 của ngài Trừng quán thì nêu: Phật, Bồ tát, Thanh văn, chúng sinh và khí giới(núi, sông, đất đai...) giảng nói giáo pháp trong kinh Hoa nghiêm, gọi là Ngũ loại thuyết hoặc Ngũ loại thuyết pháp. Còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 của ngài Nhất hạnh thì Ngũ chủng thuyết chân ngôn là: Như lai, Kim cương tát đỏa, Nhị thừa, chư thiên và Địa cư thiên. Thuyết pháp thuộc về pháp lí, là việc mà người xuất gia phải làm. Theo phẩm Phápsư trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì người thuyết pháp phải vào nhà Như lai (có nghĩa là đại từ bi), mặc áo Như lai(nhu hòa nhịn nhục), ngồi tòa Như lai(các pháp không). Kinh Ưu bà tắc giới quyển 2 cũng nêu 16 việc liên quan đến thuyết pháp như: Thời thuyết, Chí tâm thuyết, Thứ đệ thuyết, Hòa hợp thuyết, Tùy nghĩa thuyết... [X. phẩm Tứ nhiếp trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.24; phẩm Quán thếâm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa Q.7; luật Tứ phần Q.52; luật Ngũ phần Q.18; luận Thập trụ tì bà sa Q.7; luận Du già sư địa Q.45; luận Đại trí độ Q.1, 28; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 thượng; Pháp uyển châu lâm Q.23]. (xt. Xướng Đạo).
Phật Quang Đại Từ Điển
tam tạng
(三藏) Phạm:Trìịi piỉakàni. Pàli:Tìịi piỉakàni. Cũng gọi Tam pháp tạng. Tạng (Phạm:Piỉaka) nghĩa là cái đồ chứa đựng, kho lẫm, hòm đan bằng tre. I. Tam Tạng. Chỉ cho Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng.Cứ theo phẩm Thuật cầu trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 thì Tạng nghĩa là nhiếp, tức là tổng nhiếp tất cả những điều nên biết. Nếu theo thuyết của ngài Giác âm thì tạng nghĩa là am kí(ghi nhớ thành thuộc), tức thầy trò dùng phương pháp tụng thuộc lòng mà truyền miệng cho nhau. Theo kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội quyển trung thì Tạng nghĩa là đồ chứa, hàm ý là chứa đựng tất cả các giáo pháp cần phải biết. Đại chúng bộ và các bộ phái khác, ngoài Tạp tạng còn thêm Tam tạng..., Độc tử bộ thêm Chú tạng mà thành lập Tứ tạng; Pháp tạng bộ thêm Chú tạng và Bồ tát tạng, Nhất thuyết bộ trong Đại chúng bộ thì thêm Tạp tập tạng và Cấm chú tạng, luận Thành thực thêm Tạp tạng và Bồ tát tạng, kinh Lục ba la mật thì thêm Bát nhã ba la mật đa tạng và Đà la ni tạng. Năm tạng này gọi chung là Ngũ tạng. Ngoài ra, Kinh tạng và Luật tạng, hoặc Thanh văn tạng và Bồ tát tạng, gọi chung là Nhị tạng. 1. Kinh tạng (Phạm: Sùtràntapiỉaka,Pàli: Sutta-piỉaka, Hán âm: Tố đát lãm tạng, Tu đa la tạng, Hán dịch: Khế kinh tạng): Kinh điển do đức Phật nói, trên thì khế hợp với lí nghĩa của chư Phật, dưới thì khế hợp với căn cơ của chúng sinh. Các nghĩa trọng yếu trong giáo thuyết của đức Phật đều thuộc về bộ loại Kinh.2. Luật tạng (Phạm, Pàli:Vinayapiỉaka, Hán âm: Tì nại da tạng, Tì ni tạng, Hán dịch: Điều phục tạng): Những luật nghi do đức Phật chế có công năng sửa trị những cái xấu ác của chúng sinh, điều phục tâm tính chúng sinh; những pháp tắc sinh hoạt của giáo đoàn mà đức Phật qui định đều thuộc về bộ loại Luật. 3. Luận tạng (Phạm: Abhidharmapiỉka, Pàli: Abhidhamma-piỉaka, Hán âm: A tì đạt ma tạng, A tì đàm tạng, Hán dịch: Đối pháp tạng): Luận bàn thêm về ý nghĩa kinh điển của Phật, làm sáng tỏ những điểm súc tích để quyết định tính tướng các pháp; phát triển giáo thuyết của đức Phật rộng hơn, đến người đời sau lại dùng trí tuệ thù thắng thảo luận, giải thích thêm nữa rồi hệ thống hóa, tổ chức hóa làm cho giáo pháp hoàn chỉnh. Luận tạng cũng gọi là Luận bộ, có quan hệ mật thiết với Ma đát lí ca (hoặc Ma đắc lặc già) (Phạm: Màtfkà,Pàli:Màtikà, Hán dịch: Bản mẫu, Luận mẫu), Ưu ba đề xá (Phạm: Upadeza,Pàli:Upadesa, Hán dịch: Luận nghị). Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 1 thì những điều mà Tam tạng hiển bày đều khác nhau: Những điều mà Kinh tạng hiển bày là thứ tự, những điều mà Luật tạng hiển bày là duyên khởi, những điều mà Luận tạng hiển bày là tính tướng; Kinh tạng nói về các thuyết khác nhau, Luật tạng giảng về các học xứ, Luận tạng thì phân biệt tự tướng và cộng tướng của các pháp. Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 cũng nêu ra 9 nguyên nhân thành lập Tam tạng, đó là: 1. Vì đối trị sự ngờ vực nên thiết lập Tu đa la. 2. Để đối trị sự thụ dụng nghiêng hẳn về 2 bên, khiến xa lìa lạc hạnh cũng như khổ hạnh, nên thiết lập Ti ni. 3. Vì đối trị kiến thủ của tự tâm nên thiết lập A tì đàm. 4. Để nói 3 học nên thiết lập Tu đa la. 5. Để thành tựu giới học, tâm học nên thiết lập Tì ni. 6. Vì thành tựu tuệ học nên thiết lập tì đàm. 7. Vì mục đích giảng nói pháp và nghĩa, nên thiết lập Tu đa la. 8. Để thành tựu pháp và nghĩa nên thiết lập Tì ni. 9. Vì mục đích thông suốt pháp và nghĩa nên thiết lập A tì đàm. Thích thị yếu lãm quyển trung cũng viện dẫn thuyết của A tì đạt ma tập, cho rằng dùng Kinh tạng để đối trị phiền não Nghi, dùng Luật tạng để đối trị Tùy phiền não thụ dụng hai bên thiên lệch, dùng Luận tạng để đối trị Tùy phiền não tự kiến thủ chấp. Ngoài ra, Lạt đạt ma giáo Tây tạng đem phối Tam tạng với Tam độc, cho rằng Luật tạng đoạn trừ tham dục, Kinh tạng đoạn trừ sân khuể và Luận tạng đoạn trừ ngu si. Về thứ tự của Tam tạng thì cho đến nay vẫn chưa có luận thuyết nhất định, có thuyết chủ trương nếu nói theo sự kết tập trước sau của Tam tạng, thì thứ tự là Kinh, Luật, Luận, còn nếu nói theo thứ tự tu hành thì là Luật, Kinh, Luận. Nếu phối hợp Tam tạng với Tam học thì Kinh tương đương với Định học, Luật tương đương với Giới học, còn Luận thì tương đương với Tuệ học. Đồng thời, Kinh bao hàm cả giới, định, và tuệ, Luật bao hàm giới và định, còn Luận thì chỉ bao hàm tuệ học mà thôi. Ngoài ra, còn có các phương diện khác nhau về việc thiết lập Tam tạng. Từ xưa đến nay, Tam tạng vốn chỉ cho Thánh điển của Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái, cũng tức là Tam tạng giáo(Tạng giáo) của Tiểu thừa, về sau, từ ngữ này được Đại thừa sử dụng, do đó, Tam tạng có Hạ thừa (Thanh văn thừa) và Thượng thừa(Bồ tát thừa) khác nhau, hợp chung lại thì thành Lục tạng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.2; luật Thập tụng Q.60; luận Phân biệt công đức Q.1, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.11; Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (bản dịch đời Đường), Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. II. Tam Tạng. Giáo pháp vì hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát mà lần lượt được nói ra, tức là Thanh văn tạng, Duyên giác tạng và Bồ tát tạng, hợp chung lại gọi là Tam tạng. 1. Thanh văn tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Thanh văn. 2. Duyên giác tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Duyên giác. 3. Bồ tát tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Bồ tát. [X. phẩm Tam tạng trong kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội Q.trung; kinh A xà thế vương Q.hạ; luận Nhập đại thừa Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. III. Tam Tạng. Tịnh độ chân tông ở Nhật bản gọi giáo pháp(pháp môn) được nói trong 3 bộ kinh của Tịnh độ là Tam tạng. Cứ theo sách Giáo hành tín chứng nói thì Tam tạng này là Phúc trí tạng, Phúc đức tạng và Công đức tạng. 1. Phúc trí tạng: Tức thành tựu viên mãn 2 thứ trang nghiêm là trí tuệ và phúc đức, là chỉ cho danh hiệu Nam mô a di đà Phật, từ đó mở ra giáo pháp của nguyện thứ 18 thuộc những hoằng nguyện chân thực nói trong kinh Đại vô lượng thọ.2. Phúc đức tạng: Tức các hạnh định thiện, tán thiện được nói trong kinh Quán vô lượng thọ, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 19 thuộc yếu môn. 3. Công đức tạng: Tức dùng danh hiệu tự lực hồi hướng được nói trong kinh A di đà, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 20 thuộc Chân môn.
Phật Quang Đại Từ Điển
phật pháp
(佛法) Giáo pháp do đức Phật nói ra, bao gồm các thứ giáo nghĩa và chân lí Phật giáo mà giáo nghĩa ấy biểu đạt. Luận Thành thực quyển 1 nêu ra 6 từ ngữ đồng nghĩa với danh từ Phật pháp gọi là Phật pháp lục danh (6 tên gọi của từ Phật pháp). Đó là: 1. Thiện thuyết: Nói đúng như thực. 2. Hiện báo: Làm cho người ta được quả báo ngayởđời hiện tại. 3. Vô thời: Không chờ đợi sao tốt sao xấu mà tùy thời tu đạo. 4. Năng tương: Dùng hạnh chân chính giáo hóa chúng sinh đến giác ngộ. 5. Lai thường: Phải tự mình chứng ngộ. 6. Trí giả tự tri: Người có trí tuệ có khả năng tự tin hiểu. Ngoài ra, Phật pháp là pháp xuất thế gian, đối lại với Vương pháp là pháp tắc do các vua chúa đặt ra để thống trị nhân dân. Sự quan hệ giữa Phật pháp và Vương pháp tùy thời tùy nơi mà có khác: Có lúc có nơi dùng Vương pháp để hộ trì Phật pháp, truyền bá Phật pháp, như các vua A dục, A nị sắc ca…... của Ấn độ, vua Lương vũ của Trung quốc...… Nhưng cũng có nơi có thời dùng Vương pháp để chống phá Phật pháp, thậm chí tiêu diệt Phật pháp, như cái họa Tam Vũ Nhất Tôn (Ba vua Vũ một vua Tôn) trứ danh trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Lại nữa, Pháp mà đức Phật chứng ngộ được chính là đạo lí duyên khởi, chân lí của pháp giới. Nói theo nghĩa rộng thì tất cả lời nói chân thiện mĩ, cho đến các sự lí chân thực, chính xác…... đều là Phật pháp. Còn nói theo nghĩa hẹp thì Phật pháp thông thường chuyên chỉ cho giáo pháp do đức Phật Thích ca mâu ni nói ra. [X. kinh Tạp a hàm Q.20; phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Kim cương bát nhã; kinh Đại bảo tích Q.4].
Phật Quang Đại Từ Điển
Công đức
(s: guṇa, 功德): âm dịch là Cụ Nẵng (懼曩), Ngu Nẵng (麌曩), Cầu Na (求那); ý dịch là công đức, phước đức; cũng chỉ cho quả báo có được nhờ làm việc thiện. Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 3 có ghi lại đoạn vua Võ Đế (武帝, tại vị 502-549) nhà Lương hỏi Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨) rằng: “Trẫm tức vị dĩ lai, tạo tự tả kinh độ tăng bất khả thắng kỷ, hữu hà công đức ? Sư viết: 'Tinh vô công đức.' Đế viết: 'Hà dĩ vô công đức ?' Sư viết: 'Thử đản nhân thiên tiểu quả hữu lậu chi nhân, như ảnh tùy hình tuy hữu phi thật.' Đế viết: 'Như hà thị chơn công đức ?' Đáp viết: 'Tịnh trí diệu viên thể tự không tịch, như thị công đức bất dĩ thế cầu' (朕卽位已來、造寺寫經度僧不可勝紀、有何功德、師曰、幷無功德、帝曰、何以無功德、師曰、此但人天小果有漏之因、如影隨形雖有非實、帝曰、如何是眞功德、答曰、淨智妙圓體自空寂、如是功德不以世求, Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, lập chùa, chép kinh, độ tăng chúng, không thể tính hết, vậy có công đức gì không ? Tổ sư đáp rằng: 'Đều không có công đức gì cả.' Vua hỏi: 'Vì sao không có công đức ?' Tổ sư đáp: 'Đây chỉ là quả báo nhỏ của trời người, có nhân hữu lậu, như bóng theo hình tuy có mà không thật.' Vua hỏi: 'Thế nào là công đức chân thật ?' Trả lời rằng: 'Trí trong sạch tròn đầy, thể tự vắng lặng, công đức như vậy không lấy thế gian mà cầu được).” Trong Thắng Man Bảo Quật (勝鬘寶窟, Taishō Vol. 37, No. 1744) quyển Thượng giải thích về nghĩa công đức rằng: “Ác tận viết công, thiện mãn viết đức; hựu đức giả đắc dã, tu công sở đắc, cố danh công đức dã (惡盡曰功、善滿稱德、又德者得也、修功所得、故名功德也, điều ác hết gọi là công, việc thiện tròn đầy gọi là đức; lại nữa đức có nghĩa là đắc [có được], nhờ công năng tu tập mà có được, nên gọi là công đức vậy).” Sự sâu xa, rộng lớn của công đức được ví như biển, nên được gọi là công đức hải (s: guṇa-sāgara, 功德海, biển công đức); rất quý trọng như báu vật nên có tên là công đức bảo (s: guṇa-ratna, 功德寶); và một số từ khác đi với công đức như công đức lâm (功德林, rừng công đức), công đức tụ (功德聚, sự tích lũy công đức), (功德莊嚴, trang nghiêm công đức), công đức tạng (功德藏, kho tàng công đức), v.v.
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
thánh hiền
(聖賢) Từ gọi chung Thánh nhân và Hiền nhân. Người tu hành Phật đạo, khi đạt đến giai vị Kiến đạo trở lên, gọi là Thánh; còn người chưa đến Kiến đạo, chỉ mới bỏ các điều ác thì gọi là Hiền. Trong luận Câu xá có nêu thuyết Thất hiền, Thất thánh. Thất hiền cũng gọi là Thất gia hạnh, tức là: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ, Tổng tướng niệm trụ(trên đây là Tam hiền), Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp (trên 0939252565đây là Tứ thiện căn). Thất thánh là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát. Còn Đại thừa thì có thuyết Tam hiền, Thập thánh. Tam hiền chỉ do Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng; Thập thánh thì chỉ cho Bồ tát từ Sơ địa đến Thập địa. Tập tự Thánh giáo tự của Vương hi chi. Ngoài ra, Thập bát hữu học và Cửu vô học, được gọi chung là Nhị thập thất hiền thánh, nhưng số này đều là các bậc Thánh, chứ không phân biệt Hiền và Thánh. (xt. Hữu Học, A La Hán, Hiền Thánh).
Phật Quang Đại Từ Điển
thù thắng
(殊勝) Tính cách siêu tuyệt, hiếm có của một sự kiện gọi là Thù thắng. Như trong kinh thường tán thán Tịnh độ cực lạc, vì đức Phật A di đà đã phát 48 đại nguyện độ khắp các chúng sinh, bất cứ ai, hễ có một niệm thiện thì đều được vãng sanh, hóa sinh trong hoa sen, đó thật là một việc hiếm có.
Phật Quang Đại Từ Điển
pháp sư
(法師) Phạm: Dharma-bhàịaka. Pàli: Dhamma-kathika. Cũng gọi Thuyết pháp sư, Đại pháp sư. Chỉ cho những người thông hiểu Phật pháp và có khả năng dắt dẫn chúng sinh tu hành. Nói theo nghĩa rộng thì Pháp sư là chỉ chung cho đức Phật và các vị đệ tử của Ngài, còn nói theo nghĩa hẹp thì danh từ Pháp sư chuyên chỉ cho các bậc tu hành thông hiểu kinh hoặc luật, gọi là Kinh sư hoặc Luật sư. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc), Phật, Bồ tát và các vị Đại đệ tử của Phật đều biết pháp sâu xa vi diệu, lại biết rõ cả căn cơ lợi độn của chúng sinh mà tùy nghi thuyết giảng cho họ nghe, nên gọi là Đại pháp sư. Liên quan đến vấn đề tư cách của Pháp sư thì, theo luận Du già sư địa quyển 81, luận Thập trụ tì bà sa quyển 7 và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 43 của ngài Trừng quán, Pháp sư phải có những điều kiện sau đây: 1. Có đủ 10 đức: Thông hiểu pháp nghĩa, có khả năng diễn thuyết, ở trong chúng không e sợ, tài hùng biện thao thao, có phương tiện khéo léo, tu hành đúng như pháp, đầy đủ uy nghi, dũng mãnh tinh tiến, thân tâm không mỏi mệt, thành tựu sức nhịn nhục. 2. Thực hành 4 pháp: a) Học rộng nghe nhiều, có tài văn chương. b) Biết rõ tướng sinh diệt của các pháp thế gian, xuất thế gian. c) Được thiền định, trí tuệ; trong các loại kinh pháp, có thể tùy thuận. d) Lời nói và việc làm phải ăn khớp với nhau. Phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa quyển 4 và phẩm Pháp sư công đức quyển 6, căn cứ vào khả năng chuyên môn và lĩnh vực hoằng pháp khác nhau mà chia Pháp sư làm 5 loại: Thụ trì, đọc kinh, tụng kinh, giảng diễn và biên chép. Ngoài ra, ở Trung quốc, các bậc đạo cao đức trọng, học vấn uyên thâm như các ngài Đạo an, Tuệ viễn... được gọi là Pháp sư. Nhưng, đối với các nhà phiên dịch kinh, luật, luận có những cống hiến lớn lao, vượt trội như các ngài Cưu ma la thập, Huyền trang... thì phần nhiều được gọi là Tam tạng pháp sư để phân biệt với cách xưng hô Thiền sư, Luật sư v.v... [X. kinh Tạp a hàm Q.1, 12; kinh Phạm võng Q.hạ; luật Ngũ phần Q.3; Thập địa kinh luận Q.11; luận Thuận chính lí Q.44; Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu; Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Sư).
Phật Quang Đại Từ Điển
Xuất gia
(s: pravrajyā, p: pabbajjā, j: shukke, 出家): âm dịch là Ba Phệ Nễ Da (波吠儞耶), tức ra khỏi sinh hoạt gia đình thế tục, chuyên tâm tu tập tịnh hạnh của bậc Sa Môn (s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門). Từ này còn chỉ chung cho những người xuất gia, đồng nghĩa với Sa Môn, Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘); đối lập với từ tại gia (在家). Trong Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký (溈山警策句釋記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1240) quyển Hạ giải thích xuất gia có 2 nghĩa: “Xuất gia hữu nhị, nhất xuất thế tục gia, túc ly trần tục, viễn tham tri thức; nhị xuất phiền não gia, đoạn vọng chứng chơn, đốn siêu Tam Hữu (出家有二、一出世俗家、足離塵俗、遠參知識、二出煩惱家、斷妄證眞、頓超三有, xuất gia có hai, một là ra khỏi nhà thế tục, chân xa lìa trần tục, đi xa tham vấn tri thức; hai là ra khỏi nhà phiền não, đoạn sai lầm chứng chân thật, vượt ra khỏi Ba Cõi).” Hay trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh Chú (四十二章經註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 37, No. 669) lại giải thích xuất gia có 3 nghĩa: “Cát ái từ thân, thân xuất gia dã; thức tâm đạt bổn, tâm xuất gia dã. Xuất gia hữu tam, nhất từ thân, xuất thế tục gia; nhị ngộ đạo, xuất Ngũ Uẩn gia; tam chứng quả, xuất Tam Giới gia (割愛辭親、身出家也、識心達本、心出家也、出家有三、一辭親、出世俗家、二悟道、出五蘊家、三證果、出三界家, cắt yêu thương, từ cha mẹ là thân xuất gia; biết rõ tâm, đạt nguồn chơn là tâm xuất gia; xuất gia có ba, thứ nhất từ cha mẹ, ra khỏi nhà thế tục; thứ hai ngộ đạo, ra khỏi nhà Năm Uẩn; thứ ba chứng quả, ra khỏi nhà Ba Cõi).” Bên cạnh đó, Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 23 cho rằng xuất gia có 4 nghĩa: “Nhất xuất trần tục ân ái gia, nhị xuất Tam Giới hỏa trạch gia, tam xuất thô hoặc phiền não gia, tứ xuất tế hoặc Vô Minh gia, xuất đắc tứ chủng gia, thỉ xưng Nạp Tăng gia (一出塵俗恩愛家、二出三界火宅家、三出麤惑煩惱家、四出細惑無明家、出得四種家、始稱衲僧家, thứ nhất ra khỏi nhà ân ái trần tục, thứ hai ra khỏi nhà bốc lửa Ba Cõi, thứ ba ra khỏi nhà phiền não thô hoặc, thứ tư ra khỏi nhà Vô Minh tế hoặc, ra khỏi được bốn loại nhà ấy, mới gọi là nhà Nạp Tăng).” Ngoài ra, xuất gia còn có 3 loại khác là thân xuất gia mà tâm không xuất gia, tâm xuất gia mà thân không xuất gia, và cả thân và tâm đều xuất gia. Phàm người phát tâm xuất gia thì phải cạo bỏ râu tóc, xả đi áo quần thế tục mà mang vào áo hoại sắc; cho nên xuất gia còn được gọi là lạc sức (落飾), thế phát (剃髮), lạc phát nhiễm y (落髮染衣), thế phát nhiễm y (剃髮染衣), thế nhiễm (剃染), lạc nhiễm (落染), trĩ nhiễm (薙染). Trong 7 chúng đệ tử của Phật, ngoại trừ 2 chúng tại gia là Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞) và Ưu Bà Di (s, p: upāsikā, 優婆夷); 5 chúng còn lại thuộc hàng ngũ xuất gia là Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘), Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼), Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼), Thức Xoa Ma Na (s: śikṣamāṇa, p: sikkhamānā, 式叉摩那); được gọi là Ngũ Chúng Xuất Gia. Từ xưa, xuất gia vốn phát xuất từ Ấn Độ, từ thời đại Phệ Đà (s: Veda, 吠陀) đã có người từ bỏ thế tục, xa gia đình để cầu giải thoát. Về sau, giáo đồ Bà La Môn kế thừa phong tục này, phần nhiều vào trong rừng sâu thanh vắng, chuyên tâm tu đạo. Phật Giáo khởi đầu từ việc xuất gia học đạo của đức Thích Tôn, về sau mới tổ chức thành giáo đoàn. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc quan trọng phải tuân thủ khi xuất gia là phải được sự chấp thuận của cha mẹ. Cho nên, trong Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (根本說一切有部毘奈耶破僧事, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 17 có khẳng định rằng: “Phụ mẫu bất thính, bất đắc xuất gia thọ giới (父母不聽、不得出家受戒, cha mẹ không bằng lòng, không được xuất gia thọ giới).” Có khá nhiều tác phẩm tranh vẽ, điêu khắc về hình tượng xuất gia của đức Phật, tối cổ nhất là tác phẩm ở Đại Tháp Madras, Amarāvatī, Ấn Độ. Trên cửa phía Đông của Đại Tháp Sanchi ở miền Trung Ấn cũng có các phù điêu diễn tả cảnh tượng đức Phật xuất gia như thế nào. Về phía Trung Quốc, tại Thê Hà Tự (棲霞寺) ở Giang Tô (江蘇), Linh Nham Quật Tự (靈巖窟寺) ở Sơn Tây (山西), vẫn còn những bức phù điêu khắc cảnh đức Thích Tôn đến nơi thanh tĩnh, cỡi bỏ mũ báu trao cho Xa Nặc (s: Chandaka, p: Channa, 車匿), rồi tự lấy bảo kiếm cắt tóc xuất gia. Về công đức xuất gia, Phật Thuyết Xuất Gia Công Đức Kinh (佛說出家功德經, Taishō Vol. 16, No. 707) có thuật rõ như sau: “Bất xuất gia giả, mạng chung hoặc năng đọa ư Địa Ngục (不出家者、命終或能墮於地獄, người không xuất gia, sau khi mạng hết hoặc có thể bị đọa vào Địa Ngục)”; hay “dĩ nhất nhật nhất dạ xuất gia cố, mãn nhị thập kiếp, bất đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh thiên nhân, thọ phước tự nhiên (以一日一夜出家故、滿二十劫、不墮地獄、餓鬼、畜生、常生天人、受福自然, vì lấy một ngày một đêm xuất gia, nên tròn hai mươi kiếp, không đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh Trời người, hưởng phước tự nhiên).”
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
a la hán
(阿羅漢) Phạm: Arhat, Pāli: Arahant. Là một trong bốn quả Thanh văn, một trong mười hiệu của Như Lai. Còn gọi là A-lư-hán , A-la-ha, A-ra-ha, A- lê-ha, Át-ra-hạt-đế, gọi tắt là La-hán, Ra-ha. Dịch ý lá Ứng, Ứng cúng, Ứng chân, Sát tặc, Bất sinh, Vô sinh, Vô học, Chân nhân. Chỉ bậc Thánh đã dứt hết hai hoặc Kiến, Tư trong ba cõi, chứng được tận trí, xứng đáng nhận lãnh sự cúng dường của người đời.

Quả này chung cả Đại thừa và Tiểu thừa, song thông thường đều giải thích theo nghĩa hẹp, mà chuyên chỉ quả vị cao nhất chứng được trong Phật giáo Tiểu thừa. Nếu nói theo nghĩa rộng, thì chỉ riêng cho quả tối cao trong cả Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa. Cứ theo luận Thành Duy Thức quyển 3 chép, thì A-la-hán là quả vị vô học thông cả ba thừa, cho nên là tên gọi khác của đức Phật, cũng tức là một trong mười hiệu của Như Lai. Còn cứ theo luận Câu Xá quyển 24, thì A-la-hán là một trong bốn quả Thanh văn (Tứ sa-môn quả), là quả cao nhất của Tiểu thừa. Có thể được chia làm hai loại:1. A la hán hướng, chỉ những người vẫn còn ở giai đoạn tu hành mà xu hướng tới quả vị A la hán. 2. A la hán quả, chỉ các bậc Thánh đã đoạn trừ hết thảy mọi phiền não, được tận trí và nhận lãnh sự cúng dường của người đời. Những người đã chứng được quả vị này, thì bốn trí dung thông vô ngại và không còn pháp nào phải học nữa, vì thế gọi là Vô học, Vô học quả, Vô học vị; nếu lại hoàn thành tám Thánh đạo từ vô học chính kiến đến vô học chính định, và mười pháp vô lậu vô học giải thoát, vô học chính trí v.v.. thì gọi là Thập vô học chi. (Mười chi vô học). Về nghĩa của từ A la hán, cứ theo luận Đại trí độ quyển 3, Đại thừa nghĩa chương quyển 37 phần đầu, Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1, quyển 2, nêu ra ba nghĩa là sát tặc (giết giặc), bất sinh, ứng cúng, gọi là ba nghĩa A la hán, từ xưa đến nay, thuyết này thường thấy nhất. Tức là: 1. Sát tặc (giết giặc): giặc, chỉ các hoặc Kiến và Tư.

 la hán có khả năng đoạn trừ các hoặc Kiến, Tư trong ba cõi; cho nên gọi là giết giặc. 2. Bất sinh, tức vô sinh. A la hán chứng vào Niết bàn, không còn chịu sinh lại trong ba cõi nữa, cho nên gọi là bất sinh. 3. Ứng cúng, A la hán đã được lậu tận, dứt trừ tất cả phiền não, xứng đáng lãnh nhận sự cúng dường của người và trời, cho nên gọi là Ứng cúng. Phạmarhan là chủ từ số ít của chữ Phạmarhat (A la hán), dịch ý là nhận sự cúng dường, nhận sự tôn kính, vì thế, trong ba nghĩa kể trên, nghĩa ứng cúng tương đối thích hợp hơn cả. Ngoài ra, trong Đại thừa nghĩa chương quyển 20 phần cuối, ngài Tuệ viễn dùng bốn nghĩa ứng hóa hết thảy chúng sinh, dứt hết các hoặc, để giải thích A la hán. Lại Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4 thì nêu ra giải nghĩa về năm loại A la hán, như bẻ nát nan hoa bánh xe ba cõi, xa lìa tất cả nghiệp ác, không che giấu v.v... Lại nói về chủng loại A la hán, thì A la hán trong bốn quả Thanh văn, tùy sự khác nhau về căn tính bén nhạy hay chậm lụt, mà có thể chia làm sáu loại. Cứ theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 5, luận Câu xá quyển 25, thì đó là: 1.

Thoái pháp A la hán, cũng gọi Thoái tướng A la hán, chỉ những người mới chỉ gặp một chút ác duyên đã dễ dàng đánh mất quả vị đã chứng được. 2. Tư pháp A la hán, cũng gọi Tử tướng A la hán, chỉ những người vì lo sợ sẽ mất quả vị mà nghĩ đến việc tự sát. 3. Hộ pháp A la hán, cũng gọi Thủ tướng A la hán, chỉ những người có khả năng giữ gìn mà không để mất quả vị. 4. An trụ pháp A la hán, cũng gọi là Trụ tướng A la hán, chỉ những người không lui cũng không tiến, mà ở yên nơi quả vị. 5. Kham đạt pháp A la hán, cũng gọi là Khả tiến tướng A la hán, chỉ những người có khả năng tiến tới nhanh chóng mà đạt đến pháp bất động. 6. Bất động pháp A la hán, cũng gọi là Bất hoại tướng A la hán, chỉ những người vĩnh viễn không đánh mất pháp đã chứng được. Trong sáu loại A la hán được tường thuật ở trên, năm loại trước là những người độn căn, cho nên được Thời giải thoát hoặc Thời ái tâm giải thoát, còn loại sau cùng là thuộc những người lợi căn, cho nên được Bất thời giải thoát hoặc Bất động tâm giải thoát. Nói cách rõ ràng hơn, nếu gặp được nhân duyên tốt mà vào định giải thoát thì gọi làThời giải thoát, còn bất cứ lúc nào cũng có thể vào định, mà không cần phải đợi chờ một nhân duyên đặc biệt nào mới được giải thoát, thì gọi làBất thời giải thoát.

Lại những người tự mình khéo giữ gìn quả A la hán đã chứng được và giải thoát mọi phiền não, thì gọi làThời ái tâm giải thoát, còn những người đã giải thoát rồi không bị phiền não quấy rối trở lại, làm mất quả vị, thì gọi là bất động tâm giải thoát. Ngoài ra, Bất động pháp A la hán, vì sự hình thành lợi căn, nên lại chia làm hai loại, đó là: 1. Những người bẩm sinh là bất động chủng tính, gọi là Bất thoái pháp A la hán, Bất thoái tướng A la hán. 2. Những người nhờ tu hành tinh tiến mà đạt đến pháp bất động, gọi là Bất động pháp A la hán. Hai loại này cộng với năm loại thuật ở trên thành là bảy loại A la hán. Nếu lại thêm Duyên giác và Phật nữa, thì gọi chung là chín loại A la hán, hoặc gọi là chín Vô học. Lại nữa, kinh Trung A hàm quyển 30, luận Thành thật quyển 1, đem Tuệ giải thoát, Câu giải thoát thay cho Duyên giác và Phật mà thành chín Vô học. Trong đó, A la hán dùng sức trí tuệ để giải thoát phiền não, thì gọi là Tuệ giải thoát A la hán. Nếu A la hán đã được định Diệt tận, mà cả hai phương diện tâm và tuệ đều được giải thoát, thì gọi là Câu giải thoát A la hán. Hai loại này, nếu lại thêm Vô nghi giải thoát A la hán (những người trong Câu giải thoát thông suốt tất cả văn nghĩa mà được bốn vô ngại giải), thì thành là ba loại A la hán. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.34, Q.42; kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.18; kinh Di lặc thượng sinh; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.14; luận Cam lộ vị Q.thượng; luận Đại tì ba sa Q.94; Pháp hoa nghĩa sớ Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1; Phiên phạm ngữ Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.8]. (xt. Cửu Vô Học, Lục Chủng Tính, Tứ Hướng Tứ Quả).
Phật Quang Đại Từ Điển
phiền não tập
(煩惱習) Cũng gọi Dư tập, Tập khí, Tàn khí. Tập khí còn rớt lại do phiền não thường hiện khởi xông ướp(huân tập). Các bậc hiền thánh tuy đã dứt hết Phân biệt khởi Câu sinh khởi Hiện hành Chủng tử, Tập khí Hiện hành Chủng tử Tập khí Hiện hành Chủng tử, Tập khí Hiện hành Chủng tử, Tập khí Địa tiền phục Kiến đạo đoạn Địa 7 phục hết Định Kim cương dứt liền Đoạn trừ ở mỗi địa Địa tiền phục Kiến đạo đoạn Mỗi địa phục dần Mỗi địa đoạn trừ Phân biệt khởi Câu sinh khởi Phiền Não Chướng Sở Tri Chướng phiền não nhưng thói quen (tập khí) của nhiều kiếp vẫn còn sót lại. Như ngài Nan đà tuy đã chứng A la hán, nhưng vẫn còn tập khí dâm dục, nên khi nói pháp giữa thính chúng nam nữ, mắt thường nhìn về phía những người nữ và giọng nói rất hay. Cũng như ngài Xá lợi phất vì còn tập khí sân nên khi nghe đức Phật nói: Xá lợi phất ăn thức ăn bất tịnh liền nhả thức ăn ra và không nhận lời thỉnh thụ thực nữa. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 260 hạ) nói: Phiền não tập nghĩa là cái thói quen phiền não còn sót lại, như nghiệp thân, nghiệp khẩu không theo trí tuệ thì do phiền não mà sinh khởi. (xt. Tập Khí).
Phật Quang Đại Từ Điển
tam bảo
(三寶) Phạm: Tri-ratna hoặc Ratna-traya. Pàli: Ti-ratana hoặc Ratanattaya. Cũng gọi Tam tôn. Chỉ cho 3 ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo được tín đồ Phật giáo tôn kính, cúng dường. Phật (Phạm:Buddha) là bậc đã giác ngộ, có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, là Giáo chủ của Phật giáo, hoặc chỉ chung cho hết thảy chư Phật; Pháp (Phạm: Dharma) là giáo pháp của đức Phật; Tăng (Phạm: Saôgha) là tăng đoàn đệ tử của Phật tu học theo giáo pháp. Ba ngôi trên có uy đức cao tột, có năng lực mang lại giải thoát, yên vui cho hết thảy chúng sinh, như của báu thế gian, nên gọi là Tam bảo. Theo luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 2 thì Tam bảo có 6 nghĩa: 1. Hi hữu: Ba ngôi báu này trải qua trăm nghìn muôn kiếp mới có, cũng như vật trân bảo ở thế gian rất khó có được. 2. Minh tịnh: Ba ngôi báu này xa lìa tất cả pháp hữu lậu, trong sạch sáng suốt. 3. Thế lực: Ba ngôi báu này có đầy đủ uy đức tự tại không thể nghĩ bàn. 4. Trang nghiêm: Ba ngôi báu này có năng lực trang nghiêm xuất thế gian, giống như của báu ở thế gian có thể làm đẹp thế gian.5. Tối thắng: Ba ngôi báu này thù thắng mầu nhiệm hơn hết trong các pháp xuất thế gian. 6. Bất biến: Ba ngôi báu này là pháp vô lậu, tám pháp của thế gian không thể làm cho lay động, biến đổi. Đại thừa nghĩa chương quyển 6, phần đầu thì nêu 4 nghĩa thiết lập Tam bảo: 1. Vì đối trị tà tam bảo của ngoại đạo, đó là nghĩa bỏ tà về chính. 2. Phật là bậc Điều ngự sư, Pháp là giáo pháp của Phật, Tăng là đồ đệ của Phật. Chỗ chứng ngộ của 3 ngôi báu này là vô lượng, nhưng chủng loại giống nhau, cho nên lập chung là 1 pháp. Nhưng, vì nhân quả chứng ngộ có khác nhau nên chia ra thầy và trò. 3. Vì người thượng căn muốn chứng được quả Phật bồ đề mà nói Phật bảo; vì người trung căn cầu được trí tự nhiên để rõ suốt pháp nhân duyên mà nói Pháp bảo; vì người hạ căn nương theo thầy lãnh nhận giáo pháp, sự lí không trái mà nói Tăng bảo.4. Phật như thầy thuốc giỏi, Pháp như thuốc hay, Tăng như người khám bệnh; đối với 1 người đang có bệnh mà nói thì thầy thuốc giỏi, phương thuốc hay và người xem bệnh đều rất cần thiết, không thể thiếu một. Còn luận Du già sư địa quyển 64 thì nói Tam bảo có 6 nghĩa khác nhau: 1. Tướng khác nhau: Phật là tướng của sự giác ngộ tự nhiên, Pháp là quả tướng của sự giác ngộ, Tăng là tướng tu hành chân chính theo lời Phật chỉ dạy. 2. Việc làm khác nhau: Việc làm của Phật là giảng nói giáo pháp chân chính, việc của Pháp là diệt trừ các khổ phiền não do cảnh sở duyên tạo ra, việc của Tăng là dũng mãnh tinh tiến. 3. Tin hiểu khác nhau: Đối với Phật bảo phải có lòng tin hiểu gần gũi, phụng sự; đối với Pháp bảo phải có lòng tin mong cầu chứng ngộ; đối với Tăng bảo phải có lòng tin hiểu hòa hợp đồng nhất, cùng an trú trong pháp tính. 4. Tu hành khác nhau: Đối với Phật bảo phải tu hành chân chính, phụng thờ; đối với Pháp bảo phải tu chính hạnh phương tiện du già; đối với Tăng bảo phải tu chính hạnh cùng thụ tài pháp. 5. Tùy niệm khác nhau: Mỗi người nên tùy theo các tướng mà niệm Phật, Pháp và Tăng bảo. 6. Sinh phúc khác nhau: Đối với Phật y vào 1 hữu tình mà sinh phúc tối thắng; đối với Pháp y vào pháp này mà sinh phúc tối thắng; đối với Tăng y vào nhiều hữu tình mà sinh phúc tối thắng. Cứ theo các luận thì Tam bảo có nhiều chủng loại, phổ thông có 3 thứ: 1. Biệt tướng tam bảo(cũng gọi Giai thê tam bảo, Biệt thể tam bảo): Phật, Pháp, Tăng, mỗi mỗi đều khác nhau. Đầu tiên, Phật thành đạo ở gốc cây Bồ đề, chỉ thị hiện thân trượng sáu và khi nói kinh Hoa nghiêm thì đặc biệt hiện thân Phật Lô xá na, cho nên gọi là Phật bảo. Các kinh luật Đại thừa, Tiểu thừa do đức Phật nói trong 5 thời, gọi là Pháp bảo. Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát nhờ tu theo giáo pháp của Phật mà chứng được quả giác ngộ, giải thoát gọi là Tăng bảo. 2. Nhất thể tam bảo(cũng gọi Đồng thể tam bảo, Đồng tướng tam bảo): Đứng về phương diện ý nghĩa và bản chất mà nói, Phật Pháp, Tăng có 3 tên gọi khác nhau nhưng thể tính chỉ là một. Chẳng hạn như đứng trên lập trường của người giác ngộ mà nói thì Phật là thể tính linh giác, soi rõ các pháp, chẳng phải không, chẳng phải có nên gọi là Phật bảo; chỉ Phật mới có đầy đủ đức hạnh làm khuôn phép cho tất cả chúng sinh, cũng tức là pháp tính vắng lặng mà có hằng sa tính đức, đều đáng làm khuôn mẫu, cho nên cũng gọi là Pháp bảo; lại như Phật là trạng thái hòa hợp, hoàn toàn không tranh đua, mà đặc chất của Tăng đoàn là hòa hợp không tranh đua, vì thế cũng gọi là Tăng bảo. Như vậy thì trong một Phật bảo mà có đủ cả Tam bảo. 3. Trụ trì tam bảo: Chỉ cho Tam bảo lưu truyền, duy trì Phật pháp ở đời sau, tức là 3 ngôi báu: Tượng Phật, kinh Phật và các tỉ khưu xuất gia. Đại thừa cho rằng 8 tướng thành đạo là Trụ trì Phật, tất cả giáo pháp làm lợi ích cho thế gian gọi là Trụ trì pháp và chúng Tam thừa được giáo hóa, thành lập là Trụ trì tăng. Ba ngôi báu này gọi chung là Trụ trì tam bảo. Ngoài ra còn có các thuyết 4 loại Tam bảo (Nhất thể Tam bảo, Duyên lí Tam bảo, Hóa tướng Tam bảo, Trụ trì Tam bảo), 6 loại Tam bảo (Đồng thể, Biệt thể, Nhất thừa, Tam thừa, Chân thực và Trụ trì)... Về tiêu biểu của Tam bảo thì Trung quốc và Nhật bản từ xưa đến nay tương đối ít dùng phù hiệu hay hình vẽ để tượng trưng Tam bảo, nhưng ở Ấn độ thì việc sử dụng phù hiệu hoặc hình vẽ để biểu thị Tam bảo tương đối phổ biến. Có 2 loại biểu hiện khác nhau: 1. Dùng hình tháp tượng trưng Phật bảo, bánh xe tượng trưng Pháp bảo và tòa Bồ đề hoặc tòa Sư tử tượng trưng Tăng bảo. 2. Vẽ hình dáng cây kích 3 chĩa để tượng trưng Tam bảo. Còn Phật giáo Tây tạng thì dùng hạt bảo châu có 3 cánh để tượng trưng Tam bảo.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Quán Vô lượng thọ; kinh Hoa nghiêm Q.18 (bản dịch mới); phẩm Cụ túc trong luận Thành thực Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10; luận Đại tì bà sa Q.34; luận Câu xá Q.14; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Tam Qui Y, Tam Bảo Chương, Tứ Chủng Tam bảo).
Phật Quang Đại Từ Điển
tâm thanh tịnh
(心清淨) Tâm trong sạch, sáng suốt do xa lìa những ý niệm tà vạy, nhơ nhớp. Theo phẩm Thân chuyển thanh tịnh thành bồ đề trong luận Cứu cánh nhất thừa bảo tích quyển 4, tâm thanh tịnh được chia làm 2 loại: 1. Tự tính thanh tịnh: Tâm tính của người ta vốn thanh tịnh, không nhiễm ô. 2. Li cấu thanh tịnh: Tức xa lìa tất cả khách trần phiền não mà được thanh tịnh.(xt. Thanh Tịnh).
Phật Quang Đại Từ Điển
tam tạng pháp sư
(三藏法師) Phạm: Tripiỉakàcàrya. Cũng gọi Tam tạng thánh sư, Tam tạng tỉ khưu. Gọi tắt: Tam Tạng. Chỉ cho vị pháp sư tinh thông Tam tạng Kinh, Luật, Luận. Tại Ấn độ, từ ngữ Tam tạng pháp sư đã được sử dụng rất sớm, như trong kinh Ma ha ma da quyển hạ có nói (Đại 12, 1013): Nước Câu thiểm di có vị Tam tạng tỉ khưu thuyết pháp rất hay, có năm trăm đồ chúng. Ở Trung quốc thì danh hiệu này chuyên chỉ cho vị cao tăng thông hiểu Tam tạng, đồng thời, làm việc phiên dịch Kinh, Luật, Luận. Trong số các vị Tam tạng thì ngài Huyền trang nổi tiếng nhất, thường được người đời tôn xưng là Huyền Trang Tam Tạng, hoặc Đường Tam Tạng. Ngoài ra, trong kinh Di lan đà vấn (Milinda-paĩha), bảnPàli thuộc hệ Nam truyền có nêu từ ngữ Tipeỉaka và Tepiỉaka, hàm ý là Người thông suốt Tam tạng. Trong tiếng Pàli, từEkapiỉakadhara là chỉ cho Người nhớ giữ một tạng, Dvipiỉaka-dhara chỉ cho Người nhớ giữ hai tạng, Tipiỉaka-dhara là chỉ cho Người nhớ giữ ba tạng, do đó mà người ta thấy danh từ Tam tạng đã được lưu hành rất sớm tại Ấn độ. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.6; Lương cao tăng truyện Q.2].
Phật Quang Đại Từ Điển
cảm ứng
(感應) Cũng gọi ứng cảm. Chúng sinh có cơ duyên thiện căn cảm động, Phật ứng với cơ duyên ấy mà đến, thì gọi là cảm ứng. Cảm, thuộc về chúng sinh, ứng thuộc về Phật. Đại minh tam tạng pháp số quyển 37 nói: Cảm tức chúng sinh, ứng tức Phật, có nghĩa là chúng sinh đem cơ duyên tròn đủ cảm Phật, Phật liền dùng hiệu ứng đáp lại, như nước chẳng đi lên, mặt trăng chẳng đi xuống, thế mà một vừng trăng ánh hiện khắp mọi dòng sông. Kinh Chính pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 67 thượng), nói : Vô số cõi Phật, rộng nói kinh pháp, việc Thế tôn làm, cảm ứng như thế Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 585 hạ), nói: Diệu cảm diệu ứng, đều không ngoài môn chữ A.
Phật Quang Đại Từ Điển
cảm ứng đạo giao
(感應道交) Chỉ ý chúng sinh được cảm và Phật hay ứng giao hòa nhau. Mối quan hệ giữa Phật và chúng sinh cũng giống như tình mẹ con, mối quan hệ ấy chẳng phải tự lực của chúng sinh, cũng chẳng do giáo hóa mà có, mà là do cơ duyên của chúng sinh đã thuần thục, thì tự nhiên Phật lực có thể tương ứng với, cũng tức là sự giao hòa hỗ tương giữa cảm của chúng sinh và ứng của Phật. Lại nữa, căn tính chúng sinh có vô số, cho nên sự diệu ứng của chư Phật cũng vô lượng, do đó mà có các loại cơ cảm khác nhau, mà theo kinh Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 phần trên đã tổng hợp, tóm thâu trong bốn câu sau đây: 1. Minh cơ minh ứng (cơ ngầm ứng ngầm), có nghĩa chúng sinh ở đời quá khứ khéo tu ba nghiệp, ở đời hiện tại chưa vận dụng nghiệp thân nghiệp khẩu, nhưng nhờ thiện căn ở kiếp trước, đó là minh cơ; tuy không hiện thấy linh ứng, nhưng kín đáo làm lợi ích pháp thân, chẳng thấy chẳng nghe, nhưng có hay biết, đó là minh ứng. 2. Minh cơ hiển ứng (cơ ngầm ứng hiện), có nghĩa là chúng sinh đã trồng căn lành ở quá khứ, minh cơ đã thành, được gặp Phật nghe pháp, được lợi ích ở hiện tại. 3. Hiển cơ hiển ứng (cơ rõ ứng rõ), có nghĩa là chúng sinh ở đời hiện tại, thân khẩu ý tinh cần không biếng nhác, cũng có thể cảm được lợi ích. 4. Hiển cơ minh ứng (cơ rõ ứng ngầm), có nghĩa là chúng sinh trong một đời chịu khó, chứa góp nhiều thiện căn ở hiện tại, tuy không cảm rõ, nhưng có lợi ngầm. Sau bốn câu trên đây, Pháp hoa huyền nghĩa lại lập thêm ba mươi sáu câu khác để phân biệt. Cuối cùng, lại đứng về phương diện mười pháp giới mà trình bày rõ ràng về sự sai khác giữa bốn câu. Tổng kết lại, thì cảm của chúng sinh và ứng của chư Phật, có tất cả sáu vạn bốn nghìn tám trăm cơ ứng. [X. Pháp hoa văn cú Q.1 phần trên; Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên; Quan âm huyền nghĩa Q.hạ]. (xt. Tam hập Lục Cú).
Phật Quang Đại Từ Điển
tâm niệm
(心念) Ý niệm khởi lên trong tâm thức liên tục từng sát na. Luận Tịnh độ quyển thượng của ngài Ca tài nói rằng: Thông thường, pháp niệm Phật có 2 loại, 1 trong 2 loại ấy là Tâm niệm. Tâm niệm niệm Phật lại được chia làm 2 pháp: 1. Niệm sắc thân Phật: Quán niệm thân Phật A di đà có 8 vạn 4 nghìn tướng, mỗi tướng có 8 vạn 4 nghìn vẻ đẹp, mỗi vẻ đẹp có 8 vạn 4 nghìn tia sáng. 2. Niệm trí thân Phật: Quán niệm Phật A di đà có 5 phần pháp thân, có sức đại từ bi vô úy... [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.34; luận Tì ni mẫu Q.8; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng, phần 1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng, phần 1; Vãng sinh yếu tập Q.trung phần cuối].
Phật Quang Đại Từ Điển
bình đẳng
(平等) Phạm,Pàli: sama. Nghĩa là ngang bằng đều nhau, không cao thấp nông sâu. Chỉ hết thảy hiện tượng cùng chung một tính, hoặc tính không, tính Duy thức, tính tâm chân như. Đối lại với Sai biệt. Như đức Thích tôn đã phủ nhận chế độ giai cấp ở Ấn độ đã có từ thời đại Phệ đà và chủ trương Tứ tính bình đẳng. Trong các kinh luận có rất nhiều tư tưởng và dụng ngữ về bình đẳng, chẳng hạn như cho rằng Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và Tâm Phật, chúng sinh trên bản chất đều không có sai khác, cho nên nói là bình đẳng; hoặc hiển bày tướng mạo của bản thể thế giới, gọi là không bình đẳng, Chân như bình đẳng. Lại như kinh Đại bát nhã quyển 409 đã nói rõ về sự bình đẳng giữa Bát nhã ba la mật, Tam ma địa và Bồ tát. Luận Đại trí độ quyển 100, thì thuyết minh lí pháp bình đẳng và Chúng sinh bình đẳng. Kinh Đại nhật quyển 1 thì nói ba mật: thân mật, ngữ mật, ý mật là bình đẳng. Vãng sinh luận chú quyển thượng nói, bình đẳng là thể tướng của các pháp, trí tuệ đã đạt đến thể tướng bình đẳng thì không còn phân biệt, chủ quan và khách quan cũng không sai khác: đây gọi là Trí bình đẳng. Đối với chúng sinh cũng phải coi là đồng đẳng, không phân biệt cao thấp oán thân, đáng được thương xót ngang nhau, vì đều có tính Phật giống như nhau: đây gọi là Chúng sinh bình đẳng. Lại nữa, Phật gọi là bình đẳng giác, Tự tính pháp thân gọi là Bình đẳng pháp thân. Ngoài ra, pháp Nhất thừa biểu thị đại tuệ ngang bằng với trí tuệ của Phật, gọi là Bình đẳng đại tuệ. Yêu thương khắp tất cả không phân biệt, gọi là Bình đẳng đại bi. Tâm đối với tất cả đều bình đẳng, tỏ ngộ chân lí mà không dấy lên cái thấy biết sai khác, gọi là Bình đẳng tâm. Trong ba phép quán Không, Giả, Trung, quán từ Không vào Giả, cũng gọi là Bình đẳng quán, Quán thân mật, ngữ mật, ý mật là bình đẳng không sai khác, gọi là Tam bình đẳng quán. Chẳng kể oán, thân, tất cả đều thương yêu như nhau, gọi là Oán thân bình đẳng. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 53 phẩm Li thế gian nói, Bồ tát có đủ mười thứ bình đẳng: 1. Hết thảy chúng sinh bình đẳng, 2. Hết thảy pháp bình đẳng, 3. Hết thảy cõi nước bình đẳng, 4. Hết thảy tâm sâu xa bình đẳng, 5. Hết thảy thiện căn bình đẳng, 6. Hết thảy Bồ tát bình đẳng, 7. Hết thảy nguyện bình đẳng, 8. Hết thảy Ba la mật bình đẳng, 9. Hết thảy hạnh bình đẳng, 10. Hết thảy Phật bình đẳng. Nếu Bồ tát an trụ nơi pháp này, thì được tất cả pháp bình đẳng vô thượng của chư Phật. Cùng kinh đã dẫn quyển 30 phẩm Thập hồi hướng còn nêu ra 10 thứ bình đẳng, như Nghiệp bình đẳng, Báo bình đẳng v.v... Còn kinh Đại phương đẳng, đại tập quyển 50 cũng nêu ra 10 thứ bình đẳng: Chúng sinh bình đẳng, Pháp bình đẳng, Thanh tịnh bình đẳng, Bố thí bình đẳng, Giới bình đẳng, Nhẫn bình đẳng, Tinh tiến bình đẳng, Thiền bình đẳng, Trí bình đẳng và Nhất thiết pháp thanh tịnh bình đẳng. Nếu chúng sinh có đầy đủ 10 thứ bình đẳng trên đây, thì có thể mau chóng được vào đại thành vô úy. [X. Tạp a hàm Q.20; kinh Đại bát nhã Q.570 phẩm Bình đẳng; kinh Đại bảo tích Q.60; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12; Phật địa kinh luận Q.5]. (xt. Sai Biệt).
Phật Quang Đại Từ Điển

Vì Sao Cần Phải Niệm Phật...?
Hòa Thượng Thích Tuyên Hóa

Trì Danh Niệm Phật
Hòa Thượng Thích Trí Thủ

Phương pháp niệm 10 danh hiệu A Di Đà Phật
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Niệm Phật Tứ Đại Yếu Quyết
Pháp Sư Luyến Tây Đại Sư Ngọc Phong Cổ Côn