Home > Khai Thị Phật Học > Bo-Roi-Va-Lang-Quen
Bỏ Rơi Và Lãng Quên
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ


Có lẽ hầu hết thế nhân đều biết đến từ thiện và coi đây là thứ cao quý trong tâm hồn gọi là lòng nhân đạo. Quả thật nhân đạo là sự cao quý cần có trong cuộc đời đầy bon chen tranh giành, chỉ giỏi cướp đoạt của nhau, tục nhân có thói quen phô trương quyền lực, khoe khoang của cải, mượn những thứ này mà ngồi trên đầu thiên hạ, vì vậy mà kẻ phàm tục nào cũng khát khao muốn được địa vị cao sang và dĩ nhiên để được nó phải tranh quyền đoạt lợi bất kể thủ đoạn và hậu quả, kết quả sự tham sân tranh đoạt này dẵm nát lòng nhân đạo, và do đây từ thiện trở nên cao quý nhờ vào sự hiếm thấy và khó được trong cuộc đời nhiễu nhương. Hẳn nhiên nếu ở tịnh độ hay dù là cõi trời thì nhân đạo cũng chỉ là việc bình thường như hít thở vậy, và vì thế cũng dễ nhận ra ở các cõi này từ thiện không có chỗ để xuất hiện, bởi ai ai cũng nhân đạo và mọi hành động của nhân đạo đều từ thiện, nên lấy đâu ra khổ để làm từ thiện. Cũng do vậy mà nhân đạo là điều kiện tiên quyết để được sinh về cõi trời, và nhân đạo là hoàn cảnh sinh hoạt của cõi thiên. Song nhân đạo chỉ là nhân duyên phúc báo hữu lậu nên không thể sinh về tịnh độ được, muốn sinh tịnh độ phải có tâm thanh tịnh tức tâm bồ tát đạo.

Xác thân là con thuyền, tâm là thuyền trưởng lèo lái con tàu mang tên tôi của chúng sinh đến chỗ thác sinh trong tương lai, như tâm nhân đạo đưa đến cõi trời người, tâm ngu si đậu bến súc loại, tâm tham lam bỏn xẻn ghé bờ ngạ quỷ, tâm ngu ác tham sân bỏ neo chốn địa ngục. Tất cả các tâm trên đều thuộc tâm thức hữu lậu tùy duyên mà thay hình đổi cõi, nếu lìa bỏ hết các duyên hữu lậu thì quả sinh về các cõi hữu lậu sẽ không còn, và đó là tình trạng của xuất thế gian.

Nhân đạo là nền móng xây dựng và duy trì hai cõi trời người, vì nhân đạo là đạo đức mà trong muôn loài chỉ riêng loài người có, thế nên nhân đạo là sự sinh hoạt hay con đường mà những ai thật sự là người sẽ dạo đi từ sinh đến tử, kẻ lìa bỏ nhân đạo tức đang rẽ bước qua con đường của ba cõi ác. Nếu luôn sinh hoạt trong phạm vi đường đi của loài người, sẽ không bao giờ đánh mất thân người trong tương lai. Tuy nhiên do ngũ thú thuộc về hữu lậu pháp chịu luân hồi sinh tử chi phối, cho nên nhân đạo và từ thiện không đủ đề chấm dứt sinh tử luân hồi mà chỉ đạt được các phúc báo sinh tử của thế gian.

Đạo Phật xuất hiện nơi đời để cứu chúng sinh ra khỏi luân hồi sinh tử, mà không nhằm vào việc bao che cho chúng sinh trong cõi hữu lậu sinh diệt này như đa số tín đồ vẫn ngỡ. Do vậy mà theo kinh Pháp Hoa ai được mở bày Phật tri kiến nhận ra công đức giải thoát sinh tử vượt trội phúc đức hưởng thụ trong sinh tử thì người ấy có đại nhân duyên với chư Phật, và những ai có đại nhân duyên này đều là bậc Thánh, từ bậc Thanh văn đến Bồ tát.

Những ai chỉ đạt được công đức giải thoát sinh tử mà không thệ cứu giúp chúng sinh giải thoát thì gọi là Thanh văn, còn như tự mình và giúp người giải thoát như chư Phật trong ba đời hằng làm thì gọi là Bồ tát hay Pháp vương tử, vì vậy Thanh văn không thể thành Phật, và Bồ tát do phát tâm độ sinh như tâm chư Phật đã phát nên đều được thọ ký hiện đời làm Pháp vương tử tương lai thành bậc Pháp vương tức Phật.

Và như thế bậc Thánh xuất thế gian của đạo Phật vượt khỏi mọi chi phối của các mối nhân quả của thế gian hữu lậu, không tác pháp hữu vi, không thọ quả hữu lậu nên không còn chịu luân hồi sinh tử nữa.

Sự khác biệt giữa Bồ tát đạo và nhân đạo.

Đến đây chúng ta dễ dàng hình dung ra sự khác biệt giữa nhân đạo và Bồ tát đạo. Nhân đạo có nghĩa từ thiện, là thiện pháp của thế giới hữu lậu, Bồ tát đạo hàm nghĩa cứu độ, là tịnh pháp giúp chúng sinh giải thoát khỏi thế giới hữu lậu, vì vậy nhân đạo là thế pháp hữu lậu, Bồ tát đạo là xuất thế pháp vô lậu.

Nhân đạo thể hiện qua từ thiện giúp đỡ nạn dân của thiên tai và nghèo đói. Bồ tát đạo thể hiện qua tinh thần cứu khổ cứu nạn, thoạt nhìn thì bồ tát đạo cũng đồng với nhân đạo, vì vậy nhiều người học Phật ngộ nhận nên bác bỏ việc bố thí phóng sinh cho đó thuộc thế pháp, chỉ được phúc báo thế gian cản trở cho sự cầu giải thoát, đây chẳng qua do họ nhìn sự việc thuần bằng mắt phàm, nếu có huệ nhãn quán sát hẳn họ sẽ nhận ra điểm vô cùng vi diệu của Bồ tát đạo mà vọng thức của phàm phu vô pháp hiểu tới được, do Bồ tát quán nên dùng thân nào để độ và nhận thấy phải dùng đến thân bố thí cứu khổ nạn để độ nên hiện thân bố thí, dùng thân hữu lậu làm phương tiện hành pháp bố thí vô lậu kết duyên với chúng sinh, khiến chúng sinh không chỉ được cứu giúp hiện đời bằng vật chất mà còn được nhân duyên thù thắng vô lậu cùng Bồ tát bất thối làm bạn lữ đồng hành độ sinh trong tương lai, đây là đại sự nhân duyên cho những chúng sinh hữu duyên hạnh ngộ Bồ tát.

Nhân đạo phát sinh từ tâm vọng thức của chúng sinh nên chỉ phát khởi trong vòng hoạt động của sáu thức, như mọi cảnh khổ hiện tiền của nhân sinh đánh thức được lòng nhân đạo, nhưng còn vô số khổ não nằm ngoài sáu thức đều bị lòng nhân đạo bỏ sót và quên lãng. Bồ tát đạo phát khởi từ tâm từ bi nên không một chúng sinh nào có thể bị bỏ quên, tâm thanh tịnh cao thượng này vượt khỏi sự chi phối đầy giới hạn của vọng thức nên thuộc về trí, do trí vô hạn nên thấy được mọi pháp mà thức giới hạn nọ không chạm tới được, vì vậy khi khởi tâm từ bi hành giả sẽ không bỏ sót bất kì chúng sinh nào, kể cả nơi vùng sâu xa khốn khổ đáng sợ nhất như địa ngục cũng được chiếu cố cứu độ qua thệ nguyện "địa ngục vị không thệ bất thành Phật". Thành Phật không được coi trọng bằng sạch bóng địa ngục, thành Phật chỉ để độ sinh, và không phát tâm bi trí thì không sao độ sinh nổi, vì vậy Phật và tâm bi trí vô thượng này thành một, Phật tức tâm, tâm tức Phật, mê mất tâm tất mê mất Phật nên bỗng dưng từ Phật hóa chúng sinh, ngộ được tâm thì chúng sinh hoát nhiên thành Phật, như Đàn kinh nói "tiền niệm mê, Phật thành chúng sinh, hậu niệm ngộ, chúng sinh thành Phật". Điều kiện ắt có và đủ để giải thoát thành Phật chính là phát tâm vô thượng, sở dĩ vô thượng bởi đầy đủ bi trí, bi để độ tận chúng sinh, trí để thành Phật đạo, do vậy vô thượng tâm còn gọi là bồ đề tâm. Mọi thiện pháp từ nhân đạo của tâm vọng thức đều thuộc thế pháp nên quả báo đạt được đều là hữu lậu gọi là phúc báo nhân thiên, mọi thiện pháp khởi từ tâm bồ đề đều là công đức vô lậu giải thoát, vì vậy ngài Huệ Năng trong Đàn kinh nói "công đức ở ngay nơi tự tính, mà không do bố thí, xây chùa tạo tháp, cúng dường có được, các thứ này chỉ là phúc đức".

Từ bi gắn liền với Bồ tát.

Vì sao chư Bồ tát thường hiện thân bố thí cứu khổ nạn để độ sinh trong sáu cõi hơn là hiện thân pháp sư nói pháp? Do nhân sinh thị khổ nên hiện thân bố thí cứu khổ là ứng cơ với đa số hữu tình, hơn nữa bố thí đã là pháp cứu khổ thì cần phải gieo duyên và chỉ bày chúng sinh tu tập thực hành bố thí ba la mật của Bồ tát đạo. Sở dĩ bố thí ba la mật đa được coi là công hạnh chính yếu của Bồ tát, vì đây là nguồn sinh công đức, bởi do bố thí không chỉ cho tài vật hiện tại, còn cho duyên thành tựu pháp giải thoát tương lai, kèm theo đó là cho cả sự an vui dứt trừ mọi âu lo sầu khổ. Như vậy trong bố thí sẵn có tài thí, pháp thí và bố úy thí, hành giả hành bố thí ba la mật đa vừa là bậc từ bi cứu khổ nạn, vừa là bậc trí huệ ẩn mật truyền pháp cứu độ tha nhân. Đó là lý do Bồ tát vì sao lại thường hiện thân bố thí cứu khổ nạn hơn là thân đạo sư chỉ giảng nói đạo lý, bởi lẽ nhu cầu của kiếp nhân sinh thị khổ chính là cầu được cứu khổ trước đã, giải thoát hay đạo lý vẫn chỉ là nhu cầu của một số rất ít người, thậm chí đa số người xuất gia cũng vẫn có nhu cầu thế tục hơn là giải thoát.

Vã lại mọi tư duy và thị hiện thân độ chúng sinh chính là diễn dương diệu pháp mà không cần đến ngôn từ và âm thanh, đây là pháp trực chỉ nhân tâm, còn pháp được thuyết qua thanh âm chỉ là phương tiện như ngón tay chỉ trăng, vì vậy sự thị hiện bố thí cứu độ hữu tình phát sinh từ tâm từ bi là chính hành của Bồ tát và được gọi tên là Bồ tát đạo, và pháp từ bi chính là pháp thân tức chân thân Bồ tát.

Phàm nhân do nhục nhãn vô huệ nên không nhận ra chỗ vi diệu của pháp bố thí thuộc Bồ tát đạo, vì vậy cũng không nhận ra chỗ hành pháp Phổ môn "nên hiện thân nào thì hiện thân ấy độ" của Bồ tát đạo, nên chi không phân biệt được sự sai khác giữa tịnh pháp bố thí ba la mật đa của Bồ tát đạo với thiện pháp bố thí của nhân đạo. Nói chung họ chỉ thấy thân thị hiện hữu lậu mà không thấy pháp hành bố thí mới là chân thân của Bồ tát.

Cứu khổ nạn Chính hành của Bồ tát.

Bồ tát đạo lấy từ bi làm thể, và đối tượng của từ bi là chúng sinh, nếu không chúng sinh tất từ bi thành vô dụng và vô nghĩa. Tâm từ bi nhận ra để cứu độ chúng sinh cần phải dùng pháp bố thí làm chính hành, do chúng sinh ngu si không nhận biết nhân sinh thị khổ nên không cầu giải thoát chỉ cầu dục lạc, tạo tác vọng nghiệp chịu đủ quả khổ, khiến cộng nghiệp của nhân sinh vốn dĩ là khổ nay lại thêm mỗi biệt nghiệp của chúng sinh cũng đều là khổ, khổ chồng chất khổ biến thế gian thành một kiếp nạn, không một nơi nào an toàn, không một chúng sinh nào không từng cầu được cứu khổ nạn, Bồ tát quán biết nên thường hiện thân hành bố thí, cho cả ba loại cầu được bố thí, như thí vô úy đem lại an lạc cho súc loại bằng pháp phóng sinh, tài thí cho những kẻ khốn cùng bị mọi người quên lãng và bỏ rơi, pháp thí cho những người lãnh hội được nhân sinh thị khổ. Cả ba thí được Bồ tát thực hành này đều là bố thí ba la mật đa, thế gian quen gọi là cứu khổ cứu nạn, và sự cứu chính là pháp môn tu hành của Bồ tát gọi là bồ tát đạo. Do đó bố thí là công hạnh chính của bồ tát đạo, không có bố thí tất không có bồ tát đạo.

Người sơ phát tâm bồ đề hành bồ tát đạo phải chuyên cần hành trì, không sợ nhọc nhằn, tâm không lui sụt. Người hành bố thí sâu xa phải quán sát muôn loài, không quên chúng sinh khổ, không bỏ rơi bất kỳ chúng sinh nào, bi tâm luôn tìm cách cứu giúp những chúng sinh nặng nghiệp bị mọi người quên lãng và bỏ rơi.

Nạn dân là những người chịu khổ nhất thời và dễ dàng nhận được sự cứu giúp, còn những đời sống khổ bị lãng quên và bỏ rơi là những người phải chịu nỗi khổ đọa đày vô gián, ngoài nỗi khổ bệnh tật nghèo cùng còn gánh thêm nỗi khổ cô đơn, không ai đoái hoài phát tâm cứu giúp. Từ bi của Bồ tát là nơi nương tựa cứu giúp tích cực duy nhất cho những kẻ gánh nghiệp bị thiên hạ bỏ rơi trong lãng quên.

Đại thừa đệ tử phụng thờ Bồ tát bậc đại từ bi cứu khổ cứu nạn muôn loài cần phải tuyên dương gìn giữ sự nghiệp bồ tát đạo của ngài bằng cách không bỏ rơi và quên lãng bất cứ chúng sinh nào, để thay cho lời xưng tán tâm từ bi vô lượng của Bồ tát. Bởi từ bi chính là không bỏ quên bất kì chúng sinh nào qua hạnh nguyện "thệ độ nhất thiết chúng sinh".

Nhân quả của "bỏ rơi và lãng quên".

Nguyên nhân chính dẫn đến sự bỏ rơi và lãng quên tha nhân là do phàm phu tục tử bỏ rơi và lãng quên tâm từ bi, điều này khiến họ tôn sùng tâm bất thiện, miệt mài theo đuổi tư lợi lãng quên sự chia sẻ, mải lo lượm lặt mọi thứ dục lạc bỏ rơi lòng bố thí, những người này vì tư lợi và ngũ dục mà bỏ rơi và lãng quên tâm từ bi, để rồi muôn đời bị đày đọa trong sự âu lo bất an tìm cách sinh tồn, cho dù vất vả trăm bề, khổ vẫn thuần khổ, cuối cùng cũng cầu đến tâm từ bi cứu giúp, đáng buồn là họ vẫn u mê không nhận ra giá trị của từ bi, thứ mà bị họ bỏ rơi và cho vào lãng quên không chút đắn đo.

Song buồn hơn cả là hàng đồ chúng đại thừa bao quát xuất gia và tại gia luôn phụng thờ và xưng tán bậc Bồ tát đại bi cứu khổ cứu nạn mà nguyên nhân chính do họ ngưỡng mộ tâm từ bi của ngài cho dẫu không hề biết diện mạo ngài ra sao, nên họ tưởng tượng phác họa ra dung nhan của tâm từ bi và tạo tượng tôn thờ, nhưng rồi không biết từ nỗi u mê nào đã khiến họ chỉ kính ngưỡng tôn kính lễ bái hình tướng do họ tự tạo coi đó là Bồ tát, còn tâm từ bi tức chân thân Bồ tát bị họ phụ rẫy vứt bỏ ra khỏi mọi tư duy và hành động, ấy thế mà họ vẫn ngây ngô ngỡ là đang cúng dường kính thờ và kết duyên với Bồ tát. Họ quên hẳn chư Phật và chư đại Bồ tát lấy pháp làm thân, sắc thân chỉ là phương tiện thị hiện để hiển bày chân thân thanh tịnh công đức qua pháp bố thí ba la mật đa cứu độ nhất thiết chúng sinh, và tâm từ bi cùng Bồ tát là một, nên từ bi là pháp thân tức chân thân Bồ tát. Những người tu học đại thừa chấp sắc thân của hình tượng với Bồ tát là một, nên quên lãng và bỏ rơi tâm từ bi, xem ra những người này có thờ phụng hay xưng tán Bồ tát từ bi đến bao đời đi nữa vẫn vô duyên với Bồ tát, nếu họ vẫn bỏ rơi và quên lãng tâm từ bi, bởi Bồ tát mà họ tôn thờ chỉ có sắc tướng mà vô tâm.

Ai chỉ có duyên với sắc thân mà vô duyên với pháp thân thì chỉ là phàm phu thiếu vắng từ bi, cho dù miệng giảng nói từ bi nhưng không biết hành, chung quy chỉ là gã mù giỏi nói trắng đen mà không thể nhặt ra đen trắng trong nắm đậu trắng đen lẫn lộn. Bỏ chúng sinh ra khỏi sự tu hành là kẻ bần cùng từ bi, kẻ này không thể độ bất kỳ ai kể cả chính mình.

Người phát tâm và trưởng dưỡng từ bi thông qua hành pháp bố thí cứu độ chúng sinh là người có đại nhân duyên với Bồ tát, và chỉ có đại nhân duyên này sẽ khiến họ và Bồ tát hợp nhất thành một, nên gọi nhân duyên này là đại.

Chỉ có tâm từ bi mới không bỏ và quên bất kì chúng sinh nào qua thệ nguyện độ nhất thiết chúng sinh, do vậy tâm này dẫn dắt chúng sinh vượt khổ nạn hiện tại thẳng đến chốn niết bàn giải thoát, nơi mọi khổ lạc đều tịch diệt.

VTA 4.11.22

Bỏ quên lòng nhân đạo là đánh mất phúc đức.

Bỏ quên lòng từ bi là chối từ giải thoát.