Home > Khai Thị Phật Học > -Quy-Y-Tam-Bao
Quy Y Tam Bảo
| Hòa Thượng Thích Pháp Chánh, Việt Dịch


G2. Nêu rõ phương tiện an vui cho đời sau
H1. Quy y là cánh cửa thù thắng vào Phật giáo
I1. Nương vào đâu để làm nhân cho sự quy y
I2. Nương vào nhân để nói rõ đối tượng quy y
I3. Pháp quy y như thế nào
J1. Biết rõ công đức
K1. Công đức của Phật
L1. Công đức của thân
L2. Công đức của ngữ
L3. Công đức của ý
L4. Công đức của sự nghiệp
K2. Công đức của Pháp
K3. Công đức của Tăng
J2. Biết rõ sự khác biệt
J3. Tự thệ nguyện thọ quy y
J4. Không nói hữu dư quy y xứ

G2. Nêu rõ phương tiện an vui cho đời sau.

H1. Quy y là ngưỡng cửa thù thắng vào Phật giáo.

I1. Nương vào đâu để làm nhân cho sự quy y.

Tổng quát, nhân do của sự quy y tuy có nhiều loại, nhưng ở đây chỉ căn cứ vào những điều đã được đề cập ở phần trên: đời này không thể sống lâu mà sự chết nhất định sẽ đến; sau khi chết, bị nghiệp lực kéo lôi trong sinh tử, không được tự tại. Nhập Bồ Tát Hành Luận nói:

Giống như trời đêm mây,
Phút chốc chớp ánh điện,
Như vậy, nhờ Phật lực,
Người đời sinh tâm lành,
Tâm lành thường yếu đuối,
Tâm ác rất hung hăng. (Phẩm Một, kệ 5 6)

Hơn nữa, nên y cứ vào đạo lý “nghiệp lành yếu ớt, nghiệp ác mãnh liệt”, mà suy ngẫm về lý do của sự đọa ác đạo. Hiện nay, vì sợ đọa lạc vào cõi ác, cho nên tin sâu rằng chỉ có Tam bảo mới có thể cứu vớt mình ra khỏi biển khổ này. Dùng hai tâm này (sợ sinh tử và tin Tam bảo) mà quy y Phật pháp. Nhưng nếu chỉ quy y bằng lời nói (phát nguyện xuông) thì sự quy y cũng không có hiệu quả. Nếu phát lòng tin kiên cố vào Tam bảo và chân thật sợ hãi sinh tử thì sự quy y sẽ chuyển đổi tâm cảnh, cho nên hành giả phải nên nỗ lực tu tập hai tâm [sợ và tin] này.

I2. Nương vào nhân để nêu rõ đối tượng quy y.

Trước tiên nêu rõ đối tượng của sự quy y. Bách Ngũ Thập Tụng tán thán:

Ai là người xưa nay,
Không tạo các việc ác,
Ai đã từng tu tập,
Tất cả các công đức,
Người nào có lòng tin,
Nên quy y vị ấy,
Tôn trọng và tán thán,
Theo lời dạy tu hành.

Nếu có trí tuệ phân biệt chỗ đáng quy y hay không đáng quy y thì nên dùng tâm thành kính quy y Đức Phật Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng. Quy Y Thất Thập Tụng nói:

Phật, pháp và tăng già là chỗ,
Người cầu giải thoát phải quy y.

Kế đến nói về hành tướng của bậc mà mình có thể quy y. Vị ấy cần phải tự mình lìa xa mọi sự sợ hãi, lại cần phải có phương tiện khéo léo dẫn dắt kẻ khác lìa xa sợ hãi; có lòng thương xót với tất cả, không phân biệt thân sơ; đối người ơn và người vô ơn đều làm lợi ích cho họ. Thế nhưng chỉ có Đức Phật mới đầy đủ những đức hạnh này, còn các vị khác, như trời Tự Tại, v.v…, đều không có đầy đủ, cho nên biết rằng chỉ có Đức Phật là chỗ quy y cho chúng ta. Hơn nữa, giáo pháp của Phật và tăng đoàn Thanh văn cũng là chỗ nên quy y. Nhiếp Quyết Trạch Phần nói: “Những ai đối với sự quy y sanh khởi tâm quyết định chuyên nhất, lại có thể cầu khẩn Tam Bảo làm nơi nương tựa, thì không ai không được cứu độ, cho nên hành giả cần phải sanh khởi tâm quyết định.” Nếu hình thức bên ngoài tuy đầy đủ, đã có đối tượng để quy y, nhưng bên trong lại không sanh khởi tâm chí thành quy y, thì đây chỉ là tự khổ.

I3. Pháp quy y như thế nào.

J1. Biết rõ công đức.

K1. Công đức của Phật.

L1. Công đức của thân.

Đây chính là công đức niệm Phật tướng hảo. Thí Dụ Tán nói:

Thân tướng Phật trang nghiêm,
Mắt biếc tịnh vi diệu,
Như đêm thu trong vắt,
Trang sức các vì sao.
Thân Phật màu hoàng kim,
Pháp y làm phục sức,
Tựa như đỉnh Kim Sơn,
Mây ngũ sắc vi nhiễu.
Phật tuy không điểm trang,
Gương mặt ngài tròn đầy,
Trăng rằm dù chói sáng,
Cũng không thể sánh bằng.
Miệng Phật như liên hoa,
Dưới ánh dương hàm tiếu,
Ong tưởng là hoa thật,
Ngập ngừng không muốn bay.
Mặt Phật màu kim sắc,
Răng trắng như ngọc kha,
Khít khao như núi vàng,
Sáng sạch không tỳ vết.
Trong lòng tay bên phải,
Tướng bánh xe ngàn căm,
Cứu vớt người sợ hãi,
Đưa họ khỏi luân hồi.
Đức Phật lúc du hành,
Chân ngài như đóa sen,
In dấu trên mặt đất,
Hoa thật không sánh bằng.

Nay chỉ tán thán sơ lược như thế. Hành giả cần phải thường xuyên ghi nhớ.

L2. Công đức của ngữ.

Giả sử tất cả chúng sinh trong cùng tận pháp giới đồng thời đến hỏi Đức Phật về những nghĩa lý khác nhau, trong một sát na, ngài có thể hiểu rõ tất cả những lời chất vấn, và có thể dùng một âm thanh trả lời tất cả, mà mỗi chúng sinh đều cho rằng ngài đang dùng ngôn ngữ của mình để giải đáp. Chúng ta phải thường tư duy quán niệm công đức vô cùng hy hữu kỳ đặc này. Đế Giả Phẩm nói:

Chúng sinh đem những lời liễu nghĩa, Nhất thời đến chất vấn Đức Phật,

Trong sát na ngài đều biết rõ,
Dùng một âm thanh để trả lời,
Như vậy, nên biết Phật trên đời,
Dùng Diệu phạm âm mà thuyết pháp,
Cứu độ thoát khỏi khổ trời người,
Chuyển pháp âm vô cùng thiện xảo.

L3. Công đức của ý.

Có hai loại là trí đức và bi đức. Trí đức, nghĩa là Đức Phật biết rõ, hoàn toàn không chướng ngại, tất cả cảnh giới, như nhìn thấy quả a ma lặc trong lòng bàn tay. Phật trí có thể biết rõ tất cả cảnh giới, còn những chúng sanh khác (kể cả các Bồ tát bậc cao), sự hiểu biết tuy cũng rộng lớn, nhưng vẫn không thể bao trùm tất cả. Thí Dụ Tán nói:

Chỉ có trí tuệ Phật,
Biết tất cả cảnh giới,
Còn những chúng sanh khác,
Hiểu biết đều giới hạn.

Lại nói:

Tâm của Phật nhiếp trì,
Các pháp trong ba thời,
Tất cả loại hình tướng,
Như cầm quả a ma.
Tâm Phật như gió lay,
Không bị chướng ngại bởi,
Các pháp động, không động,
Đồng nhất, hoặc sai khác.

Bi đức, nghĩa là các hữu tình bị phiền não trói buộc, không được tự tại, chư Phật bị tâm đại bi thôi thúc, không thể tự tại. Nếu thấy chúng sanh bị khổ não, các ngài sinh khởi tâm đại bi không ngừng nghỉ. Bách Ngũ Thập Tụng nói:

Tất cả các chúng sinh,
Bị phiền não trói buộc,
Phật vì muốn cứu đời,
Bị Đại bi thúc giục,
Tuy biết thế gian mê,
Vẫn nguyện trong sinh tử,
Vậy trước nên lễ Phật,
Hay là lễ Đại bi?

Đế Giả Phẩm nói:

Chúng sinh thường si ám,
Do vô minh che lấp,
Bị giam ngục thế gian,
Phật khởi lòng thương xót.

Hành giả phải thường quán sát như vậy.

L4. Công đức của sự nghiệp.

Chư Phật dùng ba nghiệp thân ngữ ý làm lợi ích tất cả hữu tình không hề gián đoạn. Các ngài dùng tất cả phương tiện dẫn dắt những chúng sanh hữu duyên, khiến họ lìa khổ được vui. Những điều cần phải làm, các ngài nhất quyết sẽ làm. Ngài Bác Đóa Ngõa nói: “Nếu thường tư duy về công đức của Phật, lòng tin dần dần tăng trưởng, thân tâm thanh tịnh, được chư Phật gia trì, đạt được thắng giải, cho nên nếu có thể chí tâm quy y, siêng năng học tập những điều cần phải học, thì tất cả mọi sự đều trở thành Phật pháp.” Thế nhưng, chúng ta lại không tin trí tuệ của Phật bằng tin tưởng vào sự bói toán. Nếu thầy bói nói rằng năm nay không có việc gì kiêng kỵ, thì chúng ta sẽ cảm thấy rất an lòng, còn nếu nói rằng năm nay sẽ có đại họa, điều này nên làm, điều này không nên làm, ắt chúng ta sẽ cật lực tuân hành, và giả như làm chưa được, trong tâm sẽ cảm thấy vô cùng bất an. Còn nếu Đức Phật chế định điều này nên làm, điều này không nên làm, thì chúng ta có tuân hành không? Nếu chưa làm được, tâm chúng ta có cảm thấy bất an không? Nhiều khi chúng ta lại còn phản đối: “Phật pháp tuy nói như vậy, thế nhưng tùy theo sự quan hệ địa phương hiện tại, không thể làm như vậy, mà phải làm như vầy.” Khinh thị, xả bỏ lời Phật dạy, mà tự làm theo ý mình. Nếu chúng ta hồi quang phản chiếu, những điều vừa nêu trên ắt không phải là những lời nói oan.

K2. Công đức của Pháp.

Chúng ta tôn kính Phật, bởi vì ngài đầy đủ vô biên công đức. Lại nữa, Phật là bậc chứng đắc diệt đế, tu tập đạo đế, đoạn trừ tất cả lỗi lầm, thành tựu tất cả công đức, đều là do hai pháp [giáo và chứng] sinh trưởng. Đây là lời dạy của Chánh Pháp Nhiếp Nghĩa Kinh, cần phải ghi nhớ.

K3. Công đức của Tăng.

Ở đây chủ yếu nói đến công đức của các bậc thánh tăng. Đây cũng là do trong sự tu tập đúng lý, ghi nhớ công đức của chánh pháp.

J2. Biết rõ sự khác biệt.

Nhiếp Quyết Trạch Phần nói: “Quy y sau khi biết rõ sự khác biệt giữa Phật, Pháp và Tăng.” Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận sẽ nói rõ chi tiết.

J3. Tự thệ nguyện thọ quy y.

Thệ nguyện quy y Phật là vị đạo sư, quy y Pháp là con đường tu hành chân chánh, quy y Tăng là bạn lữ đồng học.

J4. Không nói hữu dư quy y xứ.

Sau khi so sánh, biết rõ sự hơn kém của các bậc đạo sư, giáo pháp và đệ tử của họ, chỉ nên quy y Tam bảo, không quy y những vị đạo sư không phù hợp với đường hướng của Tam Bảo. Trong các sự sai biệt, sự sai biệt về đạo sư là Đức Phật đã hoàn toàn đoạn trừ phiền não, còn các vị đạo sư khác thì chưa hoàn toàn đoạn trừ được. Thắng Xuất Tán nói:

Tôi bỏ các vị khác,
Quy y Phật Thế Tôn.
Tại sao quy y Phật?
Vì ngài hết lỗi lầm.

Lại nói:

Đối với pháp ngoại đạo,
Đã suy ngẫm đắn đo,
Cùng so sánh tỉ mỉ,
Trong tâm càng tin Phật.
Phàm phu trí hạn hẹp,
Tạo tác nhiều lỗi lầm,
Vì tâm đã bị loạn,
Không thấy Phật thanh tịnh.