Home > Khai Thị Phật Học > -Quan-Sat-Kho-De
Quán Sát Khổ Đế
| Hòa Thượng Thích Pháp Chánh, Việt Dịch


E2. Thứ đệ tu tâm chung với bậc trung sĩ
F1. Chính thức tu tập tâm này
G1. Nhận định tâm cầu giải thoát
G2. Phương tiện sinh khởi tâm này
H1. Tư duy về khổ đế, họa hoạn của luân hồi
I1. Mật ý của Phật khi giảng tứ đế, nói khổ đế trước nhất
I2. Nói rõ tu tập khổ đế
J1. Tư duy sự khổ tổng quát của luân hồi
K1. Tư duy về tám khổ
K2. Tư duy về sáu khổ
J2. Tư duy sự khổ riêng biệt của từng cõi
K1. Tư duy sự khổ ở ba ác đạo
K2. Tư duy sự khổ ở cõi người
K3. Tư duy sự khổ của loài a tu la
K4. Tư duy sự khổ của loài trời
L1. Sự khổ của trời cõi dục
M1. Khổ vì sau khi chết bị đọa lạc
M2. Khổ vì bị lăng nhục, sợ hãi
M3. Khổ vì bị cắt xẻo, phân thây, tàn hại, xua đuổi
L2. Sự khổ của trời cõi sắc và vô sắc

E2. Thứ đệ tu tâm chung với bậc trung sĩ.

F1. Chính thức tu tập tâm này.

G1. Nhận định tâm cầu giải thoát.

Sau khi tư duy ý nghĩa sự chết và sau khi chết sẽ đọa vào ác đạo, hành giả không còn mong cầu quả báo hiện đời, mà khởi tâm mong cầu đời sau sanh vào cõi lành; bằng sự nương vào quy y và quán sát nghiệp quả, hành giả quyết tâm nỗ lực tu thiện diệt ác. Nương vào sự tu tập, hành giả tuy có thể đạt được quả báo thù thắng ở cõi lành, nhưng không nên thỏa mãn với những công đức nhỏ nhoi này, mà phải từ ý hướng của bậc hạ sĩ dẫn phát đến ý hướng của bậc trung sĩ, nghĩa là đình chỉ tất cả đam mê lạc thú thế gian. Kế đến, nương vào nhân duyên [tu tập trung sĩ đạo], phát Bồ đề tâm, dẫn khởi ý hướng của bậc thượng sĩ. Cho nên hành giả, sau bậc hạ sĩ, phải nên tu tập ý hướng của trung sĩ đạo.

Đại khái, tu tập hạ sĩ đạo, hành giả tuy có thể đạt được quả báo trời người, nhưng vẫn chưa vượt được hành khổ, hơn nữa, lại còn chấp vào cảnh vui, cho là chân thật. Đây là một sự kiện cực kỳ điên đảo. Thật ra, cảnh giới trời người hoàn toàn không có sự an lạc, bởi vì sau khi hưởng hết phước báo, nhất định sẽ bị đọa vào ác đạo, rốt cuộc cũng vẫn phải thọ khổ. Sự giải thoát có nghĩa là thoát khỏi tất cả sự trói buộc; còn phiền não và nghiệp là hai sự trói buộc chính trên thế gian. Do lực tăng thượng của phiền não và nghiệp, nếu dùng “cảnh giới” mà phân thì có dục giới, sắc giới và vô sắc giới; nếu dùng “nẻo” mà phân thì có năm nẻo, hoặc sáu nẻo (trời, người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục); nếu dùng “cách thọ sanh” mà phân thì có bốn loại sanh (thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh). Thể tánh của sự trói buộc này tức là sự kết uẩn tương tục. Thoát khỏi sự trói buộc tức là được giải thoát, và muốn được sự giải thoát thì phải phát tâm mong cầu [sự giải thoát này].

G2. Phương tiện sanh khởi tâm này.

Ví như muốn giải trừ sự khát, trước tiên cần phải nhận thức nỗi khổ của sự khát là một sự kiện không đáng ưa, sau đó tìm cách thoát khỏi nỗi khổ của nó. Tương tự, muốn được sự tịch diệt, giải thoát khỏi sự khổ [do sự trói buộc của thủ uẩn], thì cũng phải thấy được sự không đáng ưa của sự khổ trói buộc, và tìm cách thoát khỏi sự trói buộc để được tự tại. Nếu không tu tập quán sát sự khổ của ba cõi thì sẽ không sinh tâm cầu giải thoát khỏi ba cõi để đạt đến sự tịch diệt giải thoát. Tứ Bách Tụng nói:

Nếu không nhàm ba cõi,
Làm sao ưa Niết bàn.

H1. Tư duy về khổ đế, họa hoạn của luân hồi.

I1. Mật ý của Phật khi giảng Tứ đế, nói khổ đế trước nhất.

Tập đế là nhân, khổ đế là quả, trước là tập, sau là khổ, tại sao Đức Thế Tôn không thuận theo thứ tự mà lại nói: “Này các tỳ kheo, đây là khổ thánh đế, đây là tập thánh đế.” Đức Thế Tôn nói ngược thứ tự nhân quả của tập và khổ là muốn nói đến ý nghĩa quan trọng của sự tu trì, cho nên không có lỗi gì cả. Điều này còn có nghĩa gì? Nếu trước tiên không khởi tâm chân chánh mong cầu giải thoát thì sẽ không có nền tảng cho sự giải thoát, như vậy lấy gì làm dẫn đạo cho sự tu hành giải thoát? Một lý do nữa là vì những hành giả tu học đều bị vô minh che lấp, chấp cảnh khổ cho là cảnh vui, bị cảnh giới làm mê hoặc.

Như Tứ Bách Tụng nói:

Ở trong biển khổ này,
Mênh mông không bờ bến,
Hiện nay đang trồi ngụp,
Sao không sanh sợ hãi.

Cõi giới này, chân thật mà nói, toàn là sự khổ, không có gì vui. Đức Phật nói đến nhiều tướng khổ là để cho hành giả sanh tâm nhàm chán cõi khổ, vì thế, trước tiên ngài nói khổ đế. Do đây, nếu thấy được mình đang chìm trong biển khổ, muốn thoát ra khỏi, cần phải trừ diệt sự khổ. Thế nhưng, nếu chưa đoạn trừ được nguyên nhân của sự khổ, thì không thể ngăn chận được sự khổ, do đó, hành giả bèn tư duy về nguyên nhân của sự khổ mà biết được tập đế. Kế đến, hiểu rõ sự khổ thế gian là do nghiệp hữu lậu phát sanh, nghiệp từ phiền não phát sanh, và căn bản của phiền não là sự chấp ngã. Từ đây mà hiễu rõ tập đế.

Nếu biết được rằng ngã chấp cũng có thể bị đoạn trừ, thì sẽ phát nguyện cầu chứng đắc diệt đế để trừ diệt nguyên nhân của sự khổ (tức ngã chấp). Vì những lý do này, Đức Phật mới nói diệt đế ngay sau tập đế.

Có người hỏi: “Nếu vậy, sau khi hành giả được chỉ rõ khổ đế, Đức Phật có thể giảng ngay diệt đế. Đây cũng là điều hợp lý?” Trả lời: “Đức Phật giảng theo trình tự của ngài cũng không có gì sai trái. Vả lại, hành giả sau khi nghe khổ đế, tuy muốn diệt khổ, mong cầu giải thoát, nhưng vì chưa biết rõ nguyên nhân của sự khổ, chưa thấy được việc có thể đoạn trừ nguyên nhân của sự khổ, cho nên đối với việc tu tập chứng đắc giải thoát vẫn còn phân vân chưa quyết định.” Kế đến, nếu như trong hiện đời, nhận thức được sự tu tập chứng đắc diệt đế thì sẽ tư duy cách nào để đạt đến mục tiêu, do đây sẽ chuyển nhập đạo đế (phát tâm tu hành). Vì lý do này, Đức Thế Tôn giảng giải đạo đế sau cùng.

Pháp tứ đế này, trong các pháp Đại, Tiểu thừa đều giảng nói nhiều lần, bởi vì đó là pháp thiết yếu mà Đức Thế Tôn đã tổng kết pháp lưu chuyển sinh tử và pháp hoàn diệt sinh tử (Niết bàn). Đây cũng là trình tự cần thiết để dẫn đạo người tu hành. Nếu như hành giả chỉ tư duy về khổ đế, nhưng chưa thể dứt trừ sự tham luyến thế gian, thì sự mong cầu giải thoát chỉ là hư dối. Bất cứ công hạnh tu tập nào cũng đều trở thành tập đế. Nếu hành giả chưa tư duy về tập đế, chưa hiểu rõ những tập khí phiền não thế gian, mà vội vàng tu pháp diệt đế, thì cũng giống như chưa nhìn rõ hồng tâm (mục tiêu) mà đã vội buông tên. Đây là phá hoại điểm trọng yếu của chánh đạo, quay sang chấp trước các pháp tu [tạp nhiễm] thế gian, cho đó là chánh (là đúng), tuy lao phí công sức tu hành nhưng vẫn không đạt được đạo quả. Nếu chưa hiểu rõ khổ tập, thì cũng không nhận rõ sự giải thoát tịch diệt, dù nói đến sự mong cầu giải thoát thì cũng chỉ là những lời khoe khoang tự thị mà thôi.

I2. Nói rõ tu tập khổ đế.

J1. Tư duy sự khổ tổng quát của luân hồi.

K1. Tư duy về tám khổ.

Muốn tu tập các pháp của bậc trung sĩ, trước tiên phải tu tập tất cả các pháp dành cho bậc hạ sĩ. Đối với các pháp khác biệt với bậc hạ sĩ, nếu có tuệ lực thì nên tu tập những điều trình bày bên dưới. Nếu như tuệ lực yếu ớt, có thể tạm gác lại những phần chi tiết, và chỉ cần tu tập những điểm chính. Ở đây, tuy dùng sự tư duy quán sát để tu tập, thế nhưng, ngoại trừ cảnh sở duyên, không nên để tâm tán loạn vào những cảnh giới khác, dù thiện, ác hay vô ký. Khi trụ tâm vào cảnh sở duyên, phải nên trừ khử tâm điệu cử, v.v..., và không nên rơi vào trạng thái thụy miên, hoặc trầm một. Phải khiến cho tâm thức cực kỳ trong sáng, tĩnh lặng mà dần dần tu tập. Nhập Bồ Tát Hành Luận nói:

Tuy tụng niệm nhiều năm
Lại tu chư khổ hạnh
Nếu tâm thường tán loạn
Phật nói tu vô ích. (Phẩm Năm, kệ 16)

Điều này muốn nói dùng tâm tán loạn tu tập thiện hạnh chỉ đưa đến những quả báo nhỏ nhặt yếu ớt. Tu Tín Đại Thừa Kinh nói: “Thiện nam tử. Do những sự kiện này, có thể nói rằng các vị Bồ tát phát khởi lòng tin Đại thừa, thành tựu tất cả công đức Đại thừa đều là do chuyên tâm, chân chánh tư duy pháp nghĩa phát sinh.” Tâm không tán loạn có nghĩa là ngoại trừ sự chuyên chú vào cảnh sở duyên lành, tâm không rong ruổi theo những trần cảnh khác. Pháp nghĩa, nghĩa là văn (kinh văn) và nghĩa (nghĩa lý). Chánh tư duy, nghĩa là dùng quán tuệ quán sát tư duy cân nhắc. Điều này nêu rõ dù tu bất cứ pháp [xuất sinh công đức] nào đều phải cần hai thứ này, cho nên nói muốn dẫn phát tất cả công đức của ba thừa, đều phải cần hai đức: (1) ngoại trừ sự chuyên chú vào cảnh sở duyên lành, không để tâm

rong ruổi theo những trần cảnh khác, mà phải chuyên nhất trụ vào chân xa ma tha (chỉ), hoặc các pháp tùy thuận pháp chỉ; (2) khéo quán sát cảnh sở duyên lành, như sở hữu tính, tận sở hữu tính, tỳ bát xá na (quán), hoặc các pháp tùy thuận pháp quán. Điều này cũng giống như Giải Thâm Mật Kinh nói: “Này Từ Thị. Chư Thanh văn, hoặc chư Bồ tát, hoặc chư Như lai có được tất cả thiện pháp thế gian, hoặc xuất thế gian, nên biết đây đều là quả báo của pháp xa ma tha, tỳ bát xá na.” Nếu không chân thực tu tập chỉ quán, hoặc hai pháp tùy thuận thì không nhất định thành đạt tất cả công đức của ba thừa.

Quán sát tám khổ:

[1] Trước tiên quán sát sinh khổ, có năm phần: (a) Lúc sinh có các khổ đi kèm: như các hữu tình địa ngục, một loài ngạ quỷ toàn chịu khổ, và các loài thai sinh, noãn sinh, đang lúc sinh ra phải chịu nhiều sự khổ thống. (b) Sự sinh có nhiều phiền não thô trọng đi kèm: nghĩa là các chủng tử phiền não sinh trưởng hòa hợp, khiến cho hữu tình bị phiền não theo đuổi, bức bách, không được tự tại. (c) Sự sinh là nơi nương tựa của các khổ: sự khổ nương vào ba cõi mà thọ sinh, cho nên các sự khổ của lão bệnh tử tùy theo đó mà tăng trưởng. (d) Sự sinh là nơi nương tựa của phiền não: nếu thọ sinh ở thế gian, trong cảnh giới đầy dẫy phiền não, ba độc tham sân si tự động tăng trưởng, khiến thân tâm không được tịch tĩnh, chỉ toàn sự khổ do phiền não từ nhiều phương diện bức bách thân tâm. (e) Sự sinh là khởi đầu của sự chết (ly biệt): biên tế cuối cùng của cuộc sống là sự chết. Chết không phải là điều mong cầu, mà chỉ đem đến cho chúng sinh sự sợ hãi và khổ não. Hành giả phải thường quán sát những sự khổ vừa nêu trên.

[2] Quán sát lão khổ, có năm phần: (a) Sắc trẻ suy thoái: nghĩa là lưng còng, tóc bạc, trán nhăn, má hóp, v.v..., toàn là những sự kiện không đáng ưa. (b) Khí lực suy thoái: nghĩa là khi ngồi cảm giác như bị đá đè, khi đứng cảm giác như bị đóng đinh, nói năng ngọng nghịu, đi đứng khó khăn, v.v... (c) Các căn bị suy thoái: như mắt mờ, tai điếc, đãng trí hay quên, ký ức suy giảm, v.v... (d) Thọ dụng cảnh giới suy thoái: chẳng hạn ăn uống khó tiêu, v.v..., đối với các trần cảnh khác cũng không thể thọ dụng. (e) Thọ mạng suy thoái: nghĩa là đang đi dần đến sự chết. Hành giả phải nên thường quán sát những sự khổ này. Ngài Cẩn Nã Ngõa nói: “Sự chết tuy khổ, nhưng chỉ xảy ra trong một đoạn thời gian ngắn, còn sự khổ già nua thì lại càng ác liệt hơn.” Ngài Gia Nã Ngõa nói: “Sự già nua đến dần dần còn có thể nhẫn thọ, nếu các sự khổ già nua cùng đến một lúc ắt không thể nào nhẫn thọ.”

[3] Quán sát bệnh khổ, có năm phần: (a) Thân thể biến hoại: nghĩa là thân thể ốm yếu gầy gò, da dẻ khô khan, v.v... (b) Sống trong sự lo âu khổ sở: nghĩa là các cấu trúc trong cơ thể như nước, v.v..., nặng nhẹ không chừng mực, rối loạn thân xác, do đây, người bệnh sinh khởi ưu não, sống u uất qua ngày. (c) Không thể thọ những cảnh giới yêu thích: nghĩa là đối những cảnh giới ưa thích, vì bệnh hoạn dày vò, không thể thọ dụng như ý muốn, cũng không thể điều chỉnh các oai nghi động tác. (d) Bị cưỡng bách thọ dụng những cảnh giới không ưa thích: chẳng hạn như ẩm thực không vừa ý, v.v..., hoặc phải chịu đựng những phương pháp trị liệu khó nhẫn như bị chích, châm, v.v... (e) Bệnh tật có thể làm giảm thiểu tuổi thọ: chẳng hạn gặp phải bệnh nan y, không thể chữa trị, lòng sinh sầu khổ. Hành giả đối với những sự khổ như vậy phải nên tỉ mỉ quán sát.

[4] Quán sát tử khổ, có năm phần: (a) phải xả bỏ sự thọ dụng, (b) bạn bè, (c) quyến thuộc, (d) thân xác, bốn loại cảnh giới đáng yêu, và (e) lúc mạng chung, thọ nhận những sự cực kỳ ưu khổ. Nếu hành giả đối với những cảnh khổ này vẫn chưa nhàm chán sợ hãi thì cần phải thường tu tập quán sát. Ý nghĩa của bốn sự khổ đầu (a d) là thấy mình xa lìa cảnh giới đáng yêu nên sinh ưu khổ.

[5] Quán sát oán tắng hội khổ, có năm phần: (a) gặp kẻ oán thù sinh lòng ưu khổ; (b) sợ bị trị phạt; (c) sợ bị tiếng xấu; (d) sợ bị chết trong sự khổ bức; và (e) phạm pháp hoặc phá giới, nghi rằng khi chết bị đọa ác đạo nên sinh lòng ưu khổ.

Hành giả phải nên quán sát những điều này.

[6] Quán sát ái biệt ly khổ, có năm phần: (a) lìa xa những người thân thương nhất, tâm sinh ưu khổ; (b) cất tiếng than van; (c) hiện dáng dấp bi thương; (d) nghĩ đến điều tốt của họ (người thân thương nhất), sinh lòng lưu luyến, tâm sinh nhiệt não; hoặc (e) nghĩ đến người đó thiếu thốn, không đầy đủ vật dụng. Hành giả đối với những điều này nên chú tâm quán sát.

[7] Quán sát cầu bất đắc khổ, có năm phần: giống như ái biệt ly, cầu bất đắc có nghĩa là: (a) trồng trọt mà không gặt hái được, (b) kinh doanh mà không thu hoạch lợi tức, v.v.... Nói tóm, đối với những điều mong cầu, rốt cuộc không được toại nguyện, thất vọng đau khổ. Hành giả nên quán sát các sự khổ như vậy.

[8] Tư duy ý nghĩa năm uẩn đều là khổ, có năm phần: (a) [năm uẩn] sẽ trở thành công cụ của sự khổ; (b) làm nơi nương tựa của sự khổ; (c) làm công cụ cho khổ khổ; (d) làm công cụ cho hoại khổ, và (e) làm công cụ cho hành khổ. Hành giả phải nên thường xuyên quán sát. Trong đây, (a) thọ thân năm uẩn này sẽ dẫn đến sự khổ đời sau; (b) làm nơi nương tựa cho sự khổ, nghĩa là năm uẩn là nơi nương tựa của lão, bệnh, v.v...; (c) và (d) những phiền não thô trọng hòa hợp sinh ra khổ khổ và hoại khổ; (e) sinh ra thân năm uẩn tức là đã hàm chứa hành uẩn, vì tất cả hành đều là do nghiệp thức tác động, đây đều là hành khổ. Nếu đối với ý nghĩa năm uẩn thế gian chưa sinh khởi sự nhận thức chân chánh, chưa khởi tâm chân thật yếm ly, thì chưa thể sinh khởi tâm mong cầu giải thoát chân thật, và hơn nữa, đối với các hữu tình thế gian đang trôi lăn trong sinh tử cũng không thể sinh khởi tâm đại bi phương tiện cứu độ. Do đây, các hành giả tu học Phật pháp, bất luận Đại Tiểu thừa, tâm tăng thượng ý nhạo (mong cầu giải thoát) này vô cùng quan trọng.

K2. Tư duy về sáu khổ.

Thân Hữu Thư nói: “Có sáu sự khổ là: (1) mọi sự đều bất định, (2) không biết thỏa mãn, (3) xả thân đời này qua đời khác, (4) thọ thân đời khác qua đời này, (5) thọ sinh các cõi cao thấp khác nhau, (6) đơn thân không bạn lữ (lúc sanh, đến một mình, khi chết, đi một mình).” Sáu điều này có thể thu gọn thành ba: (a) trong vòng luân hồi không có gì bảo đảm, (b) đối với sự thọ dụng cảnh vui, không biết thỏa mãn, (c) trôi lăn từ vô thỉ. Phần (a) lại chia làm bốn: [i] đối với thân đã thọ, không có sự bảo đảm, nghĩa là có thân là có chết; [ii] đối với sự tổn hại, lợi ích đều không có sự bảo đảm, nghĩa là cha, con, mẹ, vợ đều thay đổi lòng dạ, thân thù biến đổi, lúc ghét lúc thương, v.v..., không có sự nhất định; [iii] đối với sự hưởng phước (cảnh giới vui) không có sự bảo đảm, lúc lên cao, lúc xuống thấp, thăng trầm không định; [iv] đối với sự sum hợp không có sự bảo đảm, nghĩa là sẽ ra đi (chết) một mình. Phần (c) Trôi lăn từ vô thỉ, nghĩa là thọ sinh từ đời này qua đời khác, không có cùng tận.

Hành giả phải nên thường quán sát như vậy.

Hơn nữa, khi tâm tham tăng trưởng, cảnh vui tạm thời hiện tiền, bất quá chỉ là đối với sự khổ tạm ngừng mà sinh cảm tưởng cho là vui. Đây không phải là do dứt trừ sự khổ mà được sự vui chân thật. Ví như đi bộ lâu cảm thấy khổ, vừa được tạm ngồi nghỉ ngơi bèn cho là vui (lạc), đây là do sự khổ đi bộ tạm ngừng, cho nên cảm thấy vui, không phải là sự vui thật sự. Giả như ngồi lâu, thì lại cảm thấy sự khổ xuất hiện (giống như lúc đi bộ). Nếu như tự tính của tiền cảnh là nhân của sự vui, thì cũng là nhân của sự khổ, vì tùy thuộc vào thời gian tính, qua một giai đoạn nào đó sẽ tăng trưởng sự khổ; những thi vi tạo tác như đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, ngày đêm, v.v..., trong một giai đoạn nào đó sinh ra cảm giác vui, nếu quá một đoạn thời gian (ngồi quá lâu, ăn quá nhiều, v.v...), thì sự khổ sẽ bắt đầu sinh khởi. Nên biết như vậy. Đây là lời dạy trong Nhập Thai Kinh và Tứ Bách Tụng Bổn Thích.

J2. Tư duy sự khổ riêng biệt của từng cõi.

K1. Tư duy sự khổ của ba ác đạo.

Như đã nói chi tiết ở phần trên.

K2. Tư duy sự khổ ở cõi người.

Nên biết, những nỗi khổ về [1] cảm xúc không đáng ưa như đói, khát, lạnh, nóng, [2] sự truy cầu không toại, cùng [3] sự lao nhọc, lại còn các sự khổ [4] sinh, [5] lão, [6] bệnh, [7] tử, như đã nói ở phần trên, tổng cộng có bảy loại. Tập Pháp Cú nói:

Tất cả khổ ác đạo,
Cõi người đều có đủ,
Bức bách giống địa ngục,
Nghèo như cõi diêm la,
Khổ giống như bàng sinh,
Kẻ mạnh hiếp kẻ yếu,
Khinh miệt và tàn hại,
Liên tục như suối chảy.
Tứ Bách Tụng cũng nói:
Người trên lao tâm trí,
Kẻ dưới nhọc xác thân,
Hai khổ đưa cuộc đời,
Đến dần nơi bại hoại.

K3. Tư duy sự khổ của loài a tu la.

Loài a tu la không nhẫn chịu nỗi sự hưởng thụ thù thắng của loài trời nên sinh lòng ganh ghét, tâm ý nhiệt não, bèn chiến đấu với loài trời, do đây đưa đến hậu quả khổ đau, như thân thể bị thương tổn, hoặc bị giết chết, v.v... Loài này tuy có trí tuệ, nhưng bị dị thục chướng, cho nên không thể tu hành kiến đế (không thể chứng sơ quả).

K4. Tư duy sự khổ của loài trời.

L1. Sự khổ của trời cõi dục.

M1. Khổ vì sau khi chết bị đọa lạc.

Loài trời lúc sắp chết, có năm tướng chết hiện ra, khiến cho họ sinh tâm ưu khổ. Sự khổ này so ra còn lớn hơn những khoái lạc mà họ đã từng hưởng thọ. Năm tướng chết là: (a) hình tướng xấu xí; (b) không còn ưa thích chỗ ngồi của mình; (c) hoa trên đầu héo tàn; (d) y phục nhơ nhớp, và (e) thân thể chảy mồ hôi mà trước giờ chưa từng có. Thân Hữu Thư nói:

Nếu từ cõi trời đọa,
Vì đã hưởng hết phước,
Cho nên sẽ sinh vào,
Địa ngục, quỷ, bàng sinh.

M2. Khổ vì bị lăng nhục, sợ hãi.

Đối với các vị trời đầy đủ đại uy đức, hoặc khi các vị trời phước đức cực kỳ thù thắng sắp sinh ra, các vị trời ít phước thường cảm thấy sợ hãi, thọ nhận sự ưu khổ rất lớn.

M3. Khổ vì bị cắt xẻo, phân thây, tàn hại, xua đuổi.

Khi trời và a tu la đánh nhau, các vị trời bị khổ vì thương tích, thân thể bị cắt xẻo, hoặc bị giết chết. Nếu như bị cắt đầu thì sẽ bị chết, còn nếu thân thể bị cắt xẻo thì sẽ được lành lại. Khổ vì bị xua đuổi, nghĩa là một khi các vị trời có uy đức lớn nổi cơn sân nộ, thì các vị trời ít phước liền bị xua đuổi ra khỏi cung điện của mình.

L2. Sự khổ của trời cõi sắc và vô sắc.

Hai cõi trời sắc và vô sắc, tuy không có khổ khổ, nhưng vẫn còn đầy đủ phiền não, tập khí, đối với sự sống chết cũng chưa được tự tại, bởi vì còn các phiền não thô trọng tức là còn khổ. Tập Pháp Cú nói:

Hai cõi sắc, vô sắc,
Tuy không còn khổ khổ,
Đầy đủ tính “định, lạc”,
Trụ nhiều kiếp bất động,
Nhưng không phải giải thoát,
Sau đó vẫn bị đọa,
Có vẻ như vượt thoát,
Những cảnh khổ ác đạo,
Nhưng cõi vui không bền,
Như chim bay ngang trời,
Như đứa trẻ buông tên,
Rốt cuộc vẫn bị đọa,
Giống ngọn đuốc cháy lâu,
Tàn lụi từng giây phút,
Bị hành khổ, hoại khổ,
Thi nhau làm tổn hại.