Xin kính chào quý vị Pháp sư, quý vị cư sỹ.
Hôm nay tôi sẽ chia sẻ cùng quý vị một điển tích Phật giáo. Câu chuyện được trích từ trang 578c đến trang 579a, tập thứ tư của “Đại Chánh Tạng” trong quyển “Kinh Pháp Cú Thí Dụ phẩm Đa Văn”.
Trước đây, đức Phật giảng pháp cho bốn chúng gồm Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sỹ và nữ cư sỹ tại tịnh xá Mỹ Âm nước Câu Thiểm Di. Khi đó có một vị tu hành theo đạo Bà La Môn có kiến thức uyên bác, tinh thông vạn sự, đọc thông các loại kinh điển và am tường mọi chuyện trên thế gian. Nhưng người này rất kiêu căng ngạo mạn, tự cho rằng thiên hạ không ai bằng mình và luôn tìm kiếm đối thủ để so tài ở bất kỳ nơi đâu. Và cũng không ai dám đứng ra để đáp lại thách thức của anh ta.
Vào ban ngày, vị Bà La Môn này thường hay cầm đuốc đi giữa thành phố. Có người hỏi: “Tại sao giữa ban ngày lại phải cầm đuốc”?
Vị Bà La Môn ấy trả lời: “Người trên thế gian dốt nát và ngu muội quá, không nhìn thấy cái gì, cho nên ta phải cầm đuốc để soi sáng cho họ!”. Cứ như thế, anh ta đi khắp thế gian mà không ai dám đứng ra tranh luận cùng.
Đức Phật biết rằng vị Bà La Môn này kiếp trước thiện căn phúc đức đã chín muồi, có thể giáo hóa; nhưng do kiêu căng ngạo mạn, mua danh chuộc tiếng, không suy nghĩ về vô thường, mà tự phụ, phóng túng ngạo mạn. Nếu cứ tiếp tục như thế sẽ bị đọa vào địa ngục Thái Sơn, trải qua vô số đau khổ, lúc đó có muốn được cứu thoát, thì ngày đó e rằng cũng còn rất xa.
Thế là, Đức Phật bèn hóa thành một vị hiền triết, ngồi ở quán trong chợ, đợi khi vị Bà La Môn này đi qua, Ngài liền hỏi: “Tại sao ngươi muốn làm như thế”?
Vị Bà La Môn trả lời: “Vì chúng sanh trên thế gian đều ngu muội, bất kể là ngày hay đêm đều không nhìn thấy ánh sáng, nhìn không rõ chân tướng của sự việc, cho nên ta cầm đuốc để soi sáng cho mọi người”!
Vị hiền triết lại hỏi: “Trong kinh có 4 loại minh pháp, ngươi biết không”?
Vị Bà La Môn trả lời: “Không biết. Thế cuối cùng là có 4 loại minh pháp gì”?
Vị hiền triết nói: “4 loại minh pháp này gồm: Thứ nhất phải thông hiểu thiên văn, địa lý, biết về sự điều hòa giữa bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; Thứ hai: Phải hiểu về chiêm tinh học, có thể phân biệt ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; Thứ ba: phải hiểu về phương pháp trị vì đất nước, giáo dục dân chúng, phải có phương kế lãnh đạo; Thứ tư: phải hiểu được cách thức dùng binh, bảo vệ biên cương vững chắc. Ngươi là người Bà La Môn, vậy có biết đến 4 loại minh pháp này không”?
Vị Bà La Môn trong lòng cảm thấy vô cùng xấu hổ, tự cảm thấy thua kém, liền ném đuốc xuống đất, cung kính chắp tay sám hối trước đức Phật.
Đức Phật biết vị Bà La Môn này tâm ý tốt, nên biến trở lại thành Phật, tướng mạo trang nghiêm phổ chiếu ánh hào quang và dùng Phạm âm thanh tịnh mà nói với vị Bà La Môn rằng: “Chắc ngươi đã nghe nói, tự cao, tự đại cũng giống như cây nến, chỉ có thể chiếu sáng người khác mà không thể chiếu sáng cho bản thân”.
Ý nghĩa của câu kệ trên là:
“Cho dù bạn có uyên bác thế nào, nhưng nếu tự kiêu tự đại và xem thường người khác, cũng giống như một người mù cầm nến, cho dù có thể chiếu sáng cho người khác, nhưng lại không thể soi sáng cho bản thân mình”.
Đức Phật nói: “Trên thế gian cũng không có ai dốt nát và ngu si hơn ngươi, đó là cầm đuốc đi trong thành giữa ban ngày. Thực ra những điều ngươi biết, chẳng qua cũng chỉ là hạt bụi nhỏ mà thôi”!
Vị Bà La Môn sau khi nghe giảng xong, cảm thấy xấu hổ không để đâu cho hết. Sau đó, ông ta liền đảnh lễ với Đức Phật và nguyện làm đệ tử của Người.
Đức Phật rất từ bi nên đã thu nhận anh ta làm đệ tử. Lúc này Sa môn tâm khai ý giải, chấm dứt vọng niệm và đắc quả A la Hán.
Câu chuyện trên đáng để chúng ta cảnh tỉnh:
Việc học tập, nghiên cứu triết lý là dùng để tịnh hóa tâm thân, có lợi cho mọi người, chứ không phải dùng điều đó để khoác lác, ngạo mạn, khinh thường người khác!
Đạo sư Ấn Thuận khuyên chúng ta rằng: “Cần sử dụng học vấn, chứ không để bị học vấn sử dụng mình. Học vì muốn thanh tịnh tâm mình, học vì muốn giúp cho người khác, chứ không phải là thứ học vấn thông thường.
Nếu chỉ tích lũy kiến thức, mà không suy nghĩ, có hành vi phản tỉnh, (bỏ) lại chính mình, không thay đổi tính khí của bản thân, nhiều lắm thì cũng chỉ trở thành học giả, chứ không thể trở thành thánh nhân. Chúng ta đừng lầm lẫn xem học giả như là thánh nhân. Chúng ta đã học được thì phải đem ra dùng, cũng giống như con tằm ăn lá dâu thì phải nhả tơ. Nếu tằm ăn lá dâu, mà lại cũng nhả ra lá dâu, thế thì còn tác dụng gì? Cho nên, nếu chỉ là học và nhớ, thì cũng chỉ là “trí tuệ bẩm sinh” thông thường mà thôi. Phải tin tưởng nhân quả, phải tin tưởng không hoài nghi đối với Tam Bảo, Tứ Đế, Duyên khởi, Vô ngã, Thánh Đạo, mới có thể có được quyết tâm giải thoát. Như vậy mới là “do học hỏi mà sinh trí tuệ” như Phật giáo đã nêu.
Trong kinh luận cũng nhắc tới: “Nếu chỉ có sự nhận thức thông thường, không có sự tin tưởng thanh tịnh, như vậy là có tri thức mà không niềm tin, chỉ càng khiến tà kiến tăng thêm. Còn nếu có niềm tin nhưng không có tri thức, thì lại càng thêm dốt nát.” Cho nên, hy vọng mọi người tiếp cận với bậc thiện tri thức, nghe chính pháp, tư duy theo chân lý, rồi thực hành theo pháp, để có thể tịnh tâm, giải thoát chính mình, và cũng khiến chúng sinh có thể đạt được sự giải thoát.
Những điều trên xin được chia sẻ cùng quý vị!
Phúc Nghiêm, lớp giáo dục mở rộng, ngày 8 tháng 6 năm 2013