Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Mo-Rong-Tam-Luong-Bao-Dung-Ke-Khac
Quyển hai của kinh Hoa Nghiêm vừa mở đầu liền hiện lên cảnh giới: ‘tâm bao trùm thái hư, lượng gồm thâu các cõi nhiều như cát’.  Câu nói của Lão Tử: ‘Có bao dung thì mới rộng lớn, chẳng ham muốn thì sẽ mạnh mẽ’ [31] cũng thể hiện trong đoạn kinh văn này.  Trong kinh nói đến ‘đại nhẫn’ tức là chân nhẫn, là dùng chân tâm mà nhẫn, tâm lượng của chân tâm lớn, không có gì chẳng bao dung.  Chỉ có hiểu rõ triệt để chân tướng sự thật thì mới có tâm lượng lớn như vậy.  Cảnh giới đó là vốn có, chẳng phải là do học mà được, cũng chẳng phải có được dần dần, cho nên Phật mới nói ‘hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’.  Chúng ta vốn có đại nhẫn, vốn là Phật, giống y như Tỳ Lô Giá Na Phật, A Di Ðà Phật, hiện nay lại biến thành như vầy là vì đã mê mất tự tánh, chân tâm.  Giáo học Phật giáo chẳng có gì khác ngoài sự giúp đỡ chúng sanh khôi phục bộ mặt vốn có mà thôi; ngoài chuyện này ra, Phật chẳng có một pháp gì để dạy chúng sanh.  Cho nên thánh và phàm, Phật và chúng sanh khác nhau ở tại một niệm mê - ngộ mà thôi.  Phật thường than tiếc chúng sanh mê hoặc là ‘người đáng thương xót’, chỉ vì mê mất tự tánh nên tâm địa hẹp hòi, chẳng thể bao dung người khác, thậm chí hai người sống chung cũng có ý kiến bất đồng, chẳng thể hòa hợp, đúng là đáng thương xót đến mức cùng cực.  Kinh Hoa Nghiêm vừa mở đầu liền triển hiện lên tận hư không trọn khắp pháp giới mọi chúng tạp thần, có thiện thần, có ác thần, có bát bộ quỷ thần trong thập pháp giới, còn có chư thiên, thiên vương, tổng cộng có hai trăm hai mươi tám đoàn thể chủng tộc khác nhau.  Thiệt là chẳng gì chẳng bao gồm, dung chứa, tâm lượng như vậy quá lớn!  Chúng ta cũng phải khôi phục lại tâm lượng lớn như vậy.  Nếu chẳng thể dung nhẫn, kết oán cùng người, tạo thành oan oan tương báo, bạn gây chướng ngại cho người khác thì người khác sẽ chướng ngại bạn; bạn phá hoại kẻ khác thì kẻ khác sẽ phá hoại bạn, tạo ra nhân gì thì sẽ chịu quả báo đó, quả báo thông ba đời, rất đáng sợ.  Cho nên khi bạn bao dung kẻ khác, thì kẻ khác bao dung bạn; bạn giúp đỡ người khác thì người khác giúp đỡ bạn, đây là chân lý vĩnh viễn chẳng biến.  Ðây là trong kinh Hoa Nghiêm, Phật hiện thân thuyết pháp, biểu diễn cho chúng ta coi, để cho chúng ta thể hội.

Chỗ vĩ đại của Phật, Bồ Tát là ở chỗ chẳng đối địch với người, ngay cả đối với ác quỷ cực ác cũng cung kính, thương yêu che chở, vì biết [hết thảy đều] cùng một căn bản, cùng một tự tánh.  Tào Thực nói: ‘Vốn cùng sanh một rễ, nấu nhau sao quá gấp?’  [32], tận hư không trọn khắp pháp giới hết thảy chúng sanh đều cùng một cội rễ, cái cội rễ này chính là chân như tự tánh.

Một đoàn thể chủng tộc chẳng thể bao dung những chủng tộc khác thì sẽ có đấu tranh giữa các đoàn thể chủng tộc, một quốc gia chẳng thể bao dung quốc gia khác thì sẽ sanh khởi chiến tranh.  Muốn giải quyết những vấn đề này thì tâm lượng nhất định phải lớn, khi khởi tâm động niệm đều nghĩ đến hết thảy chúng sanh, phải tôn trọng, kính ái, hợp tác lẫn nhau, thì mới tiêu trừ những sự hiểu lầm, mâu thuẫn, ngăn cách, kỳ thị, thế giới mới chân chánh đạt được hòa bình an định.  Nếu niệm niệm đều vì lợi ích của mình, xem thường lợi ích của đối phương, xem thường lợi ích của toàn thể nhân loại, cho dù mỗi ngày đều hô hào thế giới hòa bình, thì đó cũng chỉ là một khẩu hiệu, chẳng thể thực hiện.  Do đó người tâm lượng hẹp hòi chẳng có cách gì để giải quyết vấn đề.  Các đoàn thể chủng tộc trên thế giới, người lãnh đạo quốc gia nhất định phải mở rộng tâm lượng, niệm niệm đều vì hết thảy chúng sanh khổ nạn trên thế giới, hòa bình an định mới có thể thực hiện.

Giả sử mọi người đều nghĩ đến lợi ích của hết thảy chúng sanh trên trái đất, vấn đề vẫn chẳng thể giải quyết y như cũ vì tâm lượng này vẫn còn quá nhỏ.  Chúng ta chỉ thương yêu quả đất này, chẳng thương yêu những tinh cầu khác thì tương lai chiến tranh giữa các tinh cầu vẫn có thể xảy ra.  Thế nên tâm lượng phải mở rộng, phải học Phật, Bồ Tát khi khởi tâm động niệm phải quan tâm đến tận hư không, trọn khắp pháp giới, chẳng buông bỏ một chúng sanh nào hết.  Nếu chưa có tâm lượng lớn như vậy thì làm sao mới làm được câu ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’?  Nếu tâm lượng nhỏ bé chẳng thể dung nạp một người nào, mỗi ngày phát nguyện [như vậy] thì chẳng phải là tự sỉ nhục hay sao, lừa gạt Phật, Bồ Tát hay sao?  Ðó là nói dối.  Nói nghe rất hay, nhưng làm toàn những chuyện phản đạo, đều là tạo nghiệp, nên cổ đức thường nói: ‘Trước cửa địa ngục, tăng đạo nhiều’, nguyên nhân người học Phật vẫn còn đọa địa ngục là ở tại chỗ này.

Người chẳng nghiên cứu giáo lý làm sai thì còn tha thứ được; chúng ta mỗi ngày đều nghiên cứu Phật lý, chẳng tìm hiểu rõ ràng những đạo lý này, vẫn còn mê trong danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần, việc này ngay cả mình cũng chẳng tha thứ mình được.  Nếu từ chỗ này chúng ta có thể tỉnh ngộ thì đó là sự giác ngộ chân chánh.  Lúc đó đọc kinh Hoa Nghiêm mới có thọ dụng chân thật, quan niệm tư tưởng mới chuyển biến được, sẽ ‘nhập tri kiến Phật’.  Hiểu rõ y báo, chánh báo trang nghiêm của thập pháp giới vốn có cùng một gốc rễ, đó tức là tri kiến Phật.

Trong cuốn ‘Ðịa Tạng Kinh Luân Quán’ Thanh Liên pháp sư giảng: ‘Không tướng không tên, dứt bặt suy nghĩ”[33], đây tức là nghĩa lý và tinh hoa của kinh Kim Cang, đây là chân tướng sự thật.  Nếu chúng ta thể hội đến ý nghĩa chân thật của câu này thì quan niệm tư tưởng, ngôn ngữ hành vi sẽ chuyển biến, chuyển phàm thành thánh.  Hiểu được một phần thì chuyển biến một phần; hiểu được hai phần thì chuyển biến hai phần; mức độ chuyển biến bao lớn đi đôi với mức độ lý giải sâu hay cạn.  Ðây cũng có thể dùng làm phương pháp đo lường công phu tu học của mình, nếu có chỗ tiến bộ thì tâm địa sẽ ngày càng thanh tịnh, trí huệ ngày càng tăng trưởng, phiền não cũng sẽ ngày càng giảm bớt.  Ðến lúc phiền não nhẹ, trí huệ tăng thì những kinh luận thế gian và xuất thế gian bày ra trước mặt, vô lượng vô biên nghĩa thú tự nhiên sẽ tuôn trào ra.  Thế nên chân tu tức là làm một sự chuyển biến to lớn trên quan niệm và tâm lý.

Chúng ta là chúng sanh mê hoặc, chỗ nương dựa duy nhất để chuyển biến là thánh giáo, dựa vào phương hướng và mục tiêu của thánh giáo chỉ đạo, hết lòng làm việc chuyển biến, chuyển thức thành trí, chuyển phiền não thành Bồ Ðề, chuyển sanh tử thành Niết Bàn, chuyển mê thành ngộ, siêu phàm nhập thánh, chúng ta phải làm công tác này.  Ðối với chúng sanh có duyên cũng phải hết lòng, hết sức giúp đỡ họ chuyển biến; tuy giúp đỡ chúng sanh nhưng tâm địa vẫn giữ thanh tịnh như cũ, tuyệt chẳng chấp tướng; chấp tướng sẽ sanh phiền não, tâm sẽ bị ô nhiễm.  Phật, Bồ Tát dạy dỗ hết thảy chúng sanh có thể giữ gìn tâm thanh tịnh, chẳng bị ô nhiễm, nếu chúng sanh có thể chuyển biến tư tưởng quan niệm, thì tán thán hoan hỷ; nếu chẳng thể chuyển biến thì tâm địa của Phật, Bồ Tát cũng vẫn thanh tịnh, chẳng lưu lại dấu vết, đây chính là ‘tam luân thể không’ nói trong kinh Bát Nhã, thế nên Phật, Bồ Tát vĩnh viễn tự tại, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, đạo lý là ở tại chỗ này.

Chúng ta tu học tiến bộ ít, thoái lui nhiều là vì niệm niệm đều bị ô nhiễm.  Khi chỉ dạy người ta, nếu họ chịu tiếp nhận thì sanh tâm hoan hỷ, vậy là bị hoan hỷ ô nhiễm rồi; ngược lại khi người ta không chịu tiếp nhận hoặc chẳng thể làm được, thậm chí những gì họ làm đều trái ngược với lời dạy thì sanh phiền não, vậy là bị phiền não ô nhiễm rồi, bị ô nhiễm thì sẽ thoái chuyển.  Nếu có thể làm được như lời dạy trong kinh Kim Cang: ‘chẳng chấp vào tướng, như như chẳng động’, tâm chẳng bị ô nhiễm thì sẽ chẳng thoái chuyển. 

Những gì Phật dạy chúng ta câu nào cũng là lời chân thật, phải dựa vào lời dạy của Phật, tự tìm cầu nhiều phước đức.  Phước đức chân thật là giúp đỡ hết thảy chúng sanh, tức là hết lòng nỗ lực tu bố thí tài vật, bố thí pháp, bố thí vô úy, đây là những người biết tìm cầu nhiều phước đức, hy vọng mọi người lưu ý thêm những lời dạy trong Ðại Kinh, được vậy thì sự thọ dụng trong đời này sẽ vô cùng tận.

__________________

[31] (Hữu dung nãi đại, vô dục tắc cương)

[32] Nguyên văn: Bổn thị đồng căn sanh, tương tiễn hà thái cấp.  Tào Thực là em Tào Phi, hai người là con của Tào Tháo. Tào Thực thông minh đĩnh ngộ lạ lùng, đi bảy bước là làm xong một bài thơ. Tào Phi sợ Tào Thực sau này sẽ cướp ngôi mình, nên tìm cớ bắt tội, định xử chết, Tào Thực bèn làm bài thơ trên, ngụ ý: Dùng vỏ đậu, dây đậu để nấu hạt đậu, khác nào anh em tàn sát lẫn nhau.

[33] (Vô tướng vô danh, tuyệt tư tuyệt nghị)
Trích từ: Học Vi Nhân Sư Hành Vi Thế Phạm

Từ Ngữ Phật Học
quả báo
(果報) Phạm:Vipàka. Cũng gọi Dị thục, Quả thục, Báo quả, Ứng quả, Dị thục quả. Tức là cái kết quả do nghiệp nhân từ quá khứ mang lại. Có 2 loại: 1. Tổng báo: Quả báo do dẫn nghiệp (nghiệp báo chung) đưa đến, như sự sống còn của con người là do dẫn nghiệp từ đời trước mang lại. 2. Biệt báo: Quả báo riêng của mỗi người do mãn nghiệp (nghiệp báo riêng) đưa đến, cũng gọi Mãn quả, như cùng sinh làm người nhưng có nam, nữ, nghèo, giàu... khác nhau. Nói về thời gian thì có quả báo 3 thời của nghiệp 3 thời: 1. Thuận hiện báo (cũng gọi Hiện báo): Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ngay.2. Thuận sinh báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng trong đời sau. 3. Thuận hậu báo: Đời này gây nghiệp, chịu quả báo báo ứng ở đời sau nữa. Trong 6 đường thì trời và người là quả báo do giữ 5 giới, tạo 10 nghiệp thiện mà được, cho nên gọi là Thiện quả; nhưng thiện quả này vẫn còn phiền não mê vọng, vì thế cũng gọi là Điên đảo thiện quả. Tuy nhiên, nếu nói một cách chặt chẽ, thì ý nghĩa quả và báo cũng có khác nhau, như quả Đẳng lưu là do nhân cùng loại sinh ra gọi là Quả; còn quả Dị thục là do nhân khác loại sinh ra, thì gọi là Báo. Cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, phần đầu, thì Tập quả là quả, còn báo quả là báo. Phiền não đời sau là Tập quả, đau khổ thì gọi là Báo quả; cho nên nghèo, giàu, khổ, vui... đều là Quả báo. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.trung, phần 2; Câu xá thích luận Q.3, 5; Pháp uyển châu lâm Q.69; Kim cương bát nhã ba la mật đa kinh chú giải; Ma ha chỉ quán Q.8, phần cuối].
Phật Quang Đại Từ Điển
Tự Tại
(s: vaśitā, vaśitva, 自在): vaśitā có nghĩa là năng lực thuận theo ý một cách tự nhiên, trong khi đó, vaśitva là thuận theo ý một cách tự nhiên; thế nhưng, về mặt ngữ nguyên thì cả hai không khác nhau. Từ Hán ngữ “tự tại” cũng có nghĩa là thuận theo ý một cách tự nhiên, đồng nghĩa với tự do (自由), là sự hoạt dụng của thân tâm xa lìa hết thảy mọi ràng buộc, được tự do tự tại. Trong kinh điển Phật Giáo, từ này được dùng để chỉ cảnh giới cũng như năng lực vô ngại của chư Phật và Bồ Tát vốn đã xa lìa sự ràng buộc của phiền não. Về năng lực tự tại, có nhiều thuyết khác nhau như 2 loại tự tại, 4 loại tự tại, 5 loại tự tại, 8 loại tự tại, 10 loại tự tại, v.v. Trong Hoa Nghiêm Kinh (Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) quyển 26 có đề cập đến 10 loại năng lực tự tại được trang bị đầy đủ nơi vị Bồ Tát từ địa thứ 8 trở lên, gồm Mạng Tự Tại (命自在), Tâm Tự Tại (心自在), Tài Tự Tại (財自在), Nghiệp Tự Tại (業自在), Sanh Tự Tại (生自在), Nguyện Tự Tại (願自在), Tín Giải Tự Tại (信解自在), Như Ý Tự Tại (如意自在), Trí Tự Tại (智自在) và Pháp Tự Tại (法自在). Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經) quyển 68 liệt kê 5 loại năng lực tự tại của vị Bồ Tát có Pháp Thân là Thọ Mạng Tự Tại (壽命自在), Sanh Tự Tại, Nghiệp Tự Tại, Giác Quan Tự Tại (覺觀自在), và Chúng Cụ Quả Báo Tự Tại (眾具果報自在). Tại Trúc Khê Tự (竹溪寺) ở Phố Đài Nam (臺南市), Đài Loan (臺灣) có câu đối rằng: “Trúc mậu thành lâm quán tự tại, khê trừng vọng nguyệt ức cô viên (竹茂成林觀自在、溪澄望月憶孤園, trúc rậm thành rừng nhìn tự tại, khe trong trăng tỏ nhớ vườn xưa).” Hay tại Lý An Tự (理安寺) ở Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) cũng có câu đối diễn tả tâm cảnh tự tại thoát tục của đất trời như sau: “Sơn gian nhật nguyệt tự lai khứ, thiên tế phù vân vô thị phi (山間日月自來去、天際浮雲無是非, trong núi trời trăng tự đi đến, bên trời mây nỗi chẳng thị phi).”
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
kiến phật
(見佛) Thấy Phật. Nếu nương vào Quán Phật tam muội hoặc Khẩu xưng tam muội mà tu hành thì sẽ được thấy sắc thân tốt đẹp của Phật. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín, thì hàng Nhị thừa và phàm phu nương theo Phân biệt sự thức mà thấy Ứng thân của Phật, còn hàng Bồ tát thì nương Nghiệp thức mà thấy Báo thân của Phật. Kinh Hoa nghiêm quyển 58 (bản 80 quyển) liệt kê 10 loại Kiến Phật: An trụ thế gian thành chính giác Phật vô trước kiến. Nguyện Phật xuất sinh kiến, Nghiệp báo Phật thâm tín kiến, Trụ trì Phật tùy nguyện kiến, Niết bàn Phật thâm nhập kiến, Pháp giới Phật phổ chí kiến, Tâm Phật an trụ kiến, Tam muội Phật vô lượng vô y kiến, Bản tính Phật minh liễu kiến và Tùy nhạo Phật phổ thụ kiến. Kiến Phật thường chỉ cho sự cảm thấy sắc thân của Phật, nhưng lãnh hội tâm Phật, chứng ngộ pháp Phật cũng có thể gọi là Kiến Phật. Thấy được Phật ắt có thể diệt tội sinh phúc, chứng được diệu quả. [X. phẩm Hành trong kinh Ban chu tam muội Q.thượng; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.5; kinh Quán vô lượng thọ; luận Đại trí độ Q.29; luận Thập trụ tì bà sa Q.12; luận Thích ma ha diễn Q.5; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu; Quán niệm pháp môn].
Phật Quang Đại Từ Điển
chư thiên
(諸天) I. Chư thiên. Cứ theo các kinh nói, thì cõi Dục có sáu thiên (Lục dục thiên), bốn thiền cõi Sắc có mười tám thiên, bốn xứ cõi Vô sắc có bốn thiên, ngoài ra, còn có các thiên thần khác, như Nhật thiên, Nguyệt thiên, Vi đà thiên, gọi chung là Chư thiên (người các cõi trời). Cứ theo kinh Phổ diệu quyển 6 chép, thì khi đức Thíchtôn thành đạo dưới cây Bồ đề, chư Thiên đều đến chúc mừng. [X. Cổ kim trứ văn tập Q.2]. II. Chư thiên. Trong Mật giáo, chỉ hai mươi Thiên thuộc Ngoại kim cương bộ trong Kim cương giới mạn đồ la, và Thiên long quỉ thần trong Thai tạng giới mạn đồ la ngoại viện. Cũng gọi là Phổ thế thiên.
Phật Quang Đại Từ Điển
bố thí
(布施) Phạm: Pàli: Dàna. Dịch âm: Đàn na, Đà na, Đàn. Cũng gọi Thí. Hoặc là dịch từ tiếng Phạmdakwiịà, dịch âm: Đạt sấn, Đại sấn, Sấn. Dịch ý là tài thí, thí tụng, sấn thí. Nghĩa là vì lòng từ bi đem phúc lợi ban cho người. Bố thí vốn là pháp mà đức Phật khuyên hàng ưu bà tắc làm theo; nghĩa chính của nó là đem những vật như cơm ăn, áo mặc cho các bậc đại đức và những người nghèo khổ. Đến thời Đại thừa thì Bố thí là một trong sáu ba la mật và, ngoài việc ban phát của cải, thức ăn uống ra, còn thêm hai thứ bố thí nữa là Pháp thí (nói Pháp cho người nghe) và Vô úy thí (làm cho người khác không sợ hãi) để mở rộng ý nghĩa và phạm vi bố thí. Tóm lại, Bố thí là một phương pháp tu hành đem tài vật, thể lực, trí tuệ v.v... cho người khác, vì người mà tích lũy công đức, tạo phúc thành trí, để cuối cùng được giải thoát. Đại thừa nghĩa chương quyển 12 giải thích nghĩa bố thí như sau: Đem tài vật của mình chia xẻ cho người khác, gọi là Bố. Lòng mình lo lắng cho người, gọi là Thí. Tiểu thừa bố thí nhằm mục đích diệt trừ lòng tham lam bỏn xẻn của cá nhân để thoát khỏi sự nghèo khổ của kiếp sau, Đại thừa thì liên kết bố thí với giáo nghĩa đại từ bi nhằm siêu độ chúng sinh. Người bố thí tài vật gọi là Đàn việt (Phạm: dànapati, hàm ý chủ của sự bố thí, dịch ý là Thí chủ, Đàn na chủ, nói tắt là Đàn na). Tài vật để bố thí gọi là Sấn tư ..Sấn tài, Sấn kim, Sấn tiền, Đường sấn (ý là tài vật bố thí cho chư tăng của nhà Tăng), Biểu sấn (ý là phân chia tài vật), Tín thí (ý là tài vật do tín đồ bố thí). Bố thí là một trong sáu niệm (niệm thí), một trong bốn nhiếp pháp (Bố thí nhiếp), một trong sáu Ba la mật (Bố thí ba la mật), một trong mười ba la mật (Đàn ba la mật). Bố thí có thể khiến người ta trừ bỏ lòng tham, như bố thí những thứ áo mặc, cơm ăn cho Phật, tăng và người nghèo khổ, chắc chắn sẽ được quả báo hạnh phúc. Còn giảng nói chính pháp cho người nghe, khiến họ được công đức lợi ích, gọi là Pháp thí. Làm cho người khác thoát khỏi mọi sự sợ hãi, gọi là Vô úy thí. Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí là ba hạnh của Bồ tát thực hành, trong đó, công đức của Pháp thí lớn hơn cả. Bố thí nhằm diệt trừ lòng tham và mong cầu khai ngộ là bố thí trong sạch; ngược lại là bố thí không trong sạch. Về pháp thí, nếu nói pháp khuyên người ta cầu sinh ở cõi người cõi trời, gọi là Thế gian pháp thí. Còn giáo pháp (37 phẩm trợ đạo và 3 giải thoát môn) khuyên người thành Phật, gọi là xuất thế gian pháp thí. Ngoài ra, về sự khác nhau giữa Bố thí và Bố thí ba la mật, cứ theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 2 chép, thì Bố thí của Thanh văn, Duyên giác, phàm phu, ngoại đạo và Bố thí của Bồ tát ở hai a tăng kì kiếp đầu thực hành gọi là Thí; còn Bố thí của Bồ tát ở a tăng kì kiếp thứ ba thì gọi là Thí ba la mật. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Bồ tát thiện giới quyển 1 nói, thì Bồ tát tại gia thực hành Tài thí và Pháp thí; Bồ tát xuất gia làm bốn pháp thí: Bút thí, Mặc (mực) thí, Kinh thí, và Thuyết pháp thí. Còn Bồ tát được vô sinh pháp nhẫn thì thực hành ba pháp thí: Cụ túc thí, Đại thí và Vô thượng thí. Luận Câu xá quyển 18 nêu ra tám loại bố thí: Đến đâu cho đó, cho sự can đảm, cho để đền ơn, cho cầu báo, cho vì theo thói quen của người trước, cho để cầu mong sinh cõi trời, cho để cầu danh, vì trang nghiêm tâm mà cho v.v... Cũng quyển 18 của sách đã dẫn còn nêu bảy thứ bố thí: cho người khách, cho người đi đường, cho người bệnh, cho người săn sóc bệnh nhân, cho vườn rừng, cho ăn thường, cho tùy lúc v.v... Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 12 phẩm Vô tận tạng thì nêu mười pháp bố thí: tu tập thí, tối hậu nan thí (tức cho cả thân mệnh), nội thí, ngoại thí, nội ngoại thí, nhất thiết thí, quá khứ thí, vị lai thí, hiện tại thí, và cứu kính thí v.v... Vì nội dung, thái độ và mục đích khác nhau của hành vi bố thí nói ở trên nên có những hình thức bố thí không giống nhau. Lại nữa, bản chất người cho, người nhận và vật để cho là không, không bị dính mắc, gọi là Tam luân thể không, Tam luân thanh tịnh. [X.Trung a hàm Q.30 kinh Phúc điền; kinh Tăng nhất a hàm Q.4, Q.9. Q.20; kinh Đại bát nhã ba la mật Q.469, Q.569; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bố thí; luận Đại trí độ Q.14, Q.29; luận Du già sư địa Q.39]. (xt. Đật Sấn).
Phật Quang Đại Từ Điển
phát nguyện
(發願) Cũng gọi Phát đại nguyện, Phát nguyện tâm, Phát chí nguyện, Phát vô thượng nguyện. Phát khởi thệ nguyện, tức phát tâm bồ đề cầu chứng quả Phật, đặc biệt chỉ cho tâm hoàn thành Tịnh độ để cứu giúp chúng sinh (tức thệ nguyện). Nguyện mà Bồ tát phát khởi có rất nhiều loại như: Tổng nguyện, Biệt nguyện, Tịnh độ thành Phật nguyện, Uế độ thành Phật nguyện v.v... Đối với tông Tịnh độ, người thệ nguyện vãng sinh Tịnh độ khuyến khích tự mình tu thiện, tâm phát nguyện vãng sinh này, gọi là Hồi hướng phát nguyện tâm. Trong Quán kinh huyền nghĩa phần, khi giải thích 6 chữ Nam mô A di đà Phật, ngài Thiện đạo cho rằng Nam mô có nghĩa là phát nguyện hồi hướng. Ngài Thân loan thì cho rằng đó là đức Phật A di đà phát nguyện cứu độ chúng sinh và là nhân của chúng sinh được cứu. Hoặc giải thích niệm chữ Nam mô là tuân hành lời khuyến khích và kêu gọi (phát khiển chiêu hoán)của 2 đức Phật Thích ca, Di đà mà phát tâm vãng sinh Tịnh độ. Về đại thể, Nguyện tâm có thể chia làm 2 loại: Một là nguyện cầu bồ đề, hai là nguyện hóa độ chúng sinh. Bốn thệ nguyện rộng lớn và 10 đại nguyện đều thuộc về phát nguyện. Ngoài ra, về việc làm phúc, tu thiện... đều phải phát nguyện trước; bài văn ghi chỉ thú của lời phát nguyện gọi là Phát nguyện văn, Nguyện văn, Thệ nguyện văn, như Thiên tăng hội nguyện văn của ngài Trầm ước đời Lương thuộc Nam triều, Phát nguyện văn của Đại sư Trí khải đời Tùy, Phát nguyện văn của ngài Thiện đạo đời Đường... [X. phẩm Chủng tính kinh Bồ tát địa trì Q.1; phẩm Nguyện thệ trong Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; luận Đại trí độ Q.5; phẩm Phân biệt thế luận Câu xá Q.12]. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).
Phật Quang Đại Từ Điển
quỷ thần
(鬼神) Loại chúng sinh có uy lực đáng sợ, thường biến hóa một cách tự tại, được chia làm 2 loại thiện và ác. Nếu che chở cho thế gian, hoặc giữ gìn, bảo vệ Phật pháp, như Đại phạm thiên vương, Tam thập tam thiên vương, Tứ thiên vương, Viêm ma vương, Nan đà long vương, Bạt nan đà long vương ... thì đều là quỉ thần thiện; nếu như La sát... thì là quỉ thần ác. Còn Dạ xoa thì thuộc cả 2 loại thiện và ác. Trong Phật giáo thì quỉ thần thông thường là chỉ cho 6 bộ quỉ thần: Càn thát bà, Dạ xoa, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la và Ma hầu la già. Ở Ấn Độ đời xưa, từ thời đại Phệ đà về sau, tín ngưỡng quỉ thần lưu hành rất rộng, sau này, một bộ phận được du nhập Phật giáo, nhất là Mật giáo, chẳng hạn như hình tướng phẫn nộ của các vị Minh vương là do pháp thân Tì lô giá na hiển hiện, đều thuộc loại này. Ngoài ra, kinh Kim quang minh nói rất rõ về chưthiên, quỉ thần; loại quỉ thần này rất được tông Thiên thai tôn sùng. Ngài Hành Đình đời Tống có biên soạn Chư thiên truyện 2 quyển, thu chép các kí lục về quỉ thần trong các kinh. [X. kinh Đại hội trong Trường a hàm Q.12; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.49; kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ quyển thượng; Kinh luật dị tướng Q.46].
Phật Quang Đại Từ Điển
ô nhiễm
(污染) ... Chỉ cho phiền não nhơ nhớp. Theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì hoa sen được dùng để ví dụ sự thanh tịnh không ô nhiễm. Vì hoa sen mọc trong bùn nhơ mà không nhuốm mùi bùn, cho nên từ xưa nó được dùng để ví dụ cho người không bị hoàn cảnh xã hội làm ô nhiễm. Ngoài ra, hiện nay từ ô nhiễm được sử dụng khá phổ biến, như không khí ô nhiễm, nước ô nhiễm, môi trường ô nhiễm... nhưng từ ô nhiễm trong kinh điển Phật phần nhiều chỉ cho sự nhớp nhúa, bẩn thỉu...
Phật Quang Đại Từ Điển
tăng đạo
(僧導) (362-457) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đông Tấn thời Nam Bắc triều, người Trường an, Thiểm tây, là học trò của ngài Cưu ma la thập.Sư xuất gia năm 10 tuổi, theo thầy học kinh Pháp hoa, đêm ngày nghiên cứu, hiểu được văn nghĩa một cách sơ lược. Đến năm 18 tuổi, sư đã đọc rộng các sách, hiểu biết như thần, khiến ngài Tăng duệ phải kinh ngạc. Sau khi sư thụ giới Cụ túc, học thức của sư càng tiến, thông suốt các kinh luận Thiền cũng như Luật, vua Diêu hưng rất khâm phục đức nghiệp của sư. Sư tham dự dịch trường(nơi dịch kinh điển) của ngài La thập, thẩm định rõ ràng các kinh luận. Sau, Vũ đế nhà Lưu Tống đánh Trường an, quét sạch Quan nội, sư được Vũ đế phó thác giúp đỡ Thái tử Quế dương Công nghĩa chân thoát nạn Hạ vương, Vũ đế thâm cảm ân đức ấy bèn bảo con cháu tôn sư làm thầy. Về sau, sư làm chùa Đông sơn ở Thọ xuân, thuyết giảng kinh luận, thường có hơn nghìn người tham học. Những người theo sư học luận Thành thực, được gọi là phái Thành thực thuộc hệ thống Thọ xuân, là học phái Thành thực đầu tiên ở Trung quốc. Bấy giờ gặp nạn nhà Bắc Ngụy bức hại Phật giáo, có mấy trăm vị sa môn lánh nạn đến nương tựa nơi sư, được sư cung cấp y thực đầy đủ, lại lập hội Hành hương để cầu nguyện cho người chết. Đến khi vua Hiếu vũ nhà Lưu Tống lên ngôi, sư vâng sắc trụ trì chùa Trung hưng tại Kiến khang. Đầu năm Hiếu kiến (454-456), sư vâng sắc tuyên giảng kinh Duy ma ở chùa Ngõa quan, vua và các công khanh đều đến nghe. Sau, sư trở về Thọ xuân, thị tịch ở chùa Thạch giản, hưởng thọ 96 tuổi. Đệ tử có các vị: Tăng uy, Tăng âm. Sư để lại các tác phẩm: Thành thực nghĩa sớ, Tam luận nghĩa sớ, Không hữu nhị đế luận. [X. Lương cao tăng truyện Q.7; Pháp hoa truyện kí Q.2; Phật tổ lịch đại thông tải Q.9; chương 18 Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang dụng đồng)].
Phật Quang Đại Từ Điển
tào thực
(曹植) Văn nhân Trung quốc, người nước Ngụy thời Tam quốc, con thứ 3 của Ngụyvũ đế, em của Văn đế, tự là Tử kiến, thụy hiệu là Tư, vì thế gọi là Trần tư vương. Năm lên 10 tuổi ông đã làm văn, nhờ văn tài trác tuyệt nên ông rất được Vũ đế yêu quí. Nhưng khi Văn đế lên ngôi thì vì ghen tài nên định hại ông, từng ra lệnh cho ông đi 7 bước phải làm được bài thơ. Mới đầu, ông được vua phong làm Đông a vương, sau đổi lại là Trần vương. Có lần ông du ngoạn Ngư sơn, nghe tiếng Phạm thiên trong hư không, bèn phối hợp với các Hán khúc mà chế thành Phạm bái; ông còn sửa bớt bản Hán dịch kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, soạn Thanh minh gồm 42 khế(tứcmôn học về phúng tụng, ngâm vịnh, các kệ tụng), được lưu truyền ở các đời Lưu Tống, Nam Tề, do đó, ông được tôn làm Tổ của môn Thanh minh Phật giáo Trung quốc. Về sau, vì bất hòa với vua Minh đế(tức cháu gọi ông bằng chú ruột)nên ông phẩn uất mà chết. Ông để lại các tác phẩm: Thanh minh, Biện đạo luận. (xt. Phạm Bái).
Phật Quang Đại Từ Điển
thệ nguyện
(誓願) Phạm: Praịidhàna. Pàli:Paịìdhàna. Khởi tâm mong cầu, tự ước thúc tâm mình, tức phát nguyện, lập thệ hoàn thành một việc gì đó. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 8 trung) nói: Xá lợi phất nên biết, ta vốn lập thệ nguyện, muốn tất cả chúng sinh, được như ta không khác. Bồ tát từ lúc mới phát khởi tâm bồ đề, cho đến khi thành tựu thì dừng mà không thành Phật, đó là vì thệ nguyện của vị ấy lập ra. Nguyện chung của Phật và Bồ tát, gọi là Tổng nguyện, tức chỉ cho 4 thệ nguyện rộng lớn, còn các nguyện riêng của mỗi đức Phật và Bồ tát thì gọi là Biệt nguyện, như 48 nguyện của Phật A di đà, 12 nguyện của Phật Dược sư, 10 đại nguyện của bồ tát Phổ hiền... đều thuộc Biệt nguyện. Tông Tịnh độ đặc biệt gọi bản nguyện của Phật A di đà là Thệ nguyện. Vì Ngài thệ nguyện cứu độ khắp cả chúng sinh nên gọi là Hoằng nguyện, Hoằng thệ; lại vì tâm nguyện của Ngài rất sâu nặng nên gọi là Trọng nguyện, cũng gọi Bất xả thệ ước, Bản thệ. Năng lực của thệ nguyện gọi là Thệ nguyện lực; tác dụng của thệ nguyện phàm phu không thể nghĩ bàn được, nên gọi là Thệ nguyện bất tư nghị. Về sự dị, đồng giữa Thệ và Nguyện, Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển hạ, phần đầu cho rằng tự ước thúc tâm mình gọi là Thệ, chí cầu đầy đủ gọi là Nguyện. Còn Thắng man bảo quật quyển thượng, phần cuối của ngài Cát tạng thì cho rằng Thệ và Nguyện có đồng, cũng có dị, về đồng thì giống như trí và tuệ, nhãn và mục; về dị ở ngay việc, lấy hành làm Thệ, như Thập thụ...; mong cầu điều chưa được là Nguyện như Tam nguyện... Bởi thế biết thệ nguyện phải kèm theo nghĩa yêu chế (tức chí cầu, ước thúc – tự chế tâm mình), chứ không phải chỉ phát nguyện mong cầu mà thôi. Như lời văn nguyện ủa mỗi nguyện trong 48 nguyện của Phật A di đà đều có 2 câu Nếu tôi thành Phật và Không thành chính giác, trong đó, Nếu tôi thành Phật tức là nghĩa phát nguyện mong cầu, còn Không thành Chính giác thì nghĩa là yêu chế .
Phật Quang Đại Từ Điển
Trang nghiêm
(s: vyūha, alaṃkāra, 莊嚴): theo nguyên ngữ Sanskrit thì từ vyūha có nghĩa là được phối trí một cách tuyệt hảo, còn từ alaṃkāra thì có nghĩa là trang hoàng lộng lẫy. Đặc biệt riêng trong Phật Giáo thì từ trang nghiêm có nghĩa là trang hoàng lộng lẫy quốc độ của Phật hay nơi thuyết pháp. Bên cạnh đó nó còn có nghĩa là chư Phật và Bồ Tát trang sức thân mình bằng phước đức, trí tuệ, v.v.
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
niết bàn
(涅槃) Phạm: Nirvàịa. Pàli: Nibbàna. Cũng gọi: Nê hoàn, Nê viết, Niết bàn na, Niết lệ bàn na, Nê phạ nam, Nặc phạ nam.Hán dịch: Diệt, Tịnh diệt, Diệt độ, Tịch, Vô sinh. Đồng nghĩa: Trạch diệt, Li hệ, Giải thoát. Hoặc gọi là Bát niết bàn (Bát, dịch âm của tiếng Phạm Pari, nghĩa là hoàn toàn, dịch ý là Viên tịch), Đại bát niết bàn (Đại nghĩa là thù thắng, cũng gọi Đại viên tịch). Niết bàn nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt, về sau được chuyển dụng để chỉ lửa phiền não thiêu đốt đã bị dập tắt, là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ. Cảnh giới này vượt ngoài sinh tử(mê giới), cũng là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo, cho nên được xếp vào 1 trong những pháp ấn, gọi là Niết bàn tịch tĩnh. Về Niết bàn, Đại thừa và Tiểu thừa giải thích có khác nhau: 1. Theo Tiểu thừa(Phật giáo bộ phái): Niết bàn là trạng thái diệt hết phiền não. Trong đó lại chia ra Hữu dư y Niết bàn(gọi tắt: Hữu dư Niết bàn)và Vô dư y Niết bàn (gọi tắt: Vô dư Niết bàn). Hữu dư y Niết bàn nghĩa là phiền não tuy đã bị diệt hết, nhưng nhục thể(tức y thân)tàn dư còn lại; Vô dư y Niết bàn nghĩa là phiền não đã hết mà y thân cũng không còn, tức là trạng thái khôi thân diệt trí. Hữu bộ chủ trương Niết bàn là 1 thực thể tồn tại, nhưng Kinh lượng bộ thì cho rằng Niết bàn chỉ là giả danh của cái trạng thái đã diệt hết phiền não, chứ tự nó không có thực thể. 2. Theo Đại thừa: - Trung luận chủ trương Thực tướng là Niết bàn, Thực tướng cũng tức là tính không, là pháp do nhân duyên sinh ra, bởi thế Niết bàn và sinh tử thế gian không có sai khác. - Kinh Niết bàn quyển 3 (bản Nam) cho rằng Niết bàn có 8 vị: Thường, hằng, an, thanh tịnh, bất lão, bất tử, vô cấu và khoái lạc. Nếu đem 8 vị này phối với 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Niết bàn thì thường và hằng làThường, an và khoái lạc làLạc, bất lão và bất tử làNgã, thanh tịnh và vô cấu làTịnh. - Tông Duy thức chủ trương Niết bàn có 4 loại: Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn, Hữu dư y Niết bàn, Vô dư y Niết bàn và Vô trụ xứ Niết bàn. Trong đó, Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn(gọi tắt: Bản lai thanh tịnh Niết bàn, Tính tịnh Niết bàn)là chỉ cho Chân như, nghĩa là tướng của hết thảy sự vật xưa nay vốn là lí thể của Chân như vắng lặng. Vô trụ xứ Niết bàn là nương vào trí tuệ mà xa lìa phiền não chướng và sở tri chướng, không bị vướng mắc trong cõi mê sinh tử. Lại vì lòng đại bi nên hoạt động trong cõi mê để cứu giúp chúng sinh mà không bị kẹt nơi cảnh giới Niết bàn. Đây là 1 đặc sắc về Niết bàn của Phật giáo Đại thừa. - Tông Địa luận và tông Nhiếp luận chia Niết bàn làm 2 loại là: Tịnh tính Niết bàn và Phương tiện tịnh Niết bàn. - Tông Thiên thai thì chia Niết bàn làm 3 loại là: Tịnh tính Niết bàn, Viên tịnh Niết bàn và Phương tiện tịnh Niết bàn (cũng gọi Ứng hóa Niết bàn – đức Phật vì cứu độ chúng sinh nên thị hiện thân giả huyễn, khi nhân uyên độ sinh đã hết thì vào Niết bàn). - Tông Tịnh độ gọi thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà là thành Niết bàn, cũng gọi là Vô vi Niết bàn giới. - Hàng Thanh văn, Duyên giác vào Vô dư Niết bàn, sau đó lại hồi tâm chuyển hướng Đại thừa giáo, gọi là Vô dư hoàn sinh. Đồng thời, Niết bàn là xa lìa tướng trạng sai biệt của hết thảy các pháp, nên cũng gọi là Li tướng. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc); phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương; luận Đại tì bà sa Q. 28, 33, 34; luận Câu xá Q.6].
Phật Quang Đại Từ Điển
thế giới
(世界) Phạm,Pàli:Loka-dhàtu. Hán âm: Lộ ca đà đổ. Gọi tắt: Giới. Nơi có thể bị hủy hoại. Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 4 thì Thế nghĩa là đổi dời; Giới chỉ cho phương vị. Tức về mặt thời gian có 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai dời đổi, về mặt không gian thì có định vị nơi chốn như đông, tây, nam, bắc, trên, dưới 10 phương, cũng chính là chỉ cho nơi chốn nương ở của chúng sinh, như núi sông, cõi nước... Như trên đã nói, thế giới vốn chỉ cho thế giới hữu vi trong 3 cõi; nhưng Phật giáo Đại thừa cũng chỉ cho thế giới Liên hoa tạng (cảnh giới Phật do tông Hoa nghiêm nói), Tịnh độ của Phật A di đà... Tức bao hàm thế giới tuyệt đối siêu việt thế giới tương đối, là thế giới vô vi. Ấn độ đời xưa y cứ vào Thuyết núi Tu di để thành lậpVũ trụ luận, tức lấy núi Tu di làm trung tâm, 4 phía chung quanh có 9 núi 8 biển, 4 châu(4 thiên hạ) bao bọc và mặt trời, mặt trăng hợp lại làmmộtđơn vị, gọi là một thế giới. Hợp chung lại 1000 cái một thế giới làm mộtTiểu thiên thế giới; hợp chung 1000 cái Tiểu thiên thế giới, gọi là Trungthiên thế giới; hợp 1000 cái Trung thiên thế giới thành một Đại thiên thế giới (Đại thiên giới, Đại thiên). Một Đại thiên thế giới bao gồm 3 thứ Tiểu, Trung, Đại thiên thế giới, cho nên Đại thiên thế giới cũng gọi là Tam thiên đại thiên thế giới(Tam thiên thế giới). Vũ trụ được cấu thành bởi vô số Tam thiên đại thiên thế giới, do đó có thể thấy thế giới rộng lớn vô biên. Phạm vi giáo hóa của một đức Phật(tức một cõi Phật) hoặc là một thế giới, hoặc là một Tam thiên đại thiên thế giới, hoặc một thế giới to rộng hơn nữa. Từ thế giới vốn đồng nghĩa với Thế gian, bao gồm Hữu tình thế gian và Khí thế gian, nhưng thông thường quen chỉ cho Khí thế gian. Chúng sinh hữu tình trụ trong một thế giới được phân loại làm 6 đường khác nhau là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh,A tu la, cõi người và cõiTrời. Trong đó, thế giới mà 5 đường trước an trú gọi là Dục giới; thế giới mà chư thiên có sắc chất an trú gọi là Sắc giới; thế giới mà chư thiên không có sắc chất cư trú gọi là Vô sắc giới. Nhưng theo các kinh luận Đại thừa thì còn có Tịnh độ của chưPhậttồn tại ngoài 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc nói trên. Như Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng, ngoài 6 đường còn lập Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật, gọi chung là Thập giới, trong Thập giới này mỗi giới đều có cõi nước an trụ. Lại như Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 3 y cứ theo thuyết trong kinh Hoa nghiêm mà nêu ra nơi an trụ cúa 10 cảnh giới Phật là Quốc độ hải và Thế giới hải. 1. Quốc độ hải: Nơi an trụ của tự thể Thập Phật, là y báo viên dung tự tại không thể nghĩ bàn. 2. Thế giới hải: Nơi 10 thân Xá na nhiếp hóa, lại được chia làm 3 loại: Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Thập trùng thế giới hải và Vô lượng tạp loại thế giới hải.
Phật Quang Đại Từ Điển
Bát Bộ
(八部): tức Tám Bộ Chúng trời rồng bảo vệ Phật pháp, còn gọi là Thiên Long Bát Bộ (天龍八部), gồm Trời (s: deva, 天), Rồng (s: nāga, 龍), Dạ Xoa (s: yakṣa, 夜叉), Càn Thác Bà (s: gandharva, 乾闥婆, Hương Thần [香神] hay Nhạc Thần [樂神]), A Tu La (s: asura, 阿修羅), Ca Lâu La (s: garuḍa, 迦樓羅, Kim Xí Điểu [金翅鳥]), Khẩn Na La (s: kiṃnara, 緊那羅, phi nhân, ca nhân), Ma Hầu La Già (s: mahoraga, 摩睺羅伽, Đại Mãng Thần [大蟒神]). Vì trong Tám Bộ Chúng này, Trời và Rồng đứng đầu, nên có tên là Thiên Long Bát Bộ. Tuy khác nhau về chủng loại, nhưng họ đều quy phục uy đức của Phật và trở thành quyến thuộc của Ngài để hộ trì Phật pháp. Từ xa xưa, tại Trung Quốc cũng như Nhật Bản đã có tạo lập tranh tượng của Tám Bộ Chúng này rồi. Trong bài thơ Tống Thâm Pháp Sư Du Nam Nhạc (送深法師游南岳) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Thập phương truyền cú kệ, Bát Bộ hội đàn tràng (十方傳句偈、八部會壇塲, mười phương truyền câu kệ, Tám Bộ gặp đàn tràng).” Hay trong Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chơn Ngôn Kinh (不空罥索神變眞言經, Taishō Vol. 20, No. 1092) quyển 7, Phẩm Hộ Ma Tăng Ích (護摩增益品) thứ 7, lại có đoạn: “Nhược hữu hữu tình như pháp tu học, thường sử Tứ Thiên Vương, nhất thiết Thiên Long Bát Bộ quỷ thần, giai đương hộ hựu (若有有情如法修學、常使四天王天、一切天龍八部鬼神、皆當護祐, nếu có hữu tình như pháp tu học, thường khiến cho Tứ Thiên Vương, hết thảy Tám Bộ Trời Rồng quỷ thần, đều sẽ giúp đỡ).”
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
pháp giới
(法界) Phạm: Dharma-dhàtu. Pàli: Dhamma-dhàtu. Hán âm: Đạt ma đà đô. Chỉ cho tất cả đối tượng(cảnh sở duyên) của ý thức, 1 trong 18 giới. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì 3 uẩn: Thụ, tưởng, hành, cùng với vô biểu sắc và vô vi pháp, gọi là Pháp giới. Trong 12 xứ thì Pháp giới được gọi là Pháp xứ. Còn trong 18 giới thì 17 giới kia cũng được gọi là Pháp. Bởi vậy, theo nghĩa rộng thì Pháp giới là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi và vô vi. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 thì Pháp giới có 3 nghĩa: 1. Nhân sinh ra các thánh pháp. 2. Thể tính chân thực của các pháp. 3. Các pháp đều có phần hạn của chúng, do đó mà phân biệt được tướng trạng của mỗi pháp. Pháp giới cũng chỉ cho chân như hoặc chỉ cho tất cả các pháp. Theo Phổ hiền hành nguyện thì Pháp giới có 5 môn: Pháp giới hữu vi, pháp giới vô vi, pháp giới vừa hữu vi vừa vô vi, pháp giới chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi và pháp giới vô chướng ngại, do đó mà lập ra 5 lớp Pháp giới khác nhau là: Pháp giới pháp, pháp giới nhân, pháp giới nhân pháp dung hợp, pháp giới nhân pháp đều vắng bặt và pháp giới không chướng ngại. Chủng loại của pháp giới tuy nhiều nhưng tất cả đều qui về Nhất chân pháp giới, đây chính là tâm thanh tịnh nguyên sơ của chư Phật và chúng sinh, cũng gọi là Nhất tâm pháp giới, Nhất chân vô ngại pháp giới. Nếu đứng về phương diện hiện tượng và bản thể mà nhận xét, thì Pháp giới có thể được chia làm 4 nghĩa, gọi là Tứ pháp giới. Đó là: 1. Sự pháp giới: Hiện tượng giới bao gồm muôn pháp thiên sai vạn biệt, mỗi pháp đều có tự thể riêng và phần hạn khác nhau. 2. Lí pháp giới: Hiện tượng các pháp tuy nhiều, nhưng thể tính chân thực của chúng thì thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như, là cảnh giới tuyệt đối. 3. Lí sự vô ngại pháp giới: Giữa hiện tượng và bản thể có sự quan hệ nhất thể bất nhị, mỗi mỗi pháp tương tức tương nhập, viên dung vô ngại. 4. Sự sự vô ngại pháp giới: Tất cả mọi hiện tượng đều tác dụng hỗ tương, một tức tất cả, tất cả tức một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại. Mật giáo lấy 6 yếu tố (6 đại): Đất, nước, lửa, gió, không, thức làm thể tính của pháp giới; 6 yếu tố này là thân Tam ma da của đức Đại nhật Như lai. Cung điện của Ngài là Pháp giới cung; định vị của Ngài là Pháp giới định, ấn khế của Ngài là Pháp giới định ấn, năng lực gia trì của Ngài gọi là Pháp giới gia trì. Trong 5 trí thì Đại nhật Như lai biểu thị Pháp giới thể tính trí. Ngoài ra, tông Thiên thai gọi chung 10 giới: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật là Thập pháp giới. Đây là nói theo nghĩa phần hạn sai biệt của các tướng pháp giới. Lại nữa, Pháp giới cũng là 1 trong 12 tên của Thực tướng. Mười hai tên là: Chân như, Pháp giới, Pháp tính, Bất hư vọng tính, Bất biến dị tính, Bình đẳng tính, Li sinh tính, Pháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không và Bất tư nghị giới. [X. kinh Tạp a hàm Q.16; hội Bị giáp trang nghiêm trong kinh Đại bảo tích Q.23; kinh Đại bát nhã Q.360; kinh Hoa nghiêm Q.1, 3 (bản dịch cũ); luận Đại tì bà sa Q.71; luận Đại thừa khởi tín; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Bồ đề tâm].
Phật Quang Đại Từ Điển
như tự
(如字) I. Như Tự. Chỉ cho chữ (ta), vì chữ này biểu thị nghĩa như như, nên gọi là Như tự. II. Như Tự. Chỉ cho chữ (trà#), là chủng tử của Bảo sinh Như lai, tượng trưng cho đức của ma ni bảo châu. Vì chữ này bao hàm chữ của bản thể nên gọi là Như tự.
Phật Quang Đại Từ Điển
danh văn
(名聞) I. Danh văn. Tiếng tăm được nhiều người biết đến, đồng nghĩa với Danh dự. Phẩm Khuyến trì trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 36 hạ): Vì cầu danh văn nên phân biệt đối với kinh này. Vì tiếng tăm mang lại sự vẻ vang cho bản thân nên người đời thường tham cầu không chán. Nhưng lòng tham cầu thì vô hạn mà mục đích thì khó đạt, nên tâm cầu danh càng mãnh liệt thì khổ não càng dễ gia tăng. [X. luận Bồ đề tâm; luận Đại trí độ Q.11; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 3]. II. Danh văn. Phạm: Yazas. Vị đệ tử của đức Phật. Hán âm: Da xá. Cũng gọi Da du đà. Hán dịch: Danh văn. (xt. Da Xá).
Phật Quang Đại Từ Điển
hư không
(虛空) Phạm:Àkàza. Dịch âm: A ca xá. I. Hư Không. Chỉ cho pháp vô vi thanh tịnh, không bị chướng ngại. Là 1 trong 3 vô vi của Thuyết nhất thiết hữu bộ và Kinh lượng bộ, 1 trong 9 vô vi của Đại chúng bộ và Hóa địa bộ, 1 trong 6 vô vi của luận Bách pháp minh môn và luận Thành duy thức, 1 trong 4 vô vi của luận Đại thừa ngũ uẩn, 1 trong 8 vô vi của luận Du già sư địa và luận A tì đạt ma tạp tập, v.v... II. Hư Không. Khoảng không bao la, gồm có 5 nghĩa: Trùm khắp, thường hằng, không bị ngăn ngại, không phân biệt, dung nạp hết thảy muôn vật. Còn theo Tông kính lục quyển 6, thì Hư không có 10 nghĩa: Không chướng ngại, cùng khắp, bình đẳng, rộng lớn, vô tướng, thanh tịnh, bất động, hữu không, không không, vô đắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.75; luận Câu xá Q.1, Q.6; luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, luận Du già sư địa Q.53; luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.1; luận Thuận chính lí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.1]. (xt. Hư Không Vô Vi). III. Hư Không. Tên khác của Không giới. Chỉ cho khoảng không gian, nơi tồn tại của tất cả các pháp, 1 trong 6 giới. Tuy nhiên, cứ theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, thì giữa hư không và không giới có sự khác nhau, bộ này cho rằng Hư không chẳng phải sắc, còn Không giới thì là sắc; Hư không không thấy được, Không giới thì thấy được; Hư không vô lậu, Không giới hữu lậu; Hư không vô vi, Không giới hữu vi. Cái không mà chúng ta thấy đó là không giới, chứ chẳng phải Hư không. Nhưng trong các kinh thì phần nhiều không phân biệt 2 từ này mà dùng thay cho nhau. Ngoài ra, Hữu bộ còn cho rằng sắc của Không giới lấy sáng, tối làm thể, là có thật. Nhưng các bộ phái khác thì không công nhận thuyết này. [X. luận Du già sư địa Q.54; luận Đại tì bà sa Q75; luận Câu xá Q.1; luận Pháp uẩn túc Q.10; luận Thuận chính lí Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Du già luận kí Q.14 phần dưới].
Phật Quang Đại Từ Điển
Tri kiến

Là sự thấy biết, sự hiểu biết, tương đương với một thuật ngữ Phật học khác là “kiến giải”. Tri kiến là những kiến giải có được do năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, thu thập kinh nghiệm từ cuộc sống, từ mọi hiện tượng trong vũ trụ, cộng với sự suy nghĩ, phân biệt, phán đoán v.v... của ý thức. Tùy theo phàm phu hay thánh nhân mà tri kiến có trình độ thấp cao khác nhau: tri kiến của người thường không giống với tri kiến của bậc Thanh-văn; tri kiến của Thanh-văn không giống như tri kiến của chư vị Bồ-tát v.v...; và ngay cả tri kiến giữa những kẻ phàm phu cũng khác nhau nhiều. Vì vậy, tri kiến không giống với “trí tuệ” (tức trí bát nhã) – là trí không phân biệt, xa lìa sự suy nghĩ, phán đoán của tâm thức. Và chỉ có tri kiến của Phật (cũng gọi là “tri kiến ba la mật”) mới gọi được là trí tuệ, hay nói cách khác, chỉ có ở địa vị Phật thì tri kiến với trí tuệ mới là một. Kinh Pháp Hoa nói, đức Phật ra đời là vì một nguyên nhân vô cùng quan trọng, đó là dẫn dắt chúng sinh nhập vào tri kiến Phật. Câu nói đó có nghĩa là, đức Phật hóa độ cho chúng sinh chứng đắc các quả vị Thanh-văn, Duyên-giác, thậm chí là Bồ-tát, đều chỉ là phương tiện mà thôi, chứ cái quả vị cứu cánh phải là Phật quả, tức là quả vị giác ngộ trọn vẹn, cao tột, duy nhất; đó là tri kiến của Như Lai, thứ trí tuệ siêu việt, vượt khỏi mọi khái niệm, mọi suy tư, phân biệt của tâm thức.

Trích Lục Từ Ngữ Phật Học
Tỳ Lô Giá Na Phật
(s: Vairocana-buddha, 毘盧遮那佛): tên gọi tắt của Tỳ Lô Xá Na (毘盧舍那), hay Lô Xá Na (盧舍那), âm dịch là Tỳ Lâu Giá Na (毘樓遮那), Tỳ Lô Chiết Na (毘盧折那), Phệ Lô Giá Na (吠嚧遮那); ý dịch là Biến Nhất Thiết Xứ (遍一切處), Biến Chiếu (遍照), Quang Minh Biến Chiếu (光明遍照), Đại Nhật Biến Chiếu (大日遍照), Tịnh Mãn (淨滿), Quảng Bác Nghiêm Tịnh (廣博嚴淨). Các kinh điển giải thích về đức Phật nầy như Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), Phạm Võng Kinh (梵綱經), Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (觀普賢菩薩行法經), Đại Nhật Kinh (大日經), v.v., đều khác nhau, và thậm chí các tông phái ở Trung Quốc giải thích về đức Phật nầy cũng có sự khác biệt lẫn nhau. Kinh Hoa Nghiêm thì cho rằng đức Tỳ Lô Giá Na Phật đã từng tu công đức trong vô lượng kiếp, chứng quả chánh giác, trú nơi thế giới Liên Hoa Tạng, phóng ra ánh sáng lớn chiếu khắp mười phương, phóng đám mây hóa thân từ nơi lỗ chân lông để diễn xuất biển vô lượng khế kinh. Theo Phạm Võng Kinh thì cho rằng đức Phật nầy đã tu hành tâm địa trong hàng trăm a tăng kỳ kiếp để thành đẳng chánh giác, trú nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng, chung quanh đài liên hoa ấy có ngàn cánh (ngàn thế giới); đức Tỳ Lô Giá Na Phật biến thành ngàn hóa thân của đức Thích Ca Mâu Ni Phật và trú trong ngàn thế giới nầy. Hơn nữa, trong mỗi thế giới cánh sen ấy có hàng trăm ức núi Tu Di, trăm ức mặt trăng và mặt trời, hàng trăm ức cõi thiên hạ, hàng trăm ức Bồ Tát, Thích Ca đang diễn thuyết pháp môn tâm địa của Bồ Tát. Theo Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh thì cho rằng đức Thích Ca Mâu Ni Phật có tên là Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ và trú nơi Thường Tịch Quang Độ, cảnh giới được hình thành từ Bốn Ba La Mật là Thường Lạc Ngã Tịnh. Trong đó, Hoa Nghiêm Kinh và Phạm Võng Kinh thì cho rằng Tỳ Lô Giá Na Phật là Báo Thân Phật; còn Quán Phổ Hiền Kinh thì cho là Pháp Thân Phật. Về phía Thiên Thai Tông và Pháp Tướng Tông thì lập nên Tam Tôn là Tỳ Lô Xá Na, Lô Xá Na và Thích Ca, trong đó họ xem Tỳ Lô Xá Na là Pháp Thân (Tự Tánh Thân), Lô Xá Na là Báo Thân (Thọ Dụng Thân) và Thích Ca là Ứng Thân (Biến Hóa Thân). Trong 10 danh hiệu đức Phật có câu “Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Xá Na Phật, Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật, Thiên Bách Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật”, cũng phát xuất từ giải thích nói trên. Riêng Chơn Ngôn Tông thì lấy thuyết của Đại Nhật Kinh mà chủ trương Tỳ Lô Giá Na Phật là Đại Nhật Pháp Thân với Lý Trí Bất Nhị. Trong bài Phật Tâm Ca (佛心歌) của Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) có câu “A thùy ư thử tín đắc cập, cao bộ Tỳ Lô đảnh thượng hành (阿誰於此信得及、高歩毘盧頂上行, Ai người theo đây tin được đến, cao bước Tỳ Lô đảnh thượng đi).”
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
chuyển thức
(轉識) I. Chuyển thức. Phạm: Pravfttivijĩàna. Tông Duy thức nói về bảy thức chuyển khởi, tức là bảy thức trước: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na. Chuyển, là nghĩa chuyển biến, chuyển đổi, chuyển khởi, chuyển dịch. Có nghĩa là bảy thức trước lấy thức A lại da làm chỗ nương tựa, rồi duyên theo các cảnh sắc, thanh... mà chuyển khởi, có khả năng chuyển đổi ba cảm thụ khổ, lạc, xả, chuyển biến ba tính thiện, ác, vô kí, vì thế gọi là bảy chuyển thức. Lại Nhiếp đại thừa luận thích, (bản dịch đời Lương), quyển 2 gọi đó là thức sinh khởi, nhưng chỉ là sáu thức trước, chứ không bao gồm thức thứ bảy. [X. kinh Nhập lăng già Q.2 - luận Du già sư địa Q.51, Q.63 - luận Thành duy thức Q.2 đến Q.4 - Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Thất Chuyển Thức). II. Chuyển thức. Tên gọi khác của thức A lại da thứ tám. Tiếng dùng của tông Duy thức. Thức A lại da có hơn mười loại tên gọi khác nhau, vì thức A lại da là nơi các pháp nương vào mà chuyển khởi, cho nên có tên gọi này. [X. Duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4 phần đầu]. III. Chuyển thức. Nói tắt của từ ngữ Chuyển thức đắc trí, Chuyển thức thành trí. Tông Duy thức chủ trương, chuyển đổi các thức hữu lậu là thức A lại da thứ tám, thức mạt na thứ bảy, ý thức thứ sáu và năm thức trước, lần lượt thành các trí vô lậu là trí Đại viên kính, trí Bình đẳng tính, trí Diệu quan sát và trí Thành sở tác, đó là nghĩa Chuyển thức đắc trí. [X. luận Thành duy thức Q.10]. (xt. Chuyển Thức Đắc Trí). IV. Chuyển thức. Là ý thứ hai trong năm ý được nói trong luận Đại thừa khởi tín. Chuyển tướng trong Môn vô minh được gọi là Chuyển thức trong Môn thức thể. Tức là chuyển đổi nghiệp thức vô minh căn bản (ý thứ nhất trong năm ý) thành thức năng kiến. Cũng tức là chuyển sinh tác dụng chủ quan sáng suốt đồng thời với sự sản sinh nghiệp thức. Trong Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần cuối, Pháp tạng bỏ ý thứ hai trong năm ý ra, còn lại gọi là Chuyển thức, cũng gọi Sự thức là Chuyển thức. Nếu phối với tám thức, thì ý thứ hai trong năm ý là Chuyển thức thuộc về thức thứ tám - Sự thức là Chuyển thức thuộc về sáu thức trước. Lại trong Đại thừa nghĩa chương quyển 3 phần cuối, Tuệ viễn căn cứ theo ý của luận Khởi tín mà giải thích Chuyển thức là tên gọi khác của thức thứ bảy, điều này khác với thuyết của ngài Pháp tạng - nhưng bảo Sự thức là Chuyển thức thì đồng với quan điểm của Pháp tạng.
Phật Quang Đại Từ Điển
tâm lượng
(心量) Sự suy lường của tâm. Nghĩa là tâm dấy lên vọng tưởng rồi suy lường, phân biệt những cảnh vật bên ngoài, đó là tâm lượng của phàm phu. Còn tâm lượng chân thực mà Như lai chứng được thì xa lìa tất cả sở duyên(đối tượng), năng duyên(chủ thể) mà an trụ nơi vô tâm. [X. kinh Lăng già Q.3].
Phật Quang Đại Từ Điển
hiện thân
(現身) Nghĩa là qui y, qui mệnh, hoặc hiến thân tin thờ. Từ ngữ này bắt nguồn từ chữ Phạm: Namas (Pàli: Namo, dịch âm: Na mô). Namas nguyên nghĩa là cúi mình kính lễ, về sau chuyển thành nghĩa qui y, hiến thân, v.v... nhưng đến Phật giáo Đại thừa thì nghĩa hiến thân được mở rộng, cho rằng hiến thân phục vụ chúng sinh tức là lễ kính chư Phật. Trong Mật giáo còn nói đến nghĩa hiến thân tuyệt đối. Kim cương đính du già tu tập Tì lô giá na tam ma địa pháp (Đại 18, 327 hạ, 328 thượng), nói: Vì muốn kính thờ các đức Như lai, bỏ thân dâng hiến Phật A súc; gieo mình sát đất đem tâm lễ, chắp tay kim cương đưa lên đầu. (...) Vì muốn cúng dường chuyển pháp luân, dốc lòng kính lễ Vô lượng thọ. Nhờ phương tiện hiến thân như thế, nên có thể thị hiện nhiều loại thân . (xt. Qui Y).
Phật Quang Đại Từ Điển
Sanh tử
(生死): vấn đề sanh tử (sống chết) được xem như vô cùng trọng đại đối với con người. Phật Giáo chia sanh tử của chúng sanh làm 2 loại: Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dị Sanh Tử (變異生死). Phần Đoạn Sanh Tử, còn gọi là Phần Đoạn Tử (分段死), Hữu Vi Sanh Tử (有爲生死), đối xưng với Biến Dị Sanh Tử, tức chỉ chúng sanh mỗi đời quả báo chiêu cảm không giống nhau, cho nên hình tướng, thọ mạng cũng khác nhau; đó được gọi là Phần Đoạn Thân (分段身). Sau khi thọ thân này, tất phải có một lần kết thúc sinh mạng, vì vậy có tên là Phần Đoạn Sanh Tử. Biến Dị Sanh Tử, hay Vô Vi Sanh Tử (無為生死), Bất Tư Nghì Biến Dị Tử (不思議變易死), Biến Dị Tử (變易死), tức chỉ sự sanh tử của các bậc thánh trong Ba Thừa như A La Hán (阿羅漢), Bích Chi Phật (辟支佛), Bồ Tát (菩薩), v.v., do vì bi nguyện cứu độ chúng sanh mà trở lại cõi đời này. Trong kinh điển Phật Giáo có rất nhiều ví dụ về sanh tử. Như Câu Xá Luận (俱舍論) ví sanh tử như bùn: “Sanh tử nê giả, do bỉ sanh tử, thị chư chúng sanh trầm nịch xứ cố, nan khả xuất cố, sở dĩ thí nê (生死泥者、由彼生死、是諸眾生沉溺處故、難可出故、所以譬泥, bùn sanh tử là do sanh tử ấy, là nơi chúng sanh bị chìm đắm, khó có thể ra được, vì vậy mới ví như bùn).” Thành Duy Thức Luận (成唯識論) thì ví như đêm dài: “Vị đắc chơn giác, hằng xử mộng trung, cố Phật thuyết vi sanh tử trường dạ (未得眞覺、恆處夢中、故佛說爲生死長夜, chưa được chánh giác, thường ở trong mộng, cho nên Phật dạy sanh tử là đêm dài).” Trong Phật Sở Hành Tán (佛所行讚) lại cho sanh tử là biển cả: “Đương thừa trí tuệ chu, siêu độ sanh tử hải (當乘智慧舟、超度生死海, phải lên thuyền trí tuệ, vượt qua biển sanh tử).” Hay Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) thì xem sanh tử như là đám mây mù: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Trong khi đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論) ví sanh tử là bánh xe: “Sanh tử luân tải nhân, chư phiền não kiết sử, đại lực tự tại chuyển, vô nhân năng cấm chỉ (生死輪載人、諸煩惱結使、大力自在轉、無人能禁止, xe sanh tử chở người, các phiền não kiết sử, lực lớn tùy ý chuyển, chẳng ai ngăn cấm được).” Hoặc Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註) lại ví dụ sanh tử là khu vườn: “Thị ứng hóa thân, hồi nhập sanh tử viên, phiền não lâm trung du hí thần thông (示應化身,迴入生死園、煩惱林中遊戲神通, hiện thân ứng hóa, trở lại vào vườn sanh tử, thần thông rong chơi trong rừng phiền não).” Tại bảo tháp của Tổ Giác Tiên (覺先, 1880-1936), người khai sơn Chùa Trúc Lâm tại Huế và cũng là vị sáng lập Hội An Nam Phật Học Trung Việt, có câu đối: “Tàng bách niên sanh tử, quy nhất lộ Niết Bàn (藏百年生死、歸一路涅槃, ẩn trăm năm sống chết, về một đường Niết Bàn).” Tại Lâm Dương Tự (林陽寺) thuộc Phúc Châu (福州) có câu đối rằng: “Chúc khứ phạn lai mạc bả quang âm già diện mục, chung minh bảng hưởng thường tương sanh tử quải tâm đầu (粥去飯來莫把光陰遮面目、鐘鳴板響常將生死掛心頭, cháo đi cơm đến chớ để tháng ngày chơ mặt mũi, chuông ngân bảng vọng thường đem sanh tử mang trong tâm).” Thiền Sư Giới Không (界空, ?-?) của Việt Nam có một bài thơ về sanh tử rằng: “Ngã hữu nhất sự kỳ đặc, phi thanh huỳnh xích bạch hắc, thiên hạ tại gia xuất gia, thân sanh ố tử vi tặc, bất tri sanh tử dị lộ, sanh tử chỉ thị thất đắc, nhược ngôn sanh tử dị đồ, trám khước Thích Ca Di Lặc, nhược tri sanh tử sanh tử, phương hội lão tăng xứ nặc, nhữ đẳng hậu học môn nhân, mạc nhận bàn tinh quỹ tắc (我有一事希特、非青黃赤白黑、天下在家出家、親生惡死爲賊、不知生死異路、生死衹爲失得、若言生死異塗、賺卻釋迦彌勒、若知生死生死、方會老僧處匿、汝等後學門人、莫認盤星軌則, ta có một việc kỳ đặc, chẳng xanh vàng đỏ trắng hắc, trên đời tại gia xuất gia, thích sống ghét chết là giặc, chẳng biết sống chết hai nẻo, sống chết chỉ là được mất, nếu bảo sống chết khác đường, lừa cả Thích Ca Di Lặc, nếu biết sống chết sống chết, mới biết lão tăng chốn nào, các người môn nhân hậu học, chớ lầm khuôn mẫu phép tắc).” Hay Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) cũng có nhận định về sanh tử như sau: “Tâm chi sanh hề sanh tử sanh, tâm chi diệt hề sanh tử diệt, sanh tử nguyên lai tự tánh không, thử huyễn hóa thân diệc đương diệt (心之生兮生死生、心之滅兮生死滅、生死元來自性空、此幻化身亦當滅, tâm mà sanh chừ sống chết sanh, tâm mà diệt chừ sống chết diệt, sống chết nguyên lai tự tánh không, thân huyễn hóa này cũng phải diệt).” Câu “phần đoạn sanh tử quả nhân (分斷生死果因、盡滅冤恩煩惱)” có nghĩa là đoạn trừ từng phần nhân và quả của sanh tử, nhờ vậy mới có thể diệt tận mọi oán ân, phiền não.
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
tán thán
(讚嘆) I. Tán Thán. Phạm: Varịa. Cũng gọi Tán, Thán. Khen ngợi, tán dương. Tức dùng các bài kệ tụng để ca ngợi, tán thán uy đức và thần lực của Phật và Bồ tát. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 3 hạ, dùng ngôn ngữ để biểu hiện sự khen ngợi, gọi là Kí ngôn thán; còn không thể nói ra bằng lời mà chỉ tán thán ở trong lòng thì gọi là Tuyệt ngôn thán. Tán thán môn trong luận Tịnh độ của ngài Thế thân là 1 trong Ngũ niệm môn; còn trong Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo thì Tán thán cúng dường cũng được coi là 1 trong 5 Chính hạnh vãng sinh Tịnh độ. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương, xưng niệm danh hiệu Phật A di đà có được tín tâm tha lực mới là sự tán thán chân chính. [X. luận Đại trí độ Q.30; Vãng sinh luận chú].II. Tán Thán. Một trong các loại tán ca của Phật giáo Nhật bản, sớm nhất là các bài Bách thạch tán thán, Xá lợi tán thán, Pháp hoa tán thán...thịnh hành vào đầu thời đại Bình an.
Phật Quang Đại Từ Điển
Thanh liên
(青蓮): hoa sen xanh, từ ý dịch của Ưu Bát La (s: utpala, p: uppala, 優鉢羅), hay Ô Bát La (烏鉢羅), Âu Bát La (漚鉢羅), Ưu Bát Lạt (優鉢剌), Ôn Bát La (殟鉢羅); tên khoa học là Nymphaca tetragona. Bên cạnh đó, nếu thêm tính từ nīla vào, ta có loại hoa sen xanh khác tên nīlotpala (Nê Lô Bát La [泥廬鉢羅], loại hoa của Bồ Tát Văn Thù [s: Mañjuśrī, 文殊) hay cầm). Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄贊) quyển 1 ghi rằng: “Ôn Bát La hoa vi thanh liên hoa (殟鉢羅華爲青蓮華, Ôn Bát La hoa là hoa sen xanh)”. Huyền Ứng Âm Nghĩa (玄應音義) quyển 3 gọi loại hoa này là Đại Hoa (黛花, hoa xanh đậm). Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) quyển 15 cho biết loài hoa này có hai màu: đỏ và trắng; bên cạnh đó còn có loại không đỏ không trắng, hình như hoa Nê Lô Bát La. Do đó, phần lớn hoa Ưu Bát La được xem là có màu xanh, hơn nữa màu này rất nổi bật và khác lạ. Lý Bạch (李白, 701-762), đại thi hào theo chủ nghĩa lãng mạn, sống dưới thời nhà Đường, cũng có hiệu là Thanh Liên Cư Sĩ (青蓮居士). Trong bài Túc Long Hưng Tự (宿龍興寺) của Kì Vô Tiềm (綦毋潛, 691-756) nhà Đường có câu: “Hương sát dạ vong quy, tùng thanh cổ điện bài, đăng minh Phương Trượng thất, châu hệ Tỳ Kheo y, bạch nhật truyền tâm tĩnh, thanh liên dụ pháp vi, thiên hoa lạc bất tận, xứ cứ điểu hàm phi (香剎夜忘歸、松青古殿扉、燈明方丈室、珠繫比丘衣、白日傳心靜、青蓮喻法微、天花落不盡、處處鳥銜飛, hương ngát đêm quên về, tùng xanh cửa điện xưa, đèn sáng Phương Trượng thất, châu buộc Tỳ Kheo y, ban ngày truyền tâm lắng, sen xanh dụ pháp quy, hoa trời rơi bất tận, chốn chốn chim tha đi).”
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
lô giá na
(盧遮那) I. Lô Giá Na. Phạm: Vairocana. Cũng gọi Tì lô giá na, Lô xá na, Lưu xá na, Tịnh mãn. Báo thân hoặc Pháp thân của Phật. heo tông Hoa nghiêm thì Lô xá na gọi đủ là Tì lô xá na, là Báo thân Phật, Giáo chủ của thế giới Liên hoa tạng. Còn tông Thiên thai thì cho Tì lô gia na là Pháp thân Phật, Lô xá na là Báo thân Phật, đức Thích ca là Ứng thân Phật. (xt. Tì Lô Giá Na). II. Lô Giá Na. Phạm: Rocana. Cũng gọi Lô chi na. Tên khoa học: Datura metel, Linn. Loại thực vật thân cỏ, thuộc họ cà (Solanaceae). Toàn gốc cây có chất độc, được dùng làm thuốc, mọc rải rác từ vùng núi Hi mã lạp sơn (Himalaya) ở phía tây đến miền tây bán đảo Đức can (Deccan). [X. kinh Quán thế âm bồ tát thụ kí].
Phật Quang Đại Từ Điển
an tâm
(安心) Tức do sự thể nghiệm được đạo lí và hiểu rõ được giáo pháp, mà tâm an trú ở một chỗ, đồng thời, đạt đến cảnh giới yên định bất động. Cứ theo Tục Cao Tăng Truyện quyển 16 truyện Bồ Đề Đạt Ma chép, thì ngưng lặng nhìn vách, không mình không người, phàm Thánh như một, đó là an tâm. Đây có lẽ là nguồn gốc của thuyết an tâm. Tông Thiên Thai cũng nói đến pháp an tâm, theo Ma Ha Chỉ Quán Quyển 5 phần trên, thì khéo dùng Chỉ quán mà an trú pháp tính, gọi là an tâm khéo léo, có thể chia làm hai thứ là tự mình làm và dạy người làm; lại tùy theo căn cơ chúng sinh có lợi độn khác nhau, mà có thể mở rộng làm sáu mươi bốn thứ an tâm. Theo ngài Trạm Nhiên trong Chỉ quán đại ý, thì bất luận là người lợi hay độn, đều dùng Chỉ quán mà an trú nơi lí thể của pháp tính, gọi là Tổng minh an tâm; còn thuận theo căn cơ lợi độn mà đặt ra sáu mươi bốn phương pháp an tâm, gọi là Biệt minh an tâm. Tóm lại, chấm dứt sự tán loạn của tâm, quán chiếu tự tính thanh tịnh, đưa tâm an trú nơi lí thể pháp tính, gọi là an tâm. Lại ngài Thiện Đạo đời Đường cũng đưa ra thuyết an tâm; theo ngài Thiện Đạo trong vãng sinh lễ tán, thì an tâm là điều kiện tất yếu để vãng sinh Tịnh Độ. An tâm ở đây tức là chỉ ba tâm chí thành tâm, thâm tâm và hồi hướng phát nguyện tâm nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, nếu đủ ba tâm này thì có thể vãng sinh Tịnh Độ. [X. Bát Chu Tán (Thiện Đạo); Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết Q.5 phần 4; Vãng Sinh Luận Chú Q.hạ; Tông Kính Lục Q.44].
Phật Quang Đại Từ Điển
nhập thánh
(入聖) Vào chính định tụ, chứng quả Thánh. Người chứng lí Tứ đế, xả bỏ dị sinh tính (tính phàm phu), tiến vào địa vị Thánh nhân, gọi là Nhập thánh. Luận Câu xá quyển 18 (Đại 29, 94 trung) nói: Tăng đã bị phá, cho tới khi chưa hòa hợp lại, thì tất cả thế gian, việc nhập Thánh đắc quả, lìa nhiễm dứt lậu, đều bị ngăn ngại. Vãng sinh thập nhân (Đại 48, 98 thượng) nói: Từ Tán vị vào Định vị là phương tiện của hành giả Tam thừa nhập Thánh. [X. A tì đạt ma câu xá thích luận Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.17].
Phật Quang Đại Từ Điển
nguyện độ
(願土) Chỉ cho Tịnh độ cực lạc ở phương Tây, đất nước được thành tựu do sức bản nguyện của đức Phật A di đà. Vãng sinh lễ tán (Đại 47, 445 hạ) nói: Quán tưởng cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà được thành tựu bởi 48 thệ nguyện trang nghiêm của Ngài. Cõi nước ấy rộng lớn bằng phẳng do toàn các thứ báu tạo nên, đẹp đẽ hơn cõi nước của các đức Phật khác.
Phật Quang Đại Từ Điển
thí tài
(施財) Đồng nghĩa: Tài thí, đạt thấn. Bố thí tài vật. Khi có người(thí chú, đàn việt) bố thí tài vật thì vị Duy na, sau khi tác bạch Thánh tăng, đến trước vị Thủ tọa vấn an và xin xướng kệ thí tài, rồi đến chỗ để kiền chùy, gõ 1 tiếng, vị Thủ tọa xướng kệ thí tài. ĐiềuPhó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 441 hạ) ghi: ... (Duy na) gõ 1 tiếng kiền chùy, vị Thủ tọa xướng kệ thí tài rằng: Tài pháp nhị thí, đẳng vô sai biệt, đàn ba la mật, cụ túc viên mãn(tài thí và pháp thí như nhau, không khác, bố thí ba la mật trọn vẹn, hoàn toàn). Xong rồi, vị Thủ kho hay vị Duy na theo thứ tự phân chia tài vật.
Phật Quang Đại Từ Điển
Thiện thần
(善神): tên gọi chung những vị hộ trì chánh pháp trong Tám Bộ chúng. Như trong Phật Thuyết Tạo Tháp Diên Mạng Công Đức Kinh (佛說造塔延命功德經, Taishō Vol. 19, No. 1026) có câu: “Bi mẫn cứu hộ nhất thiết chúng sanh, chư thiên thiện thần thường lai thủ hộ (悲愍救護一切眾生、諸天善神常來守護, thương xót cứu giúp hết thảy chúng sanh, chư thiên thiện thần thường đến bảo vệ).” Hay trong Thiên Địa Bát Dương Thần Chú Kinh (天地八陽神咒經, Taishō Vol. 85, No. 2897) cũng có đoạn: “Nhược văn thử kinh, tín thọ bất nghịch, tức đắc giải thoát chư tội chi nạn, xuất ư khổ hải, thiện thần gia hộ, vô chư chướng ngại, diên niên ích thọ (若聞此經、信受不逆、卽得解脫諸罪之難、出於苦海、善神加護、無諸障礙、延年益壽, nếu nghe kinh này, tin nhận không trái, tức được giải thoát ách nạn các tội, ra khỏi biển khổ, thiện thần gia hộ, không có chướng ngại, sống lâu thêm thọ).”
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
pháp sư
(法師) Phạm: Dharma-bhàịaka. Pàli: Dhamma-kathika. Cũng gọi Thuyết pháp sư, Đại pháp sư. Chỉ cho những người thông hiểu Phật pháp và có khả năng dắt dẫn chúng sinh tu hành. Nói theo nghĩa rộng thì Pháp sư là chỉ chung cho đức Phật và các vị đệ tử của Ngài, còn nói theo nghĩa hẹp thì danh từ Pháp sư chuyên chỉ cho các bậc tu hành thông hiểu kinh hoặc luật, gọi là Kinh sư hoặc Luật sư. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc), Phật, Bồ tát và các vị Đại đệ tử của Phật đều biết pháp sâu xa vi diệu, lại biết rõ cả căn cơ lợi độn của chúng sinh mà tùy nghi thuyết giảng cho họ nghe, nên gọi là Đại pháp sư. Liên quan đến vấn đề tư cách của Pháp sư thì, theo luận Du già sư địa quyển 81, luận Thập trụ tì bà sa quyển 7 và Hoa nghiêm kinh sớ quyển 43 của ngài Trừng quán, Pháp sư phải có những điều kiện sau đây: 1. Có đủ 10 đức: Thông hiểu pháp nghĩa, có khả năng diễn thuyết, ở trong chúng không e sợ, tài hùng biện thao thao, có phương tiện khéo léo, tu hành đúng như pháp, đầy đủ uy nghi, dũng mãnh tinh tiến, thân tâm không mỏi mệt, thành tựu sức nhịn nhục. 2. Thực hành 4 pháp: a) Học rộng nghe nhiều, có tài văn chương. b) Biết rõ tướng sinh diệt của các pháp thế gian, xuất thế gian. c) Được thiền định, trí tuệ; trong các loại kinh pháp, có thể tùy thuận. d) Lời nói và việc làm phải ăn khớp với nhau. Phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa quyển 4 và phẩm Pháp sư công đức quyển 6, căn cứ vào khả năng chuyên môn và lĩnh vực hoằng pháp khác nhau mà chia Pháp sư làm 5 loại: Thụ trì, đọc kinh, tụng kinh, giảng diễn và biên chép. Ngoài ra, ở Trung quốc, các bậc đạo cao đức trọng, học vấn uyên thâm như các ngài Đạo an, Tuệ viễn... được gọi là Pháp sư. Nhưng, đối với các nhà phiên dịch kinh, luật, luận có những cống hiến lớn lao, vượt trội như các ngài Cưu ma la thập, Huyền trang... thì phần nhiều được gọi là Tam tạng pháp sư để phân biệt với cách xưng hô Thiền sư, Luật sư v.v... [X. kinh Tạp a hàm Q.1, 12; kinh Phạm võng Q.hạ; luật Ngũ phần Q.3; Thập địa kinh luận Q.11; luận Thuận chính lí Q.44; Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu; Thích thị yếu lãm Q.thượng]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Sư).
Phật Quang Đại Từ Điển
tâm địa
(心地) Đất tâm. Có 3 nghĩa: 1. Chỉ cho giới: Giới lấy tâm làm gốc, hệt như thế gian lấy đất làm nền, cho nên gọi Giới là Tâm địa. 2. Chỉ cho tâm của 50 giai vị Bồ tát: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng và Thập địa. Vì Bồ tát nương vào tâm mà tu hành nên tâm được ví dụ là đất. 3. Chỉ cho Bồ đềdo Tổ Đạt ma truyền được gọi là Tâm địa. [X. kinh Phạm võng].
Phật Quang Đại Từ Điển
chân tâm
(真心) Chỉ tâm chân thực, hoặc lí bản tính của tâm. Tịnh độ chân tông Nhật bản gọi là Tín tâm tha lực. Trái lại, vọng tâm là tâm phân biệt sai lầm, tâm hư dối, tâm hư vọng điên đảo mà phàm phu phát động hàng ngày trong các sinh hoạt hiện thực.
Phật Quang Đại Từ Điển
Thập Pháp Giới
(十法界, Mười Pháp Giới): hay còn gọi là Thập Giới (十界), là 10 cảnh giới bao gồm hết thảy những hang mê muội cũng như đã giác ngộ, gồm có:
(1) Địa Ngục (地獄), - (2) Ngạ Quỷ (餓鬼),
(3) Súc Sanh (畜生), - (4) Tu La (修羅),
(5) Nhân Gian (人間, cõi người), - (6) Thiên Thượng (天上, trên trời),
(7) Thanh Văn (聲聞), - (8) Duyên Giác (緣覺),
(9) Bồ Tát (菩薩) - (10) Phật (佛).
Từ Điển Phật Học Tinh Tuyển
tam luân
(三輪) I. Tam luân. Chỉ cho 3 lớp vật chất cấu tạo thành khí thế giới. Đó là: 1. Phong luân (Phạm: Vàyumaịđala), cũng gọi phong giới: Lúc mới đầu thành lập khí thế giới, do nghiệp lực chung của loài hữu tình, nương tựa vào hư không mà sinh ra phong luân ở dưới cùng. 2. Thủy luân (Phạm: Jala-maịđala), cũng gọi Thủy giới: Do nghiệp lực tăng thượng của hữu tình mà nổi lên trận mây mưa lớn, trút xuống trên lớp phong luân, tích chứa nước thành lớp thủy luân. 3. Kim luân (Phạm: Kàĩcanamaịđala), cũng gọi Kim tính địa luân, Địa luân, Địa giới: Do sức nghiệp của hữu tình va đập vào thủy luân mà kết thành vàng (kim) trên thủy luân. Tam luân trên đây có thể được xem là Vũ trụ luân (cosmologie) của Phật giáo. Ngoài Tam luân cấu thành Khí thế giới, trên Kim luân lại hình thành thế giới hiện thực.[X. kinh Trường a hàm Q.18; kinh Tăng nhất a hàm Q.37; kinh Khởi thế Q.1; kinh Đại lâu thán Q.1; luận Câu xá Q.11; luận Lập thế a tì đàm Q.1]. (xt. Đại Địa Tứ Luân, Tu Di Sơn). II. Tam Luân. Dùng bánh xe báu của vua Chuyển luân thánh vương để ví dụ tác dụng thù thắng của 3 nghiệp thân, khẩu, ý của Như lai. Đó là: 1. Thần biến luân(cũng gọi Thần thông luân, Thân luân): Hiển hiện thần thông, biến hóa ra những cảnh thù thắng, khác lạ để khiến chúng sinh phát tín tâm. 2. Giáo giới luân(cũng gọi Thuyết pháp luân, Khẩu luân): Phật diễn nói giáo pháp khiến chúng sinh phát tín tâm bỏ tà về chính. 3. Kí tâm luân(cũng gọi Ức niệm luân, Ý luân): Khi đức Phật nói pháp, trước hết Ngài dùng ý luân để xét biết căn cơ lợi độn của chúng sinh hầu tùy nghi diễn giảng, không phạm sai lầm. Tam luân trên đây có ý nghĩa giống với Tam thị hiện, Tam chủng thị đạo. [X. kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.6; luận Du già sư địa Q.27, 37; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6, phần cuối]. (xt. Tam Chủng Thị Đạo). III. Tam Luân. Chỉ cho sự vô thường, bất tịnh và khổ nãotrong thế gian. Ba thứ này giống như bánh xe (luân) quay vòng không ngừng, không đầu không cuối, cho nên ví dụ như bánh xe mà gọi là Vô thường luân, Bất tịnh luân và Khổ luân. [X. lời tựa trong A di đà kinh thông tán sớ; Vãng sinh yếu tập Q.1, thượng]. IV. Tam Luân. Gọi đủ: Tam chuyển pháp luân. Ngài Cát tạng thuộc tông Tam luận chia giáo pháp của đức Phật làm 3 pháp luân là: Căn bản pháp luân, Chi mạt pháp luân và Nhiếp mạt qui bản pháp luân. (xt. Tam Chuyển Pháp Luân). V. Tam Luân. Gọi đủ: Tam pháp luân. Sự thuyết pháp của đức Phật có 3 ý nghĩa: Chuyển pháp luân, Chiếu pháp luân và Trì pháp luân, gọi là Tam pháp luân.(xt. Tam pháp luân). VI. Tam Luân. Chỉ Thí giả(người bố thí), Thụ giả(người nhận của bố thí) và Thí vật(vật dùng để bố thí)... Khi người thực hành pháp bố thí, nếu trụ nơi Không quán thì không chấp trước vào 3 thứ này, gọi là Tam luân thể không, Tam luân thanh tịnh, Tam sự giai không. (xt. Tam Luân Tướng). VII. Tam Luân. Theo thứ tự từ quả hướng tới nhân trong Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, thì có thể chia sự giáo hóa lợi sinh của đức Đại nhật Như lai làm 3 thứ là: Tự tính luân thân, Chính pháp luân thân và Giáo lệnh luân thân. (xt. Tam Luân Thân). TAM LUÂN GIÁO I. Tam Luân Giáo. Chỉ cho Tam luân giáo do ngài Chân đế căn cứ vào kinh Kim quang minh mà thành lập vào đời Lương. Đó là: 1. Chuyển pháp luân: Sau khi thành đạo, trong 7 năm đầu, đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế của Tiểu thừa. 2. Chiếu pháp luân: Sau 7 năm đó, đức Phật nói các bộ Bát nhã để hiển bày lí không, dùng Không chiếu rọi Hữu, nên gọi là Chiếu pháp luân. 3. Trì pháp luân: Sau 30 năm, đức Phật nói kinh Giải thâm mật... giảng về Không, Hữu để giữ gìn Chuyển pháp luân và Chiếu pháp luân nên gọi là Trì pháp luân.[X. Hoa nghiêm Huyền đàm Q.4]. II. Tam Luân Giáo. Chỉ cho 3 thứ pháp luân do Đại sư Gia tường Cát tạng y cứ vào phẩm Tín giải kinh Pháp hoa mà thành lập, đó là: 1. Căn bản pháp luân: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Kinh này chỉ vì hàng Bồ tát mà mở bày pháp môn 1 nhân 1 quả. 2. Chi mạt pháp luân: Chỉ cho các kinh Tiểu thừa như A hàm, cho đến các kinh Đại thừa như Phương đẳng, Bát nhã... Trong các kinh này, vì những người độn căn không kham nổi pháp môn 1 nhân 1 quả, nên đức Phật chia Nhất Phật thừa làm Tam thừa giáo. 3. Nhiếp mạt qui bản pháp luân: Chỉ cho kinh Pháp hoa. Tức đưa Tam thừa về Nhất Phật thừa. [X. Pháp hoa du ý Q.thượng]. III. Tam Luân Giáo. Chỉ cho 3 pháp luân do ngài Huyền trang y cứ vào kinh Giải thâm mật và luận Du già mà thành lập. Đó là: 1. Chuyển pháp luân: Chỉ cho Hữu giáo của các kinh Tiểu thừa thời kì đầu. 2. Chiếu pháp luân: Chỉ cho Không giáo của kinh Bát nhã thới kì thứ hai. 3. Trí pháp luân: Chỉ cho Trung đạo giáo của kinh Giải thâm mật... ở thời kì thứ ba. Đây là Tam thời giáo của tông Pháp tướng. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4].
Phật Quang Đại Từ Điển
thuyết pháp
(說法) Phạm: Dharma-dezanà. Pàli: Dhamma-desanà. Đồng nghĩa: Thuyết giáo, Thuyết kinh, Diễn thuyết, Pháp thí, Pháp độc, Pháp đàm, Đàm nghĩa, Tán thán, Khuyến hóa, Xướng đạo.Giảng nói Phật pháp để giáo hóa làm lợi ích cho chúng sinh. Việc thuyết pháp của đức Phật là tùy theo năng lực, căn cơ... chúng sinh mà ban cho họ giáo pháp thích hợp để đạt đến hiệu quả trọn vẹn. Trong một hội thuyết pháp, Phật dùng một âm thanh diễn nói giáo pháp, người nghe tùy theo căn cơ mà hiểu sâu, cạn khác nhau. Cứ theo kinh Tư ích phạm thiên sở vấn quyển 2 thì Phật dùng 5 lực dụng mà nói pháp trong 5 trường hợp sau đây: 1. Ngôn thuyết: Lời nói. Nghĩa là Phật dùng lời nói khế hợp với chân lí để nói về các pháp 3 đời, pháp thế gian và xuất thế gian, pháp có tội không tội, pháp hữu lậu vô lậu... 2. Tùy nghi: Nghĩa là Phật tùy theo năng lực, căn tính... của chúng sinh mà nói các giáo pháp thiên, viên, tiệm, đốn... 3. Phương tiện: Nghĩa là Phật dùng phương tiện khéo léo như nói bố thí sẽ được phúc lớn, giữ giới sẽ được sinh lên cõi trời... để khuyến khích chúng sinh tu thiện mà ra khỏi biển khổ. 4. Pháp môn: Nghĩa là đức Phật nói pháp thù thắng để hiển bày đạoBồ đề. 5. Đại bi: Vì cứu độ chúng sinh nên Phật dùng tâm đại bi dắt dẫn họ, đối với người chấp không thì nói có, với người hay oán giận thì nói từ bi... Về tư cách thuyết pháp thì có 5 hạng người gọi là Ngũ thuyết, hoặc Ngũ chủng thuyết nhân. Theo luận Đại trí độ quyển 2, Ngũ chủng thuyết nhân là: Phật, đệ tử Phật, tiên nhân, chư thiên và hóa nhân (Phật, Bồ tát hoặc La hán... ẩn tướng chân thực mà hiển hiện dưới mọi hình tượng để thuyết pháp). Trong Quán kinh sớ huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo thì nêu Ngũ chủng nhân là: Phật, Thánh đệ tử, Thiên tiên, Quỉ thần và biến hóa. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 của ngài Trừng quán thì nêu: Phật, Bồ tát, Thanh văn, chúng sinh và khí giới(núi, sông, đất đai...) giảng nói giáo pháp trong kinh Hoa nghiêm, gọi là Ngũ loại thuyết hoặc Ngũ loại thuyết pháp. Còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 của ngài Nhất hạnh thì Ngũ chủng thuyết chân ngôn là: Như lai, Kim cương tát đỏa, Nhị thừa, chư thiên và Địa cư thiên. Thuyết pháp thuộc về pháp lí, là việc mà người xuất gia phải làm. Theo phẩm Phápsư trong kinh Pháp hoa quyển 4 thì người thuyết pháp phải vào nhà Như lai (có nghĩa là đại từ bi), mặc áo Như lai(nhu hòa nhịn nhục), ngồi tòa Như lai(các pháp không). Kinh Ưu bà tắc giới quyển 2 cũng nêu 16 việc liên quan đến thuyết pháp như: Thời thuyết, Chí tâm thuyết, Thứ đệ thuyết, Hòa hợp thuyết, Tùy nghĩa thuyết... [X. phẩm Tứ nhiếp trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.24; phẩm Quán thếâm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa Q.7; luật Tứ phần Q.52; luật Ngũ phần Q.18; luận Thập trụ tì bà sa Q.7; luận Du già sư địa Q.45; luận Đại trí độ Q.1, 28; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 thượng; Pháp uyển châu lâm Q.23]. (xt. Xướng Đạo).
Phật Quang Đại Từ Điển
danh văn lợi dưỡng
(名聞利養) Đồng nghĩa với danh lợi. Hàm ý là tiếng tăm lừng lẫy, được lợi nuôi thân, cũng chính là lòng ham danh lợi. Luận Bồ đề tâm (Đại 32, 573 thượng): Phàm phu tham đắm danh văn lợi dưỡng cốt để sướng thân, thỏa mãn năm dục. Hành giả chân ngôn phải nên nhàm chán lìa bỏ. Bởi vì danh văn và lợi dưỡng đều là chướng ngại cho người tu đạo, nên phải tránh xa. [X. kinh Pháp hoa Q.5; kinh Bồ tát thiện giới Q.4; luận Đại trí độ Q.11]. (xt. Danh Lợi).
Phật Quang Đại Từ Điển
Địa-ngục

Là tiếng dịch ý từ Phạn ngữ “Niraya”, có nghĩa là “bất lạc” (chỉ có đau khổ, không có an vui). Đia-ngục (hay Địa-ngục đạo, Địa-ngục thú) là một trong sáu nẻo luân hồi. Nói đến “ngục” là nói đến những hoàn cảnh đau khổ, bị giam cầm, bị hình phạt. Chữ “địa” nghĩa là đất, nhưng ở đây nó còn có nghĩa là những nơi u ám, tối tăm. Vậy, “địa-ngục” là những cảnh giới tối tăm, sự sống chỉ là những nỗi đau khổ triền miên, không có ánh sáng của chánh pháp, không có đạo lí, không có hạnh phúc, không có bất cứ niềm vui nào. Trong ý nghĩa đó, các cảnh giới Địa-ngục có thể ở dưới đất, trên mặt đất, nơi kẹt núi, ven sông, rừng thẳm, dưới vực, nơi xóm làng phố xá, cả trên không trung... Trong các kinh điển (như Kinh Địa Tạng chẳng hạn) thường mô tả thế giới Địa-ngục ở trong núi Thiết-vi, với những ngục sở đầy những hình phạt ghê rợn; những bức họa về các cảnh tượng người bị hành hình trong các chốn địa ngục, khởi thỉ từ Ấn-độ, sau đó truyền sang các nước phía Đông như Trung-quốc, Việt-nam, Nhật-bản v.v..., tất cả đều nhằm răn đe những người làm ác và khuyến khích con người hướng thiện. Rất nhiều người, nhờ đọc kinh, hoặc trông thấy các bức họa ấy mà bỏ hẳn các nghiệp ác (nhất là nghiệp sát sinh), trở nên những người tốt, giúp đỡ mọi người, ai cũng quí mến. Tóm lại, ở đâu có đau khổ là ở đó có Địa-ngục. Một gia đình đau khổ, đó là một gia đình địa ngục; một đoàn thể đau khổ, đó là một đoàn thể địa ngục; một quốc gia đầy đau khổ, đầy áp bức, đầy đe dọa, đó là một quốc gia địa ngục... Và “địa ngục” là loại quả báo đau khổ nặng nề nhất do các nghiệp nhân xấu ác trầm trọng nhất.

Trích Lục Từ Ngữ Phật Học

Khuyên Phát Tâm Bồ Đề
Đại Sư Thật Hiền

Mười Điều Tâm Niệm
Đại Sư Diệu Hiệp

Tứ Vô Lượng Tâm
Hòa Thượng Navada

Tâm Thanh Tịnh
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Phật Giáo Tin Có Diêm Vương Không...?
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm