Home > Khai Thị Phật Học > Chuyen-Tim-Vui
Chuyện Tìm Vui
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ


Vui là nhu cầu hạnh phúc của chúng sinh. Tuy nhiên hạnh phúc này cũng là tảng đá góp phần xây dựng địa ngục khổ đau cho chúng sinh và đôi khi lại là nền móng cho cung điện hạnh phúc cho muôn loài.

Con người tìm vui để khỏi hoang phí thời gian vào trống vắng và tránh để phiền muộn chế ngự. Họ tìm vui đa phần qua sự hưởng thụ dục lạc nơi thể xác và thiểu phần nơi tâm hồn. Người tìm vui cho tâm hồn thường là người cao thượng được coi là thánh nhân, người tìm vui bằng sự hưởng lạc nơi thân đều thuộc hàng tục nhân phàm phu.

Thế nào là niềm vui của tâm hồn?

Thanh tịnh trong sáng, lợi lạc muôn loài là biểu tượng cho một tâm hồn hỷ lạc. Thanh tịnh có nghĩa trong sáng không độc hại, vì vậy không lấy khổ đau của người làm niềm vui, mà chỉ vui khi thấy tha nhân được an vui. Không lấy khổ người làm vui gọi là bi, vui khi thấy chúng sinh hỷ duyệt gọi là từ. Từ bi là niềm vui của Bồ tát bậc thánh xuất thế gian. Mọi niềm vui phát khởi từ sự lợi ích của muôn loài đều thuộc niềm vui của tâm hồn, và như thế tâm hồn này là nền móng xây dựng nên cung trạch hạnh phúc cho muôn loài, đệ tử Phật cần phát khởi tu học tâm ấy để trải nghiệm và hân thưởng thứ hạnh phúc chân thật này giúp ta và muôn loài cộng hưởng. Không những thế đây còn là sự cúng dường đức Phật tối thắng được Phổ Hiền bồ tát khen ngợi có công đức vượt trội mọi thứ cúng dường vật chất, Bồ tát nói "nhược ư chúng sinh tôn trọng thừa sự, tắc vi tôn trọng thừa sự Như lai, nhược linh chúng sinh hoan hỷ giả, tắc linh nhất thiết Như lai hoan hỷ." Nếu tôn trọng phụng sự mọi chúng sinh thì đó là tôn trọng phụng sự Như lai, nếu làm chúng sinh hoan hỷ là làm hết thảy chư Phật hoan hỷ. Đệ tử Phật phải hiểu không có sự cúng dường thiết thực nào sánh được với việc làm chư Phật hoan hỷ, vì chỉ có làm chư Phật hoan hỷ mới là cúng dường tối thắng có công đức không thể nghĩ bàn, do đó Phật ngôn "phụng sự chúng sinh là cúng dường chư Phật". Vì thế Phật giáo đồ bất luận tăng tục đều phải phát tâm phụng sự chúng sinh không được tránh né và thoái thác bằng các lý luận quỷ quyệt của ma vương.

Thế nào là niềm vui vật chất?

Bất tịnh ô nhiễm, tranh giành đoạt lợi biểu trưng cho niềm vui vật chất. Ô nhiễm bất tịnh vì bất kể thiện ác, tốt xấu cái nào thỏa mãn được ý dục cái đó là niềm vui, và hễ là niềm vui phải tranh đoạt bằng được, cho dù có gây đau khổ cho tha nhân cũng chẳng màng. Niềm vui ô nhiễm này là nền tảng xây dựng lao ngục khổ đau cho chúng sinh, mà hầu hết con người đã chung tay tạo dựng cho nhau. Đáng tiếc là ngay đệ tử Phật cũng đa phần bôn ba cả đời kiếm tìm các thứ vui tơi tả tàn hại ấy đến độ họ sợ hãi thành Phật, họ sẵn lòng bỏ Phật để được thú vui này, sâu xa trong tâm thức những người đó họ không thích và tránh né giải thoát cũng vì lo ngại giải thoát thành Phật đồng nghĩa với đánh mất mọi niềm vui. Ôi! đám đệ tử phàm tục này do vì vọng tâm chấp ngã điên đảo nên coi khổ là vui, ngỡ vui là khổ, vì vậy người Phật tử tu học chân chính có trách nhiệm không chỉ tự mình xả bỏ các thú vui ấy mà còn phải hướng dẫn mọi người thân quanh mình đồng từ bỏ và thay vào đó tu tập niềm vui nhiêu ích hữu tình.

Hàng tại gia dù quy y Phật nhưng họ vẫn không thể y giáo phụng hành vì sợ mất niềm vui, thậm chí sợ cả cho con cái, khi chúng muốn theo con đường cao thượng bỏ thú vui vật chất nhiễm ô để cầu tìm sự an vui của tâm hồn, nhiều bậc cha mẹ đã quyết liệt ngăn cản, thậm chí chỉ trích Phật giáo, họ sợ con cái mất ăn thịt ngon, thiếu hưởng dục trai gái, và các thứ hưởng thụ vật chất khác. Đức Phật dạy rằng do hai thứ dục chính là thực dục (thích ăn) và dâm dục (nam nữ) mà sinh vào dục giới, nếu không bỏ được hai dục này thì không thể sinh về hai cõi sắc và vô sắc nói gì đến giải thoát luân hồi sinh tử.

Ngay trong sinh hoạt của các đoàn thể tại gia như gia đình Phật tử, họ cũng dùng đến các thú vui vật chất để hướng dẫn bầy trẻ con và cho đó là phương tiện tốt nhất để phát triển đoàn thể. Thú vui này chỉ là phương tiện để dụ dỗ trẻ con vào tập thể của họ mà không hề là sự hướng dẫn bọn trẻ vào nhà Như lai theo đúng lý tưởng của gia đình Phật tử. Một số ít ỏi huynh trưởng đã có kinh nghiệm hướng dẫn bọn trẻ trải nghiệm hân thưởng thú vui thanh tịnh tâm bằng cách hướng dẫn chúng vui với thiện pháp như phóng sinh hay tặng quà cho các trẻ nghèo khổ khác. Sự hướng dẫn như vậy có lợi cho tuổi trẻ và cho mọi chúng sinh, lại đúng với tinh thần gọi là gia đình Phật tử, không như kiểu dùng vui vật chất thế tục để kéo chúng theo mình, một hành động chẳng có gì gọi là Phật tử, và rồi khi bọn trẻ nhận ra chúng có những thứ vui vật chất khác vui hơn thì chúng không cần đến tập thể kém vui này nữa, và chính những đàn anh chị của chúng đã đánh mất cơ hội hướng dẫn chúng vào chính pháp, vì rủi thay những đàn anh này chỉ có kinh nghiệm hưởng thú vui vật chất từ bé cho đến trưởng thành, họ không có mảy may trải nghiệm nào về niềm vui của tâm hồn. Cần nhận thức rằng mọi sinh hoạt thế tục này không thể làm thành một gia đình Phật tử đươc.

Niềm vui nơi tâm hồn và thể xác đạo và đời.

Người tốt luôn rất vui khi thấy tha nhân được lợi ích, nên họ thường hành các việc cứu giúp che chở, vỗ về an ủi tha nhân cho đến cứu vớt, chữa trị, nuôi dưỡng các loài thú lạc loài. Các thiện hành này là niềm vui của những người cao thượng cho đến các bậc thánh nhân.

Phàm phu tham dục nên chỉ thấy vui khi nhận được các thứ vật chất đáp ứng với nhu cầu của thể xác, như ăn nhậu, chưng diện, trai gái, khoe khoang đồ dùng. Đối với họ tha nhân chỉ có giá trị khi có thể mang đến cho họ những thứ họ thèm khát, không vậy thì chỉ là đám người dưng sống chết mặc bay, có rỗi hơi đâu để nghĩ đến. Vì vậy những người này không hề nghĩ chuyện cứu giúp nói gì đến ra tay hành thiện, đã không nghĩ thiện và không hành thiện hẳn nhiên là hàng bất thiện, tuy nhiên hạng ích kỷ bất thiện này lại rất rộng rãi và tha thiết cầu cúng quỷ thần mong được chở che và cứu giúp. Họ van xin những thứ họ chẳng bao giờ muốn làm. Tín chúng nên cứu xét xem bản thân có phạm phải điều thấp hèn này không, để biết mình là đệ tử Phật hay đệ tử ma.

Nói dễ làm khó, ngay những người Phật tử hành thiện cũng chỉ thỉnh thoảng, khi hành thì tâm rất hoan hỷ nhưng không quá ba ngày niềm vui thanh tịnh ấy tan thành mây khói hòa vào hư vô, không lưu lại dấu vết nào trong tâm trí và thú vui vật chất lại chất ngất trong hồn, như lời Bồ tát Địa Tạng bạch Phật "chúng sinh nếu có làm thiện pháp cũng thường hay thối thất tâm ban đầu, song nếu gặp ác duyên thì lại dần dà tăng trưởng". (Thoát hoạch thiện lợi đa thối sơ tâm, nhược ngộ ác duyên niệm niệm tăng ích). Theo Bồ tát đó là do vì “Thế tôn! Con quán sát chúng sinh cõi Diêm Phù đề cử chi động niệm đều là tội nghiệp". (Thế tôn! Ngã quán thị Diêm phù chúng sinh cử tâm động niệm vô phi thị tội). Nói chung đó là do vọng tâm của bản ngã luôn tôi trước đã nên mọi lợi lạc vui thú phải quy hết về tôi. Vì vậy thảng hoặc có làm lợi cho thiên hạ thì cũng chỉ là ngẫu hứng nhất thời, còn bản chất vẫn chỉ là cho tôi. Trái lại Bồ tát do phát bồ đề tâm coi độ sinh là pháp hỷ lạc nên không ngớt hành thiện pháp cứu khổ nạn, ban vui cho chúng sinh không hề mỏi mệt, như phàm phu ăn chơi, giải trí, hưởng dục không biết chán ngán mỏi mệt.

Suy gẫm.

Đức Phật chỉ dạy cho tín chúng lối sống chân chính, lấy lợi người làm lợi mình, coi việc giúp muôn loài an vui là niềm vui và hạnh phúc, lối sống này vừa tránh xa mọi họa hoạn vừa thành tựu mọi công đức cho bản thân và cho muôn loài. Sống được đời sống đó gọi là đạo, đạo là một đời sống không những giải thoát khỏi mọi sai lầm dẫn đến khổ mà còn đưa chính mình và muôn loài đến chỗ an lạc vĩnh hằng.

Lối sống mà phàm phu dạy bảo nhau cho phép làm mọi sự có lợi bất kể hậu quả, coi lợi ích cá nhân là niềm vui và hạnh phúc, lối sống này là nền tảng thọ mạng hằng bao đời kéo theo nhiều hệ lụy cho sự an lành của chúng sinh, đó chính là cái gọi là thế gian, nói nôm na là cõi đời, đức Phật gọi nó là nhà lửa và kết luận nhân sinh thị khổ.

So ra đạo và đời khác nhau ở cách thức tư duy và sinh hoạt. Phàm tư duy chân chính tức vì người, hành động chân chính tức lợi người thì gọi là sống đạo, người sống vững chắc trong đạo gọi là thánh nhân. Ngược lại phàm tà tư tức chỉ nghĩ cho mình và tà hành làm mọi thứ bất kể thiện ác miễn có lợi cho mình thì gọi là phàm phu vô đạo sống trong đời thế tục. Nói chính xác thì phát tâm bồ đề là đạo, ngược lại là đời, hễ phát tâm thì đời thành đạo, hễ đạo mà lìa tâm bồ đề thì thành đời, mà đừng ngộ nhận đạo là cạo tóc vào chùa, chiếc áo đã không làm nên tu sĩ thì chùa cũng không làm thành đạo được. Bồ tát phát tâm sống trong đạo nên hình tướng nào cũng lợi ích muôn loài, ở đâu cũng không lìa đạo nên chỗ nào Bồ tát trụ chỗ ấy là đạo tràng, còn như phàm phu cạo tóc khoác cà sa nhưng chỉ tự tư tự lợi, coi chùa là tài sản riêng của mình, trong kinh Đại Bát Niết Bàn đức Phật gọi hạng này là cư sỹ trọc, và chùa của họ chỉ là nhà tư nhân. Hàng xuất gia đó vẫn chỉ là kẻ dung tục khoác áo giải thoát. Đối với đại thừa hễ phát tâm gánh vác chúng sinh thì dù là cư sĩ vẫn là bậc đại sĩ trong đạo. Trong kinh Tâm địa quán đức Phật khen ngợi hàng tu sỹ và cư sĩ phát tâm bồ đề và chê trách hai hàng tu sĩ và cư sĩ không phát tâm. Tóm lại đạo là phát bồ đề tâm, và đời là thứ không biết đến phát tâm mà không nên ngộ nhận đạo là tu sĩ và chùa tháp, còn đời là cư sĩ và nhà ở.

Công phu tu tập phát sinh công đức nhờ vào lực tinh tiến hành tịnh pháp nhiêu ích hữu tình không lui sụt, luôn an vui cùng niềm vui của chư Phật thông qua sự cứu độ chúng sinh. Người tu học không được lúc tỉnh lúc mê, khi tỉnh thì hành thiện, lúc mê thì hành bất thiện, đệ tử Phật phải luôn luôn tỉnh giác nên thường vui với độ sinh, gọi là thống lĩnh đại chúng nhất thiết vô ngại.

Tóm lại nhiêu ích hữu tình là đạo đế, niềm vui của đạo là diệt đế tức niết bàn. Tìm vui bằng vật chất là tập đế, hậu quả sầu thảm, tiếc nuối, chán chê, rã rời là khổ đế. Đạo là đời sống bằng hai đế đạo diệt, lợi người lợi ta. Đời là lối sống bằng hai đế khổ tập, khổ người khổ ta. Đời không thể lìa đạo mà có, đạo không thể lìa đời mà thành, điểm khác biệt giữa đạo và đời là vì mình hay vì chúng sinh.

Bồ tát Phổ Hiền trong kinh Hoa Nghiêm nói "Chư Phật Như lai dĩ đại bi tâm nhi vi thể cố, nhân ư chúng sinh nhi khởi đại bi, nhân ư đại bi sinh bồ đề tâm, nhân bồ đề tâm thành đẳng chính giác... Thị cố bồ đề thuộc ư chúng sinh, nhược vô chúng sinh nhất thiết bồ tát chung bất năng thành vô thượng chính giác." Chư Phật Như lai lấy tâm đại bi làm thể, do chúng sinh nên khởi đại bi, nhân đại bi nên sinh tâm bồ đề, nhân tâm bồ đề mà thành chính giác… cho nên bồ đề thuộc về chúng sinh, nếu không chúng sinh, tất cả Bồ tát đều không thành Vô thượng chính giác.

VTA 16.10.22