Home > Khai Thị Phật Học > -Quan-Sat-Tap-De
Quán Sát Tập Đế
| Hòa Thượng Thích Pháp Chánh, Việt Dịch


H2. Tư duy tập đế, thứ tự của vòng luân hồi
I1. Hành tướng của sự phát sinh phiền não
J1. Nói rõ phiền não
J2. Thứ tự sinh khởi của phiền não
J3. Họa hoạn của phiền não
I2. Hành tướng tích tập tăng trưởng của nghiệp
J1. Nhận thức sự tích tập tăng trưởng của nghiệp đã tạo
J2. Sự tăng trưởng tích tập như thế nào
I3. Hành tướng của sự chết và sự tái sinh tương tục
J1. Tử duyên
J2. Tử tâm
J3. Hơi nóng tụ về chỗ nào
J4. Lý luận về sự sau khi chết trở thành thân trung ấm
J5. Hành tướng lúc thân trung ấm thọ sinh

H2. Tư duy tập đế, thứ tự của vòng luân hồi.

I1. Hành tướng của sự phát sinh phiền não.

Phiền não và nghiệp đều là nhân tố cho sự luân hồi, nhưng phiền não là động lực chính. Nếu không phiền não, dù có tích tập bao nhiêu nghiệp chăng nữa, cũng không thể tạo tác thân ngũ uẩn đời sau; giống như hạt giống, nếu không có nước, phân bón, v.v..., thì cũng không thể nảy mầm. Nếu có phiền não, dù không có nghiệp quá khứ, vẫn có thể liên tục tích tập nghiệp mới, tạo thành thân ngũ uẩn đời sau. Nhân Minh Luận nói:

Nếu đã vượt hữu, ái,
Nghiệp khác không dẫn sinh,
Vì câu sinh [phiền não] đã tận.

Lại nói:

Nếu còn hữu, ái,
Ắt sẽ thọ sinh.

Nên biết việc đối trị phiền não rất là quan trọng, do vì biết rõ hành tướng phiền não nên được tự tại; bởi thế, hành giả phải nên thiện xảo trong việc đối trị phiền não này.

J1. Nói rõ phiền não.

Nói sơ lược, hành tướng của phiền não có mười loại. (1) Tham: duyên vào cảnh giới khả ái (đáng ưa) ở trong (tâm) hoặc ở ngoài (trần cảnh), khởi tâm tham ái, giống như dầu dính trên

vải, khó giặt rửa sạch. Lại nữa, tâm tham luyến tăng trưởng, đối với trần cảnh không muốn xa lìa. (2) Sân: duyên vào đối tượng không đáng ưa, hoặc người hoặc cảnh (chẳng hạn những hình cụ đem đến sự khổ cho mình, như đao, kiếm, thương, giáo, v.v...), khởi tâm sân khuể, hung tợn, muốn làm tổn hại. (3) Mạn: nương vào ngã kiến, duyên vào cảnh giới cao thấp tốt xấu, tâm sinh cao ngạo. (4) Vô minh: đối với tự tính của tứ đế, nghiệp quả, Tam bảo, v.v..., tâm không sáng suốt, đầy dẫy nhiễm ô vô tri. (5) Nghi: đối với tứ đế, nghiệp quả và Tam bảo, khởi tâm nghi là có hay không, đúng hay sai, v.v... (6) Hoại tụ kiến (ngã kiến): duyên vào năm thủ uẩn, chấp đó là ngã, ngã sở, tăng trưởng trí tuệ nhiễm ô. Ở đây, hoại, nghĩa là vô thường; tụ, nghĩa là do nhiều nhân tố tập hợp. Bất cứ sự việc nào cũng đều là vô thường và nhiều nhân tố tập hợp, mà không có một bổ đặc già la (ngã) thường hằng bất biến. Vì muốn nêu rõ ý nghĩa này nên lập tên “hoại tụ.” (7) Biên chấp kiến (biên kiến): duyên vào ngã (do ngã kiến chấp trước), hoặc chấp là hằng thường (thường kiến), hoặc chấp là không có sự kết sinh đời sau (đoạn kiến). Dùng trí tuệ nhiễm ô làm tự tính. (8) Kiến thủ: duyên vào một trong ba loại kiến (ngã kiến, biên kiến, tà kiến) và những kiến chấp do ba kiến này sinh ra, rồi phát sinh trí tuệ nhiễm ô, cho đó là thù thắng. (9) Giới cấm thủ: nương vào giới ác, giới đáng xả, cùng các hành trạng, quỹ tắc, những điều cấm ngăn tà vạy về thân và ngữ, v.v..., sinh khởi trí tuệ nhiễm ô, cho đó là phương tiện thanh tẩy tội chướng, diệt trừ phiền não, giải thoát thế gian. (10) Tà kiến: sinh khởi trí tuệ nhiễm ô, chấp trước không có đời trước đời sau, không có nghiệp quả (tổn giảm chấp); hoặc chấp trước Tự tại thiên, thần ngã, v.v..., là nhân tố sinh ra vạn vật (tăng ích chấp). Mười loại phiền não trên, các tông phái khác nhau đều công nhận. Còn kiến giải của phái Trung Quán của ngài Phật Hộ (Ưng Thành Phái) sẽ được trình bày phía dưới.

J2. Thứ tự sinh khởi của phiền não.

Nếu cho rằng hoại tụ kiến (ngã kiến) và vô minh là khác biệt, ví như trong bóng tối có sợi dây thừng, vì không rõ thực thể của dây thừng nên ngộ nhận dây thừng là con rắn; tương tự, vì không hiểu rõ thực thể của năm uẩn, lại bị bóng tối vô minh che lấp, nên ngộ nhận năm uẩn là ngã, từ đó phát sinh các sự mê muội khác. Nếu cho rằng hoại tụ kiến và vô minh là đồng nhất, thì hoại tụ kiến ắt là căn bổn của phiền não. Khi hoại tụ kiến chấp trước có một cái ngã hiện hữu thì sẽ có sự phân biệt tự tha.

Kế đến, khởi tâm phân biệt, thương mình ghét người, sinh khởi tâm ngã mạn. Đối với tự ngã chấp thường chấp đoạn, mà thấy có cái ta, v.v..., đối với các hành động ác do ngã tạo tác chấp cho là đúng. Hơn nữa, đối với lời dạy về vô ngã, cùng những lời dạy của Đức Phật về nghiệp quả, tứ đế, Tam bảo, v.v..., lại cho đó là tà kiến, hoặc sinh khởi nghi ngờ là có hay không, đúng hay sai. Lượng Thích Luận nói:

Có tự (mình) biết có tha (kẻ khác),
Tự tha phân thương ghét,
Do đây khởi vọng động,
Sinh ra bao lỗi lầm.

J3. Họa hoạn của phiền não.

Trang Nghiêm Kinh Luận nói:

Phiền não hại chính mình,
Phá giới, hại hữu tình,
Suy tổn và bại hoại,
Thiện tri thức quở trách,
Sẽ sinh vào nẻo ác,
Được, mất làm tổn não,
Trong tâm toàn sầu đau.
Nhập Bồ Tát Hành Luận cũng nói:
Tham sân si không có:
Tay chân, dũng [mãnh], trí tuệ,
Lại có thể sai khiến,
Ta như người nô lệ?
Phiền não trong tâm này,
Tùy tiện tổn hại ta,
Nếu không trừ diệt nó,
Quả thực là đáng trách.
Dù trời, a tu la,
Cùng đến uy hiếp ta,
Nhưng họ cũng không thể,
Ném ta vào vô gián.
Giặc phiền não hung tợn,
Ném ta vào ngục lửa,
Tu Di gặp lửa này,
Cháy tan không còn thừa.
Kẻ thù trên thế gian,
Tuổi trời chỉ hữu hạn,
Giặc phiền não trong ta,
Sống lâu không kỳ hạn.
Nếu chiều lòng kẻ địch,
Họ có thể lợi mình,
Còn tùy thuận phiền não,

Hành giả cần phải suy ngẫm về những họa hoạn vừa nêu trên. Ngài Tịch Tĩnh nói: “Muốn đoạn trừ phiền não, phải biết họa hoạn của chúng, thể tính, hành tướng, phương cách đối trị, nguyên nhân sinh khởi, v.v... Sau khi biết rõ, phải xem chúng như thù địch. Nếu không biết họa hoạn, làm sao biết được chúng là kẻ thù. Nên theo lời dạy của Trang Nghiêm Kinh Luận và Nhập Bồ Tát Hành Luận mà suy ngẫm quán sát.” Vả lại, muốn biết rõ hành tướng của phiền não, phải nghe A tỳ đạt ma (Đối pháp), và Ngũ Uẩn Sai Biệt Luận. Nếu biết rõ căn bổn của phiền não và tùy phiền não, thì khi các phiền não tham, sân, v.v..., sinh khởi, hành giả có thể nhận thức rõ hành tướng của chúng, sinh khởi ra sao, tác động ra sao, mà tìm cách trừ khử.

Đây là những điều mà chúng ta cần biết rõ.

I2. Hành tướng tích tập tăng trưởng của nghiệp.

J1. Nhận thức sự tích tập tăng trưởng của nghiệp đã tạo.

Nghiệp được phân làm hai loại, tư nghiệp và tư dĩ nghiệp . Tư nghiệp, Tập Luận nói: “Tư là gì? Nghĩa là sự thúc động nội tâm tạo tác ý nghiệp. Đối với các pháp thiện, ác, vô ký, sai sử tâm tạo nghiệp.” Tư dĩ nghiệp, nghĩa là từ tư [nghiệp] phát động thân nghiệp và ngữ nghiệp. Thân nghiệp và ngữ nghiệp được phân làm hai loại, biểu nghiệp và vô biểu nghiệp. Các học giả Tỳ Bà Sa cho rằng biểu nghiệp và vô biểu nghiệp thuộc về sắc pháp; nhưng ngài Thế Thân đả kích quan niệm này, cho rằng thân khẩu nghiệp là do tư (ý chí) khởi động thân khẩu, cho nên hai nghiệp này cũng là tư.

Tổng quát, nghiệp có ba loại là thiện, bất thiện và vô ký. Trong đây, bất thiện nghiệp không phải là phước nghiệp. Phước nghiệp là những nghiệp thiện trong cõi dục, còn bất động nghiệp là nghiệp thiện hữu lậu trong hai cõi sắc và vô sắc.

J2. Sự tăng trưởng tích tập như thế nào.

Các hành giả đã chân thực hiện chứng vô ngã, tuy cũng bị phiền não tăng thượng tác động, trôi lăn trong sinh tử, nhưng họ không còn tạo nghiệp thọ sinh đời sau (dẫn sinh nghiệp); các hành giả vẫn còn tạo tác dẫn sinh nghiệp là các phàm phu tu tập Đại thừa, từ gia hành vị, thế đệ nhất vị trở xuống. Hơn nữa, các hành giả đó trụ trong ba môn (nghiệp chướng, phiền não chướng và sở tri chướng) tạo tác nghiệp bất thiện như sát sinh, v.v..., thì gọi là phi phước nghiệp; nếu tu tập bố thí, trì giới, v.v..., của cõi dục, thì gọi là phước nghiệp; còn nếu tu tập chỉ quán của cõi tĩnh lự (sắc) và cõi vô sắc, thì gọi là bất động nghiệp.

I3. Hành tướng của sự chết và sự tái sinh tương tục.

J1. Tử duyên.

Thọ tận tử: chết vì hết tuổi thọ, là vì các thọ mạng do các nghiệp dẫn sinh đã cùng tận, đến thời hạn thì chết. Phước tận tử: hết vật dụng (chẳng hạn thức ăn, v.v...) mà chết. Bất bình đẳng tử: có chín nhân duyên (chín thứ chết oan), chẳng hạn như ăn quá độ (bội thực), v.v..., mà chết.

J2. Tử tâm:

Chết trong trạng thái tâm thiện hoặc ác: đang có tâm thiện, chẳng hạn tín tâm, v.v..., hoặc đang có tâm bất thiện, chẳng hạn tâm tham, v.v..., mà chết; lúc ấy hoặc do tự mình biết, hoặc nhờ người khác nhắc nhở. Chết trong trạng thái vô ký: đối với hai tâm thiện và ác, không thể tự mình nhớ, hoặc không có người nhắc nhở. Trong đây, người làm việc thiện sẽ giống như đi từ bóng tối ra ánh sáng, lúc chết giống như nằm mộng thấy các màu sắc đáng ưa, cảm thấy an lạc mà chết. Cảm giác cơ thể bị phân ly cũng rất nhỏ nhiệm. Người làm việc ác sẽ giống như đi từ ánh sáng vào bóng tối, lúc chết, giống như nằm mộng, thấy những màu sắc đáng sợ, phát sinh sự khổ bức, thọ nhận sự đau đớn kịch liệt của cơ thể bị phân ly. Ngoại trừ loài trời và chúng sinh địa ngục, các chúng sinh khác lúc chết đều chịu sự phân ly của cơ thể. Tâm vô ký, như vừa nói, nghĩa lúc đó hai tâm vui, khổ đều không sinh khởi. Lúc chết, giữa hai tâm thiện và bất thiện, tâm nào được tu tập mạnh hơn thì tâm đó hiện khởi, các tâm khác ở trong trạng thái tiềm ẩn. Nếu hai tâm thiện ác bằng nhau, tâm nào khởi trước, tâm đó sẽ dẫn đi, còn các tâm khác cũng ở trong trạng thái tiềm ẩn. Lúc tâm vận hành vi tế, hai tâm thiện ác tạm ngừng hoạt động, và tâm trở thành vô ký. Khi một người sắp chết, nhưng chưa rơi vào trạng thái hôn muội, do những tập quán lâu dài, ngã ái hiện tiền, và do lực lượng cuối cùng của ngã ái tăng thượng, người đó nghĩ rằng mình sẽ không còn nữa, liền sinh khởi tâm luyến tiếc tự thân, đó là nguyên nhân thọ thân trung ấm. Các bậc Dự lưu (Sơ quả) và Nhất lai (Nhị quả), tuy cũng khởi ngã ái, nhưng do tuệ lực quán sát mà chế phục ngã ái hiện hành, ví như lực sĩ chế phục kẻ yếu, chung quy ngã ái không sinh khởi.

J3. Hơi nóng tụ về chỗ nào.

Người làm ác, khi chết, thoạt tiên phía trên đầu lạnh trước, lạnh dần đến tim thì ngừng; còn người làm thiện, phía dưới chân lạnh trước, lạnh dần đến tim thì ngừng. Lúc cơn lạnh đến tim thì chết hẳn, thần thức từ tim xuất ra khỏi thân thể. Lúc thọ thai, khi tinh cha huyết mẹ kết hợp, thần thức trụ nơi nào thì chỗ đó thành tâm tạng (tim); lúc chết, thần thức xuất ra nơi nào thì nơi đó là nơi thần thức nhập vào lúc thọ thai.

J4. Lý luận về sự sau khi chết trở thành thân trung ấm.

Như trên vừa nói, lúc chết, thức từ nơi nào xuất, thì ngay chỗ đó, thần thức liền trở thành thân trung ấm, giống như cán cân cao thấp. Thân trung ấm này có đầy đủ các căn, nếu sẽ sinh về cõi nào thì sẽ có thân tướng của cõi đó. Đang lúc chưa thọ sinh, mắt giống như thiên nhãn, thân giống như có thần thông, không bị chướng ngại. Những trung ấm cùng loại, hoặc những người tu đắc thiên nhãn có thể thấy được thân trung ấm này. Câu Xá Luận nói: “Nếu thành thân trung ấm của một cõi nào đó, sau đó vẫn có thể sinh vào một cõi khác không bị chướng ngại, ” nhưng Tập Bồ Tát Học Luận lại nói “bị chướng ngại”, nghĩa là thân trung ấm của cõi nầy không thể sinh vào cõi khác (chẳng hạn, đang là trung ấm cõi người, không thể sinh vào thân trời). Thân trung ấm của người ác, màu giống màu dê đen, hoặc như màu đêm tối; thân trung ấm của người thiện, màu như màu áo trắng, hoặc như màu đêm trăng sáng. Các trung ấm đồng loại có thể thấy nhau, và mỗi trung ấm tự thấy được chỗ mình sẽ đến thác sinh. Thân trung ấm địa ngục giống như thân cây cháy, thân trung ấm bàng sinh giống như màu khói, thân trung ấm ngạ quỷ giống như màu nước, thân trung ấm người và trời màu như hoàng kim, thân trung ấm cõi sắc màu trắng. Đây là lời dạy trong Nhập Thai Kinh. Nếu từ cõi vô sắc sinh xuống hai cõi dưới (cõi sắc, cõi dục) thì có thân trung ấm; nếu từ hai cõi dưới sinh lên cõi vô sắc, thì thần thức cõi dưới biến thành uẩn của cõi vô sắc, nhưng không có thân trung ấm. Lại nữa, trung ấm cõi trời đi thẳng lưng, trung ấm cõi người đi ngang, trung ấm của chúng sinh tạo nghiệp ác thì mắt nhìn xuống dưới, chổng ngược lên mà đi. Thân trung ấm của ba nẻo ác đều giống nhau. Nói về tuổi thọ của thân trung ấm, nếu chưa gặp duyên để thác sinh, thân trung ấm sẽ sống được bảy ngày, còn gặp duyên thọ sinh thì không nhất định. Nếu không gặp duyên thác sinh, thì sau bảy ngày phải đổi thân. Thân trung ấm sẽ sống trong vòng bảy tuần, sau đó nhất định sẽ thọ sinh, không thể sống quá thời hạn này. Ví như thân trung ấm cõi trời, sau bảy ngày chết đi, hoặc tiếp tục làm thân trung ấm cõi trời, hoặc biến thành trung ấm cõi người, v.v..., bởi vì có những nghiệp khác có thể biến đổi thân trung ấm. Những sự kiện khác cũng phải nên biết.

J5. Hành tướng lúc thân trung ấm thọ sinh.

Du Già Sư Địa Luận nói: “Trong trường hợp thai sinh, [thân trung ấm] đối với tinh huyết của cha mẹ sinh khởi ý tưởng điên đảo. Lúc ấy, tuy cha mẹ chưa hành dâm, nhưng thân trung ấm lại thấy là đang hành dâm, rồi đối với cha hoặc mẹ khởi tâm ái nhiễm.” Câu Xá Luận nói: “Thân trung ấm thấy cha mẹ đang hành dâm.” Nếu thân trung ấm sắp thọ sinh thành thân gái, thì mong cho người mẹ tránh chỗ để mình hành dâm với người cha. Nếu sắp thọ sinh làm thân nam, thì mong cho người cha tránh chỗ để mình hành dâm với người mẹ. Sau khi sinh khởi tâm này, thân trung ấm đến gần đối tượng, nhưng dần dần lại không còn thấy những thân phần khác của nam nữ, mà chỉ thấy hình tướng của nam căn hoặc nữ căn, bèn nổi sân, liền lúc ấy, thân trung ấm diệt, và thọ thai (biến thành thân sinh ấm). Lại nữa, lúc cha mẹ hành dâm đến cực điểm, hai bên đều xuất ra tinh huyết, mỗi bên một giọt (một tinh trùng và một trứng) hoà hợp với nhau, trụ trong bụng mẹ, giống như một giọt sữa sền sệt, lúc đó thân trung ấm diệt. Đồng thời, do sức mạnh kết nối tương tục của thức, có những căn trần vi tế khác kết hợp với tinh cha huyết mẹ mà tạo ra thân căn. Lúc thần thức nhập thai, đối với những học giả thừa nhận thức a lại da, thì đó là thức a lại da kết sinh; còn đối với những học giả không thừa nhận thức a lại da, thì đó là ý thức kết sinh. Nếu thân trung ấm không muốn đến nơi nào để thọ sinh thì nó sẽ không đến đó. Không đến thì không thọ sinh. Cho nên những trung ấm đã gây tạo nghiệp địa ngục, chẳng hạn như giết dê, giết gà, giết heo, v.v..., thì ở nơi sắp đầu thai, mơ màng nhìn thấy có dê, gà, heo, v.v..., và do tập quán (giết dê, v.v...) trong quá khứ, liền đến nơi đó, đến nơi bèn khởi sân, thân trung ấm liền bị diệt, và thân sinh ấm hiện ra (tức là đọa vào địa ngục). Thân trung ấm của các cõi địa ngục khác và cõi ngạ quỷ, lúc thọ sinh cũng tương tự như vậy. Lúc sắp thọ sinh vào cõi súc sinh, ngạ quỷ, người, hoặc cõi trời dục giới, sắc giới, v.v..., ở nơi sẽ thọ sinh, thấy những chúng sinh đồng loại đang vui vẻ, thân trung ấm cũng sinh tâm vui mừng, bèn tìm đến đó, đến nơi khởi tâm sân, thân trung ấm bị diệt, thân sinh ấm sinh ra. Đây là lời dạy trong Bổn Địa Phần. Những chúng sinh bị đọa địa ngục, nhưng không tạo những ác luật nghi như giết heo, gà, v.v..., lúc thọ sinh vào địa ngục, hành trạng cũng tương đồng như vừa nói ở trên. Câu Xá Luận nói: “Thấp, hoá, thích hương, xứ”, nghĩa là các chúng sinh thấp sinh ưa thích mùi hương, còn các chúng sinh hoá sinh ưa thích chỗ ở mà thác sinh. Các chúng sinh đọa địa ngục nóng thì nghĩ đến sự ấm áp, đọa địa ngục lạnh thì ưa thích sự mát mẻ, và thân trung ấm sẽ đến đó mà thọ sinh. Loài noãn sinh cũng giống như thai sinh.

Đây là những lời dạy trong Câu Xá Luận Chú.

Từ Ngữ Phật Học Trong:  Quán Sát Tập Đế