Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Quan-The-Am-Bo-Tat-Nhi-Can-Vien-Thong-Chuong-Tap-6

Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương Tập 6
Hòa Thượng Thích Tịnh Không | Dịch Giả : Hạnh Chơn

Xin mở kinh ra, trang 146, hàng thứ sáu: “Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền”, bắt đầu xem từ đây.

Chúng ta xem kinh văn của ngày hôm nay, “sanh diệt ký diệt” nghĩa là đã lìa cả hai bên sanh diệt. Gọi là giác trí năng không, lý chướng sở không, tuy đều đã lìa năng và sở, nếu cho rằng như vậy là viên mãn, cho cảnh giới này đã viên mãn, cho là cứu cánh, vậy là sai. Vì sao vậy? Vì lại đọa lạc vào bên pháp thân.

Cho nên Phật pháp lên cao một bậc đều gọi là diệu pháp, năng không và sở không đều đã diệt. Cảnh giới không tệ, nhưng như thế nào? Không cách nào đi vào diệu pháp, vì sao vậy? Vì chữ diệt của năng diệt sở diệt lại trở thành chướng ngại. Cho nên ở trước nói, tâm bồ đề sanh, tâm sanh diệt diệt. Chư vị thử nghĩ xem, cảnh giới này có tốt không? Cảnh giới này vẫn có một sanh một diệt.

Bởi vậy nếu thật sự chư vị có thể ghi nhớ những lời trong Lục Tổ Đàn Kinh, sẽ hoát nhiên đại ngộ. Lục tổ nói với ngài Ấn Tông, Phật pháp là không hai pháp, hai thì không phải Phật pháp. Tâm bồ đề sanh là một pháp, tâm sanh diệt diệt lại là một pháp, đây không phải là hai pháp ư? Cảnh giới không tệ, nhưng không diệu, không thể nhập huyền, không thể nhập diệu. Do đó phải biết sanh và diệt rốt cuộc là gì, có sanh mới có diệt. Còn diệt thì sao? Diệt cũng không thể chấp trước, cũng phải xa lìa nó, như vậy mới thật sự đạt đến năng sở đều vong, mới đạt đến thanh tịnh.

Công phu của chúng ta khi đạt đến cảnh giới tương đối, cảm thấy tâm địa mình rất thanh tịnh, tâm thanh tịnh hiện tiền. Bản thân cảm thấy hiện nay rất thanh tịnh, rất thanh tịnh tức không thanh tịnh. Tôi rất tự tại, rất tự tại tức không tự tại, vì sao vậy? Vì trong tâm thanh tịnh của mình vẫn còn cái thanh tịnh, trong tâm thanh tịnh vẫn còn cái tự tại. Vốn không có một vật, đâu ra thanh tịnh hay tự tại? Bởi vậy ta có thanh tịnh hay tự tại, đã không còn thật sự thanh tịnh hay tự tại rồi. Đương nhiên so với cảnh giới của phàm phu thông thường thì cao hơn rất nhiều.

Hai câu này là nói cảnh giới của đại Bồ Tát, cũng là cảnh giới tịch diệt nhẫn. Trong kinh luận nói rằng, tịch diệt nhẫn là cảnh giới pháp vân địa trở lên. Thập địa Bồ Tát, Đẳng giác và Như Lai quả địa, cảnh giới của ba địa vị này, cho nên tiêu chuẩn này mới cao như vậy. Quý vị xem chứng được vô sanh pháp nhẫn, vẫn có năng chứng và sở chứng, vẫn có năng và sở. Cảnh giới tịch diệt nhẫn là năng sở đều không có, là năng sở đều vong, lúc này mới thật sự thấy đạo. Nghĩa là chứng được tất cả pháp thế gian, sanh tức vô sanh, là thật sự chứng được. Tất cả pháp xuất thế gian thì sao? Là diệt cũng vô diệt.

Cảnh giới hiện tại của chúng ta, trong pháp thế gian có sanh có diệt, trong pháp xuất thế gian có diệt có sanh, đây là cảnh giới hiện tiền của chúng ta. Nhưng nhất định phải thấu triệt, cảnh giới của chư Phật và đại Bồ Tát. Thấu triệt có những lợi ích gì? Biết cảnh giới hiện tại của chúng ta không cứu cánh. Hay nói cách khác, ta nhất định phải phát tâm, phải chứng sâu hơn, nghĩa là phải nâng cao cảnh giới chính mình. Không được dừng lại nơi sở đắc hiện tại, trong cảnh giới nhỏ bé này, như vậy là sai. Đã thật sự thấu triệt, sanh thuộc huyễn sanh, diệt cũng thuộc huyễn diệt. Giống như trong Kinh Kim Cang nói: “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, ở sau lại nói rằng: “tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh”. Trong pháp hữu vi này, cũng thông pháp thế xuất thế gian. Cho nên chúng ta đừng cho rằng, pháp thế gian này là hữu vi, xuất thế gian cũng thuộc về hữu vi. Tâm lượng của hữu vi, tri kiến của hữu vi, quán hết thảy pháp đều là pháp hữu vi. Đến khi sanh diệt đã diệt, cảnh giới tịch diệt hiện tiền, quán tất cả pháp thế gian đều là pháp vô vi. Cho thấy hữu vi, vô vi, trong tất cả pháp làm gì có hữu vi hay vô vi? Không có. Hữu vi, vô vi chính là giữa mê và ngộ, đại triệt đại ngộ tức là vô vi, mê hoặc điên đảo rơi vào hữu vi. Hay nói cách khác, pháp có hữu vi và vô vi chăng? Không có, hữu vi và vô vi đều là huyễn pháp, liễu bất khả đắc.

Những ý nghĩa này trong Kinh Lăng Nghiêm nói rất rõ ràng, trong Kinh Viên Giác cũng nói rất rõ ràng. Trong Chương Thanh Tịnh Tuệ của Kinh Viên Giác nói đến cảnh giới này, hoàn toàn tương đồng với cảnh giới trong đoạn này, có thể hỗ tương tham khảo.

 Nói đến đây chúng ta cần phải thấu triệt một sự thật, đó chính là gốc tu nhân quan trọng hơn bất kỳ điều gì. Trong hội Lăng Nghiêm, vừa mở đầu Đức Phật đã nhắc nhở tôn giả A nan, phải lấy tâm không sanh diệt làm gốc tu nhân. Sao gọi là tâm không sanh không diệt? Tâm hiện tại của chúng ta, lúc nghĩ đông, lúc nghĩ tây. Khi nghĩ đông, ý niệm đông khởi lên thì tây diệt. Khi nghĩ tây, ý niệm tây khởi lên đông liền diệt, đây gọi là tâm sanh diệt. Nếu lấy tâm sanh diệt làm gốc tu nhân, cầu vô thượng bồ đề, tuyệt đối không làm được điều này. Bởi vậy hy vọng chúng ta đặc biệt chú ý điều này. Tâm không sanh diệt là Phật nhắc nhở chúng ta, không những trong hội Lăng Nghiêm, trong tất cả kinh điển đại thừa Đức Phật đều nhắc nhở chúng ta như vậy. Tâm không sanh diệt là gì? Phải hiểu rõ điều này, tâm không sanh diệt mới là chân tâm. Phải dùng tâm này để tu hành, làm gốc tu nhân, trong đời này ta có thể chứng được vô thượng bồ đề.

Lấy cảnh giới của chúng ta để nói, vô thượng bồ đề trên lý luận mà nói, ngay đời này có thể chứng được không có vấn đề. Nhưng về sự mà nói, chúng ta quả thật không dám nói. Tuy nhiên tùy việc mà xét, nếu dùng gốc tu nhân không sanh diệt để tu vô thượng bồ đề, chúng ta niệm Phật được lý nhất tâm bất loạn, điều này có thể đạt được, chúng ta dám nói điều này. Nói cách khác, trong địa vị viên giáo Bồ Tát, chứng viên giáo sơ trụ nhị trụ, có thể làm được điều này. Quý vị nói đăng địa trong viên giáo, chứng đến pháp vân địa, Đẳng giác, điều này không dám nói, quả thật không dám nói điều này. Nhưng trong đời tu đến viên giáo sơ trụ, đúng là không vấn đề gì. Khi đã chứng đến viên giáo sơ trụ chính là pháp thân đại sĩ, lúc này phẩm Nhập Pháp Giới trong Kinh Hoa Nghiêm quý vị có phần, có tư cách.

Tâm không sanh diệt trong kinh này gọi tự tánh vốn định, rốt cuộc ở đâu? Ở trước chúng ta đã học mười lần hiển kiến, bảy chỗ trưng tâm, đây tức là lục căn căn tánh của chúng ta. Nếu ta dùng nó để làm gốc tu nhân, đó chẳng phải là những gì đại sư Giao Quang đề xướng sao? Đại sư Giao Quang dạy chúng ta, xưa nay sáu căn tiếp xúc với cảnh giới sáu trần, dùng căn tánh của sáu căn, đừng dùng sáu thức, đây là tu tự tánh vốn định. Như vậy trong đời này có thể tu vô thượng bồ đề. Vì sao vậy? Vì căn tánh của sáu căn là bất sanh bất diệt. Trong mười lần hiển kiến nói một cách rất rõ ràng, không đến không đi, không dơ không sạch, đây là thật.

Tu như thế nào? Ở trước đều nói rất tường tận với quý vị, dùng căn tánh của lục căn tiếp xúc với cảnh giới lục trần, gọi là tự thọ dụng, chứ không phải đối tha. Tha thọ dùng thì sao? Tha thọ dụng dùng sáu thức. Những khuyết điểm mà phàm phu chúng ta phạm phải, đối với bản thân là sáu thức thọ dụng, đối với người khác cũng là sáu thức thọ dụng, đây tức là mê! Nội ngoại đều là giả, đều là hư vọng, không phải chân thật.

Thọ dụng của Phật Bồ Tát, đối nội là thọ dụng thật, đối ngoại là giả. Bên ngoài như thế nào? Bên ngoài phải lợi ích chúng sanh. Lợi ích chúng sanh gọi là “thủy nguyệt đạo tràng, không hoa Phật sự”. Kiến lập rất nhiều đạo tràng, đạo tràng như thế nào? Giống như kính hoa thủy nguyệt vậy. Phật sự là gì? Phật sự là hoằng pháp lợi sanh, đây là Phật sự. Sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh giống điều gì? Giống như ở trước nói là mắt bị bệnh, thấy hoa giữa không trung, gọi là không hoa Phật sự, thủy nguyệt đạo tràng. Có thể thấy, Phật sự và đạo tràng là huyễn hóa mà có, không phải thật có. Do đó chư vị Bồ Tát đã khai ngộ, đối với đạo tràng Phật sự tuyệt đối không hề chấp trước, đối với tất cả chúng sanh tuyệt đối không có chấp trước. Không có phân biệt, không có chấp trước, trong ngoài nhất như. Tuy trong ngoài nhất như, nhưng trên thái độ biểu hiện, hầu như lại có phân biệt chấp trước. Sự phân biệt chấp trước này đều là giả, đều là diệu dụng hoằng pháp lợi sanh của họ. Không phải thật có phân biệt, cũng không phải thật có chấp trước. Nếu họ thật có phân biệt chấp trước, thì họ là phàm phu. Đây là dạy chúng ta nên dùng căn dùng thức như thế nào. Dùng căn là chân thật, dùng thức là phương tiện quyền xảo, mục đích không ngoài lợi ích chúng sanh. Tuy lợi ích chúng sanh nhưng không chấp tướng lợi ích chúng sanh, như Kinh Kim Cang nói, độ vô lượng vô biên chúng sanh, thật không có chúng sanh nào được độ, tuyệt đối không có chấp trước. Nếu chúng ta dùng tâm như vậy, gọi là tu hành, gọi là tu đại định Lăng Nghiêm. Dùng tâm như vậy để niệm Phật, tức là tu nhất tâm bất loạn, tương ưng với tịch diệt nhẫn của Như Lai quả địa. Đây cũng là kỳ vọng của chư Phật Bồ Tát đối với chúng ta. Cho nên phải biết, tự tánh vốn định chính là Như Lai tạng tánh. Thể là chân thường, tánh vốn là tướng tịch diệt, Như Lai quả địa hiện là tướng tịch diệt. Hiện tại chúng ta mê mất tự tánh, nhưng bổn tánh vẫn là tướng tịch diệt. Có tìm hiểu sơ về Kinh Lăng Nghiêm, có thể lãnh hội được ý này, căn tánh lục căn của chúng ta sao không phải tướng tịch diệt? Những điều khác không cần nói, như trong kinh nói về mười lần hiển kiến, chúng ta tánh thấy, tướng của tánh thấy là tướng tịch diệt. Cho thấy, đối với thánh không tăng, đối với phàm không giảm. Thể chân thường thanh tịch tịch diệt của chúng ta xưa nay không hề mất, hiện nay vấn đề phát sinh ở đâu? Vấn đề phát sinh ở vọng tưởng chấp trước. Nhưng vọng tưởng chấp trước này, nếu không thể tu tự tánh vốn định, không cách nào viễn ly vọng tưởng chấp trước, chúng ta cần hiểu rõ đạo lý này.

Tuy nói tiểu thừa A la hán đoạn phiền não chướng, phá nhân ngã chấp, quý vị suy nghĩ tường tận xem có thể nói như thế chăng? Họ không có nhân ngã chấp, nhưng vẫn còn pháp ngã chấp. Chúng ta hỏi, ai chấp trước pháp ngã chấp? Vẫn còn có ngã. Nếu không có ngã, thì ai chấp trước pháp ngã chấp chứ? Trong pháp đại thừa nói, tiểu thừa A la hán chỉ phá kiến tư phiền não trong tam giới, kiến tư ngoài tam giới vẫn còn, lý này mới có thể nói thông suốt. Kiến tư phiền não ngoài tam giới vi tế hơn nhiều so với trong tam giới. Trong tam giới là kiến tư phiền não thô trọng. Họ đã lìa xa, không còn bị chi phối bởi sanh tử luân hồi trong tam giới lục đạo, nhưng bên ngoài tam giới vẫn còn kiến tư phiền não vi tế. Nguyên nhân này là do họ không biết tu tự tánh vốn định, họ miễn cưỡng khắc chế phiền não, là dùng phương pháp này. Cho nên nó không cứu cánh, không thể đoạn gốc. Bồ Tát đến cảnh giới này là năng sở đều vong, hai loại chấp trước đã lìa xa, tam không cũng đã xả. Gọi là nhân không, pháp không, không cũng không, lúc này mới phá căn bản vô minh. Đó chính là chúng ta nói, nghiệp thức, vô minh nghiệp tướng trong a lại da thức. Trong này một phần động hướng cũng không có, cảnh giới này mới gọi là sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền.

Tịch diệt hiện tiền là cảnh giới gì? Ở trước chúng ta từng nói đến, không sanh không diệt, thanh tịnh bổn nhiên, chu biến pháp giới. Đến cảnh giới này không phải chúng ta chỉ nói bằng miệng, hay là nghĩ đến nó, sao nghĩ đến được! Tự thân chứng được cảnh giới này, đây là thân chứng. Chúng ta dùng phá ngũ ấm để nói, đây là viên phá hành ấm, vượt thoát chúng sanh trược.

Xem tiếp phần kinh văn: “Hốt nhiên siêu việt, thế xuất thế gian, thập phương viên minh, hoạch nhị thù thắng”. Quý vị chú ý đến hai chữ “hốt nhiên” trong kinh văn, “hốt nhiên” trong Thiền tông gọi là đốn ngộ. Do đây có thể biết, đốn ngộ cần có công phu tương đối, như vậy mới có thể khai ngộ. Bởi vậy đốn ngộ cũng là tu từ tiệm ngộ, không có tiệm ngộ làm gì có đốn ngộ? Bản thân không tu tiệm ngộ, ngày ngày vọng tưởng đợi một lúc nào đó được đốn ngộ, chúng ta đã đợi từ vô lượng kiếp, đợi cho đến ngày nay vẫn chưa khai ngộ. Chư vị đồng tu có mặt trong hội, ai trong quý vị không phải tu hành từ vô lượng kiếp đến nay? Điều này tôi từng nói với quý vị rất nhiều lần, tu từ vô lượng kiếp đến nay vẫn như vậy, điều này có vấn đề. Không những tu hành không có tiến bộ, mà càng tu càng thoái chuyển. Khuyết điểm này quá lớn, đó là gì? Chúng ta không biết tu ngộ, không biết cầu ngộ. Nhưng nếu cầu khai ngộ, chướng ngại lớn nhất của việc khai ngộ là phân biệt chấp trước, đây là chướng ngại lớn nhất. Không những chúng ta phân biệt chấp trước đối với pháp thế gian, mà học Phật cũng phân biệt chấp trước. Đây tức là ngày ngày tu, ngày ngày tăng trưởng phân biệt chấp trước, như vậy sao khai ngộ được? Đây là đóng chặt con đường khai ngộ của bản thân.

Quý vị xem trong tất cả kinh luận đại thừa, Đức Phật dạy chúng ta, đầu tiên dạy chúng ta thấu triệt chân tướng tất cả pháp thế xuất thế gian. Chân tướng là gì? Chân tướng là mộng huyễn bào ảnh, chân tướng là tất cả pháp liễu bất khả đắc, chân tướng là tất cả pháp giai không, nghĩa là vạn pháp giai không. Nói rõ chân tướng mục đích ở đâu? Mục đích dạy chúng ta ở trong tất cả pháp đừng phân biệt chấp trước, đừng khởi tâm động niệm. Làm được điều này là có cơ hội khai ngộ, nhờ vậy là được đốn ngộ. Sau khi ngộ ở trong tất cả pháp mới được đại tự tại.

Người thế gian sợ hãi nhất chính là luân hồi sanh tử, người đốn ngộ sanh tử luân hồi không còn, tự tại biết bao! Hồi tưởng lại, từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta chịu nghiệp báo luân hồi sanh tử này, sanh từ bì lao, khổ không xiết kể. Lúc này đã giải quyết, giải quyết triệt để. Như một người nằm thấy ác mộng, thấy một ác một rất dài, bây giờ tỉnh dậy, rất nhẹ nhàng, được đại tự tại. Biết rằng tất cả sự sợ hãi trong mộng đều là giả, không phải thật, đột nhiên đại ngộ!

“Siêu việt” là nói đến điều gì? Đây là nói đốn đoạn vô minh, vô minh nhất định là đốn đoạn, chứ không phải tiệm đoạn. Tiệm đoạn là sao? Là phiền não, là mê hoặc. Chúng ta gọi đây là kiến tư phiền não, trần sa phiền não, đây là tiệm đoạn. Căn bản vô minh nhất định là đốn đoạn, đây là đốn chứng chỉ trong sát na, công phu này đã thuần thục.

Hôm qua chúng ta học trong Hoa Nghiêm, thứ nhất là dạy chúng ta sanh thiện căn, giai đoạn thứ hai là tăng trưởng thiện căn, giai đoạn thứ ba là thuần thục thiện căn, triệt để thuần thục sẽ đốn ngộ. Chư vị phải biết thiện căn khác với phước đức, thông thường chúng ta gọi thiện căn là ngộ tánh, sau khi nghe xong thấu hiểu triệt để, có thể sanh khởi tín tâm thanh tịnh, đây là thiện căn của ta. Đến lúc này là đốn chứng, đốn đoạn vô minh, mới biết minh và vô minh vốn là nhất thể, đây là thật sự đốn chứng. Nếu cho rằng minh và vô minh là hai, vô minh không phải minh, minh không phải vô minh, vậy thì không thể đốn ngộ được. Vì sao vậy? Vì tâm ta trú trong hai pháp. Phiền não không phải bồ đề, bồ đề không phải phiền não. Sanh tử không phải niết bàn, niết bàn không phải sanh tử. Hoàn toàn trú trong hai pháp, như vậy không thể đốn ngộ. Trước tiên chúng ta cần phải vào bất nhị môn, sau đó từng bước vượt qua, nếu còn ở trong nhị môn, không thể đi sâu vào hơn nữa. Trước tiên phải vào bất nhị môn, cảnh giới này viên phá thức ấm, vượt thoát mạng trược. Khi đến được cảnh giới này là công đức viên mãn, mới thật sự thấu đáo thông đạt Như Lai tạng tánh, diệu chân như tánh của mình, vốn đầy đủ tất cả pháp thế xuất thế gian, không có một pháp nào không đầy đủ.

Đây là những gì Lục tổ nói sau khi ngài khai ngộ: “đâu ngờ tự tánh, năng sanh vạn pháp”. Sau khi ngộ ngài nói một câu như thế, mà câu này hoàn toàn tương ưng với cảnh giới Đức Phật nói trong kinh điển đại thừa, có thể thấy ngài là bậc thật ngộ. Vì khi Lục tổ khai ngộ, ngài không hề xem đến kinh luận, cũng chưa từng nghe giảng kinh. Vậy mà ngoài ngộ được đạo lý này, nói ra lời này, không khác gì lời Phật nói trong kinh điển đại thừa, đây là thật sự khai ngộ.

Chư vị thử nghĩ xem, tự tánh vốn đầy đủ vạn pháp của thế xuất thế gian, nếu ta thấy tánh, chứng được tự tánh. Tất cả vạn pháp của thế xuất thế gian, sao có thể không thông đạt được? Làm gì có đạo lý này! Phật pháp gọi đây là lý luận y cứ một kinh thông tất cả kinh thông. Trong pháp môn tu học cũng như vậy, một pháp môn thành tựu thì tất cả các pháp môn đều thành tựu, chứng được một pháp môn thì mọi pháp môn đều chứng được, chính là cảnh giới này.

Người niệm Phật đâu có thể không cầu lý nhất tâm bất loạn, đây là chân tu hành, đây mới là thực sự hành trì. Đặt vào mục tiêu của sự nhất tâm bất loạn, đều gọi là hàng căn tánh thấp. Do đây có thể biết, Phật và chúng sanh chỉ là giác và mê bất đồng mà thôi.

Phàm phu mê tại thế gian, cho rằng mọi sự vật ở thế gian là pháp ngoài tâm, cho rằng đây là pháp chân thật, khởi phân biệt chấp trước đối với mọi sự vật. Bị hạn chế trong phạm vi của thế gian này, vĩnh viễn không vượt thoát. Thanh văn, duyên Giác tuy hơi thông minh, biết đối lập với pháp thế gian còn có pháp xuất thế gian, vậy là họ bị hạn chế trong phạm vi pháp xuất thế gian. Bản thân cục hạn trong pháp xuất thế gian, pháp thế xuất thế gian không thể viên dung, không biết là nhất thể. Pháp tiểu thừa tu chứng là pháp không diệu, bản thân được chút ít thọ dụng. Đâu giống như chư vị đại Bồ Tát, một niệm siêu việt chứng được tự tánh bổn tâm. Trong Phật pháp gọi đây là pháp cứu cánh, trong đại kinh gọi là tâm, Phật, chúng ta tam vô sai biệt. Chứng được tam vô sai biệt này, cho nên mới nói là: “mười phương viên minh”. Đều viên dung, mười phương với ba đời là một. “Mười phương viên minh” trong Kinh Hoa Nghiêm gọi là nhất chân pháp giới, trong Tịnh độ gọi là thường tịch quang Tịnh độ. Đây là cảnh giới mười phương viên minh, lúc này tự nhiên đạt được hai loại thù thắng.

Kinh văn bên dưới nói: “Thứ nhất, trên hợp với bổn diệu giác tâm của mười phương chư Phật, đồng nhất từ lực với Phật Như. Thứ hai, dưới hợp với tất cả lục đạo chúng sanh khắp mười phương, đồng nhất bi ngưỡng với chúng sanh”. Đây là Bồ Tát Quán Thế Âm chứng được, là cảnh giới gì? Đẳng giác Bồ Tát trong tịch diệt nhẫn chứng được. Hai loại thù thắng này chính là nghiệp dụng. Trong Tứ Thập Hoa Nghiêm chúng ta đọc rất nhiều. Quý vị xem, sau mỗi vị thiện hữu nói ra pháp môn chứng đắc của họ, nhất định phải nói ra tác dụng của pháp môn này. Trong cảnh giới này, Bồ Tát Quán Thế Âm chứng được mười phương viên minh, tác dụng là gì? Mười phương viên minh có lợi ích gì? Hai loại này chính là nghiệp dụng thù thắng. Thông thường mà nói, như nghiệp dụng này viên giáo sơ trụ là chứng được. Chứng được, chúng ta gọi là nghiệp dụng tương tự. Có như vậy, nhưng không thiết thực như Bồ Tát Quán Thế Âm, không viên mãn như thế.

Chúng ta cũng thấy như trong kinh Phật thường dùng trăng làm ví dụ, Viên giáo sơ trụ Bồ Tát giống như ánh trăng mùng ba vậy, như trăng mùng hai mùng ba. Đẳng giác Bồ Tát giống như trăng 14, đến 15 là viên mãn, sắp viên mãn. Đương nhiên hai loại thù thắng này của họ không giống nhau, đây gọi là hai loại thù thắng. Viên giáo sơ trụ chứng được hai loại nghiệp dụng này, có hai loại nghiệp dụng này, nhưng không thể gọi là thù thắng. Giống như trăng mùng ba mùng bốn, tuy có trăng, đó là ánh trăng thật sự không phải giả, nhưng sao? Mức độ chiếu sáng vẫn chưa đủ lớn, vẫn chưa sáng một cách trọn vẹn, tình huống này chính là như vậy.

Ở trước nói, trên hợp từ lực, nói rõ về “bổn diệu giác tâm”, đây là hợp với bổn diệu giác tâm của mười phương chư Phật. Bổn diệu giác tâm tức là chân như bổn tánh, cũng chính là trong kinh này nói Như Lai tạng diệu chân như tánh. Chân tánh, bất luận ở quả địa hay là ở nhân địa, đều không có phân biệt, cho nên Phật và chúng sanh đều như nhau. Về phương diện chân tánh nói là giống nhau, vốn không hai. Gọi là nơi Phật nó không tăng thêm, ở nơi phàm phu cũng không hề giảm, không tăng không giảm. Đây là từ đâu? Từ phương diện lý thể mà nói là như vậy. Từ tác dụng mà nói, tác dụng của Phật không có chướng ngại. Vì sao không có chướng ngại? Vì họ không mê, cho nên họ không có chướng ngại. Tác dụng của phàm phu có chướng ngại, vì sao có chướng ngại? Vì họ có mê, mê liền có chướng ngại, ngộ thì không có chướng ngại. Khi mê chướng ngại này thật sự chướng ngại ư? Không phải thật sự. Ở trước từng nói, khi thật sự ngộ nhập, hoát nhiên đại ngộ. Ngộ gì? Ngộ là mê ngộ không hai, lúc này mới quán thông tất cả. Mê ngộ là hai, ngộ đó là tiểu ngộ không phải triệt ngộ, vì sao vậy? Có năng ngộ, có sở ngộ. Có năng mê, có sở mê, chưa đoạn năng và sở. Về thể hoàn toàn tương đồng. Như trong kinh ở trước nói, căn tánh của sáu căn chúng ta, và căn tánh sáu căn của mười phương Chư Phật Như Lai, không có gì khác, hoàn toàn tương đồng. Trí tuệ đức tướng của chúng ta, với trí tuệ đức tướng của mười phương Như Lai, cũng hoàn toàn tương đồng, không có gì khác. Nhưng hiện nay xuất hiện vấn đề, bản thân chúng ta đều không dám thừa nhận. Nói với quý vị, điều này tôi không dám! Rất khiêm tốn, rất khách sáo, đều không dám nhận. Khi đáng khách sáo, khi đáng khiêm tốn thì không biết khách sáo khiêm tốn. Khi để quý vị trực tiếp gánh vác, lúc này quý vị lại khiêm tốn khách sáo, vậy là sai. Sở dĩ ta không dám nhận, nghĩa là đối với chân tướng sự thật này không thấu triệt, không minh bạch.

Bồ Tát Quán Thế Âm đến lúc này là hoàn toàn thông đạt, bởi vậy ngài trực tiếp thừa nhận. Vì thế nói, trên hợp với bổn diệu giác tâm của chư Phật, đây chính là đồng thể với Phật. Thật sự chứng được căn tánh sáu căn của tất cả chúng sanh, với căn tánh sáu căn của chư Phật Như Lai là nhất tánh không phải hai tánh, đây gọi là trên hợp. Khi thể hợp, đương nhiên dụng cũng hợp. Dụng của chư Phật Bồ Tát là đại từ đại bi, thông thường chúng ta gọi là tâm bồ đề. Tâm bồ đề chính là tâm Phật, tâm bồ đề tức là bổn diệu giác tâm. Trực tâm là thể, nghĩa là thể của thanh tịnh bình đẳng giác. Thể không hai đối với tất cả vạn pháp chính là trực tâm, thâm tâm tức là tâm thanh tịnh, tự thọ dụng. Tất cả không nhiễm, tất cả không chấp trước, viễn ly nhiễm trước. Tâm này là thâm tâm, chính là tâm thanh tịnh.

Trong Kinh Viên Giác nói, tịnh viên giác tâm, khởi tác dụng chính là tâm đại bi, đại từ đại bi. Lúc này nghiệp dụng tâm của Bồ Tát là đại từ đại bi, ban vui cho tất cả chúng sanh, nhổ sạch cái khổ cho tất cả chúng sanh.

Chư vị thử nghĩ xem, họ còn chướng ngại chúng sanh ư? Họ còn làm khó chúng sanh ư? Tuyệt đối không có điều này. Luôn hết sức giúp chúng sanh. Giúp chúng sanh, chư vị biết Phật Bồ Tát giúp tất cả chúng sanh, mục đích là phá mê khai ngộ, chứ không phải giúp họ hưởng thụ về mặt vật chất hay tinh thần. Không phải như vậy. Đó là pháp thế gian, đó không phải Phật pháp. Phật pháp giúp người chính là phá mê khai ngộ, sau khi phá mê khai ngộ tự nhiên lìa khổ được vui, đó mới thật là lìa khổ được vui.

Đây là sự nghiệp của Phật Bồ Tát, trên đồng chư Phật, đồng thể với chư Phật. Dưới thì sao? Dưới hợp với lục đạo chúng sanh khắp mười phương. Trong này cần bổ sung thêm một câu, quý vị xem, trên hợp với bổn diệu giác tâm của mười phương chư Phật, bên dưới chắc chắn cũng như vậy. Dưới hợp với bổn diệu giác tâm của lục đạo chúng sanh, ý nghĩa này rất hoàn chỉnh, phải như vậy chăng? Đúng là như vậy. Như tôi vừa nói, bổn diệu giác tâm, sanh, Phật, tất cả vạn pháp là một không phải hai.

Trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật nói, tình và vô tình, đồng viên chủng trí. Không những hữu tình chúng sanh cùng một bản giác diệu tâm, mà vô tình chúng sanh cũng cùng một bổn giác diệu tâm. Vì sao vậy? Vì thập pháp giới y chánh trang nghiêm, đều là huyễn tướng do bổn giác diệu tâm biến hiện ra. Thể tướng tương đồng, sanh và Phật đều đầy đủ tâm này, tình và vô tình cùng một tâm. Trên hợp đương nhiên dưới cũng hợp, dưới hợp trên nhất định cũng hợp. Không có nói trên hợp mà dưới không hợp, dưới hợp mà trên không hợp, không có đạo lý này. Thấy tánh không nói thấy một nửa, không có đạo lý này, không nói thấy một nửa, kiến tánh là viên mãn.

Bởi vậy nói, từ viên giáo sơ trụ, tôi vừa mới nói với chư vị chính là cảnh giới này. Đến tịch diệt nhẫn, tức là đạt được pháp vân địa, cảnh giới này thấy được gì? Thấy sự viên mãn, thấy sự cứu cánh, thấy mười phần thiết thực, cho nên tâm từ bi mới hiển lộ ra. Tâm từ bi tức là khởi dụng của bổn diệu giác tâm, với tất cả chúng sanh “đồng nhất bi ngưỡng”. “Bi ngưỡng”, bi nghĩa là ai cầu bạt khổ. Tất cả chúng sanh đều có khổ nạn, phải luôn cầu một sức mạnh giúp họ lìa khổ được vui.

Chúng sanh thế gian không biết, không hiểu rõ chân tướng sự thật, cầu thần minh của Tôn giáo giúp đở, đâu biết rằng thần minh của Tôn giáo vẫn là chúng sanh. Tôn giáo không thể giải quyết được vấn đề này, Tôn giáo không dạy người phá mê khai ngộ. Tôn giáo chỉ dạy ta, khi gặp đau khổ là cầu nguyện, cầu thần minh gia hộ. Đây là khả năng của họ, không giải quyết được vấn đề.

Ý nghĩa của ngưỡng, ngưỡng là hy vọng mong cầu, mong cầu ban cho họ niềm an vui. Bi là ai cầu, hy vọng họ cứu khổ, cứu khổ cứu nạn. Đây nghĩa là bi ngưỡng, phàm là người mê mất tự tánh đều có hai loại cầu này. Cầu bạt khổ, cứu khổ nạn cho mình. Lại cầu cho cuộc sống của mình được an vui hơn, mỹ mãn hơn, hạnh phúc hơn, cầu những thứ này. Người thế gian làm những điều mê hoặc điên đảo này. Gọi là mê hoặc điên đảo, nghĩa là những gì họ cầu không đúng đắn, lý luận y cứ lại không có phương pháp chính đáng. Tuy có cầu, nhưng kết quả sau cùng không có gì cả, trong Phật pháp gọi đây là cầu bất đắc khổ. Có một số người cũng biết bản thân cầu là cầu bất đắc khổ, họ cũng muốn cầu thử, vì sao vậy? Vì muốn an ủi tinh thần chính mình. Họ cũng biết như vậy là mê tín, cũng biết không có kết quả, những họ vẫn làm. Điều này hiển thị nỗi thống khổ nội tâm và nguyện vọng nội tâm của tất cả chúng sanh.

Chư Phật Bồ Tát thấu triệt rốt ráo tâm tình của tất cả chúng sanh. Cho nên Phật Bồ Tát ở thế gian dùng vô số phương tiện thiện xảo, dẫn dắt tất cả chúng sanh phá mê khai ngộ. Phật pháp giảng kinh thuyết pháp, đây là một phương pháp dứt khoát nhất trong vô số phương tiện thiện xảo, đây là dứt khoát nhất. Phương pháp dứt khoát nhất này, tiếp dẫn hàng chúng sanh nào? Chính là hàng chúng sanh căn tánh thuần thục, nếu không phải chúng sanh căn tánh thuần thục, dù ta có giảng kinh thuyết pháp họ cũng không muốn nghe, đó là căn tánh chưa thuần thục. Có thể nghe giảng kinh thuyết pháp, có hứng thú khi nghe, đây là chúng sanh căn tánh thuần thục, sự thuần thục này cũng có đẳng cấp. Sự thuần thục này có thể nghe kinh, có hứng thú đối với việc nghe kinh, đối với việc nghiên cứu kinh Phật. Đây là một giai cấp, họ đã thuần thục.

Đến đây có thể nói, Bồ Tát Quán Thế Âm đem những gì đạt được và tu hành chứng quả của mình, hai loại nghiệp dụng thù thắng, nói ra tất cả với chúng ta. Văn tự không nhiều, trong mỗi câu đều bao hàm vô lượng nghĩa, mà có thể nói là nguyên tắc nguyên lý chỉ đạo cao nhất của việc tu học. Bất luận tu pháp môn nào, đều có thể áp dụng nguyên tắc nguyên lý này, bởi vậy chư vị có thể áp dụng nguyên tắc nguyên lý này vào pháp môn niệm Phật, niệm Phật của mình là lý niệm, cho nên đạt được nhất định là lý nhất tâm bất loạn.

Họ đã thành tựu, đồng nghĩa với tốt nghiệp trong Phật pháp. Sau khi tốt nghiệp thì làm gì? Sau khi tốt nghiệp họ hưởng phước, chúng ta xem họ hưởng phước báo đó như thế nào? Đây là điều chúng ta cần học tập.

Mời xem tiếp đoạn kinh văn: “Thế Tôn, do ngã cúng dường, Quán Âm Như Lai, mông bỉ Như Lai, thọ ngã như huyễn, văn huân văn tu, kim cang tam muội, dữ Phật Như Lai, đồng bi lực cố, linh ngã thân thành, tam thập nhị ứng, nhập chư quốc độ”. Đây chính là đại dụng của ngài hiện tiền, là sự hưởng thụ của ngài.

Có thể chư vị muốn hỏi, điều này không tu thành còn tốt hơn. Sau khi tu thành phải đi khắp nơi hoằng pháp lợi sanh quá mệt, điều này gian khổ biết bao! Ý niệm này là dùng tâm phàm phu của chúng ta để suy đoán cảnh giới của Phật Bồ Tát, đâu biết rằng sai lầm hoàn toàn, nó không phải như vậy. 32 ứng thân để đi vào các quốc độ này, là tùy loại hóa thân, là một loại như thế nào? Là một loại nghiệp dụng tự nhiên, không phải cố tâm, cũng không phải vô tâm. Tuy ngày ngày hoằng pháp lợi sanh, không lúc nào được nghỉ, như trong Phẩm Hạnh Nguyện nói: “Không hề mệt mỏi chán ghét”. Phàm phu chúng ta công việc quá nhiều, mệt mỏi, chán nản, vì sao có hiện tượng này? Vì chúng ta là tâm phàm phu, tức là dùng gì? Dùng tâm sanh diệt, vì thế mới có hiện tượng hư vọng này. Bồ Tát dùng tâm không sanh diệt, cho nên 32 ứng hiện của ngài, tùy loại hóa sanh, làm mà không làm, không làm mà làm. Làm và không làm là một không phải hai, sao họ có sự chán ghét mỏi mệt được? Làm và không làm là hai không phải một, thì có lúc chán nản, có khi mệt mỏi. Làm và không làm là một không phải hai, trong này không tìm thấy sự mệt mỏi, không có.

Chúng ta cũng như vậy, nếu nói đang ở trên tòa giảng kinh, nói không phải không nói, không nói không phải nói. Nói và không nói là hai không phải một, ở trên bục giảng ta cảm thấy rất mệt, rất uể oải, lâu ngày sẽ không chịu nổi. Giả dụ ta nói mà không nói, không nói mà nói, ngồi đây giảng suốt 20 tiếng đồng hồ cũng không mệt, càng giảng càng có tinh thần. Vì sao vậy? Vì không cảm thấy mệt. Nghe kinh cũng như thế, nếu ta nghe mà không nghe, không nghe mà nghe, quý vị ngồi đây không hề cảm thấy mệt hay chán, ngồi liên tục mười tiếng cũng không cảm thấy chán. Nghe và không nghe là hai vấn đề, không phải một vấn đề, như vậy dễ gây cảm giác mệt mỏi. Giống như đi học vậy, chúng ta định là một tiếng, sau một tiếng đồng hồ là không được, rất uể oải. Cần đứng lên vận động nghỉ ngơi chốc lát, không thể tiếp tục nữa. Vì sao vậy? Phật pháp thường nói: “tất cả đều do tâm tạo”. Tâm lượng chỉ lớn bao nhiêu đó, chỉ một tiếng đồng hồ thôi, thời gian một tiếng đã đến mà chưa nghỉ, sau đó không thể tiếp tục được.

Mọi vấn đề trong cuộc sống hằng ngày đều như vậy, một ngày chỉ ăn một bữa vì sao họ vẫn đầy đủ tinh thần? Vì họ cảm thấy một bữa là đủ, không cần ăn thêm bữa thứ hai, trước tiên về phương diện tâm lý họ phải kiến lập. Nếu đối với một số người như vậy không được, một ngày ba bữa vẫn chưa no, cần ăn thêm điểm tâm, đến giờ không ăn là đói. Đến lúc đó đói thật, vì sao vậy? Vì trong tâm nghĩ đến đói bụng, sao họ không đói được? Người ăn một bữa họ không nghĩ đến, họ không nghĩ đến cũng không đói. Có thể thấy vấn đề này đúng là vạn pháp do tâm.

Bồ Tát Quán Thế Âm đối với tất cả chúng sanh, ân đức lớn nhất là cứu khổ cứu nạn, đây là ân đức lớn của Bồ Tát Quán Thế Âm đối với tất cả chúng sanh. Đức lớn này từ đâu mà có? Nhất định có nguyên nhân, nghĩa là có căn cứ, ở đây nói ra cho chúng ta biết.

Ngài là “cúng dường Quán Âm Như Lai”, Quán Âm Như Lai là thầy của ngài. Trong việc cúng dường, chú trọng ở pháp cúng dường, thế nào gọi là pháp cúng dường? Y giáo tu hành, là cúng dường pháp chơn chánh nhất. Thầy của ngài nói cho ngài biết về nguyên lý này, về phương pháp tu hành này, ngài y cứ theo phương pháp và lý luận này tu hành, ngài cũng thành Phật. Đây gọi là cách cúng dường rốt ráo nhất, cũng như thế gian chúng ta gọi là sư thừa. Ngài học theo Quán Thế Âm Như Lai, cho nên danh hiệu của ngài cũng gọi là Bồ Tát Quán Thế Âm. Điều này nói rõ với chư vị, trong sự cúng dường, tu pháp cúng dường là rốt ráo nhất. Thứ hai là hoằng pháp cúng dường, thứ ba là truyền pháp cúng dường, trong Phật pháp đây là chân thật cúng dường. Khi bản thân thành tựu, như Bồ Tát Quán Thế Âm, phải làm như vậy. Khi bản thân chưa thành tựu giúp đỡ người thành tựu, đây là cách cúng dường. Như chúng tôi hiện nay chưa thành tựu, chưa thành tựu thì cùng mọi người giảng giải nghiên cứu bộ kinh này. Chúng ta giúp Bồ Tát Quán Thế Âm hoằng pháp, giúp ngài tu cúng dường, chính là tự chúng ta tu cúng dường. Chư vị đồng tu xúc tiến nhân duyên đạo tràng này, cũng là mọi người đang tu cúng dường. Phàm những ai đến đạo tràng này nghe kinh là tu cúng dường, quý vị bỏ ra một chút sức lực, hoặc là không có chút sức lực nào, nhưng sanh tâm hoan hỷ. Nghe nói ở đây có một đạo tràng, nghe nói có rất nhiều người ở đây nghe kinh, trong tâm rất hoan hỷ. Đây đều là cúng dường, đây đều được vô lượng phước.

Tận tâm tận lực cúng dường, phước báo đó càng thù thắng. Trong thập đại nguyện vương gọi đây là “tùy hỷ công đức”, là tùy hỷ công đức cúng dường. Chúng ta ở đây tận tâm tận lực xúc tiến đạo tràng, đó chính là trong thập đại nguyện vương “thỉnh chuyển pháp luân” cúng dường. Phước đức đó càng thù thắng, càng không thể nghĩ bàn. Mấy câu ở đây đều nói từ cương lĩnh, giống như viết văn đều nói đến đề mục.

“Mông bỉ Như Lai”, “bỉ Như Lai” là chỉ Quán Âm Như Lai. “Thọ ngã như huyễn”, hai chữ này là cương lĩnh chung. Cho nên tương lai_bây giờ chúng ta chỉ đọc đến đây, chưa học đến Tứ Thập Hoa Nghiêm, hiện tại chúng ta mới học đến tam địa. Thập địa xong đến Đẳng giác, Đẳng giác có 11 vị, thiện hữu tượng trưng đến những gì Đẳng giác tu, toàn là như huyễn tam muội. Trong Tứ Thập Hoa Nghiêm nó chiếm phân lượng hầu như hết ¼, nói với chúng ta về tam muội như huyễn. Ở đây chúng ta nói một cách đơn giản, gọi “như huyễn” là nương vào thanh tịnh giác tâm, cũng chính là Lục Tổ nói “bổn lai vô nhất vật”. Chư vị phải biết, trong tâm vừa có một vật tức là không giác, tức là mê. Trong kinh này Đức Phật nói: “tri kiến lập tri thị vô minh bổn”, thanh tịnh giác tâm là gốc giác. Nếu trong lòng ta còn có cái giác, đó là không giác. Thanh tịnh giác tâm là bổn minh, trong đó thêm vào cái minh nữa chính là vô minh. Vô minh từ đâu mà có? Vô minh sanh ra từ đó.

Quý vị xem trong Khởi Tín Luận Bồ Tát Mã Minh nói rất hay: “bổn giác bổn hữu”, không hề mất đi. “Bất giác bổn vô”, bất giác tức là vô minh, tức trong lòng ta có đồ vật. Trong lòng có đồ vật, đồ vật đó vốn không có. Vốn không có, ta nhất định chấp trước nó, đây chính là mê hoặc điên đảo, mê mất tâm bổn giác. Vì chấp trước có, chấp trước có cái tôi tức là chấp trước ngã tướng, chấp trước có người, chấp trước có chúng sanh, chấp trước có thọ giả, tứ tướng mê, đây gọi là bốn tướng cơ bản.

Sau khi có những điều này, không thể chứng được tam muội như huyễn, cũng không thể chứng được thế giới như huyễn. Coi những thứ giả này là thật, từ sáng đến tối để mãi trong lòng, do đó mà biến hiện ra thứ đáng ghét là luân hồi lục đạo. Bởi vậy luân hồi lục đạo là do mình biến hiện ra, là tự ta phải nhận lấy. Ví như một người gặp ác mộng, ai cho họ, là tự họ nằm mộng. Trong mộng họ gặp người ác, gặp mãnh thú, gặp ma quỷ, bản thân sống trong nỗi sợ hãi bất an. Toàn là giả, tự làm tự chịu. Bởi vậy nói tất cả chúng sanh mê hoặc điên đảo, vô lượng kiếp sanh tử luân hồi trong lục đạo, gọi là tự làm tự chịu. Không biết chân tướng sự thật, đến khi nào mới khai ngộ?

Tất cả kinh điển đại thừa, đích thực làm tăng thượng duyên rất tốt cho chúng ta. Thực tế mà nói, chúng ta không đủ thiện căn phước đức. Thiện căn là gì? Chúng ta nghe xong không thể lý giải, bởi vậy nghe rồi vẫn không khai ngộ, không sanh khởi tín tâm thanh tịnh, không đủ phước đức. Không đủ phước đức tức là không có kiên nhẫn. Như một bộ đại kinh này, một bộ đại kinh phải giảng mấy năm, nếu không kiên nhẫn nghe chính là không có phước đức.

Thôi, hôm nay chúng ta chỉ nói đến đây.

Hết tập 6

Trích từ: Kinh Thủ Lăng Nghiêm Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương

Từ Ngữ Phật Học
bồ đề
(菩提) I. Bồ đề. Phạm, Pàli: bodhi. Dịch ý là giác, trí, tri, đạo. Nói theo nghĩa rộng, bồ đề là trí tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tức là trí giác ngộ mà Phật, Duyên giác, Thanh văn đã đạt được ở quả vị của các ngài. Trong ba loại bồ đề này, bồ đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, dịch là vô thượng chính đẳng chính giác, Vô thượng chính biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng bồ đề. Về bồ đề của Phật, theo luận Đại trí độ quyển 53, có năm loại sau: 1. Phát tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Thập tín phát tâm bồ đề, tâm ấy là nhân đưa đến quả bồ đề. 2. Phục tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở các giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng v.v... tu các hạnh ba la mật, chế phục phiền não, hàng phục tâm mình. 3. Minh tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Đăng địa biết rõ thực tướng các pháp rốt ráo trong sạch, là tướng bát nhã ba la mật. 4. Xuất đáo bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở ba giai vị Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, ở trong bát nhã ba la mật, diệt trừ phiền não trói buộc, ra khỏi ba cõi, đến nhất thiết trí, nên gọi là xuất đáo bồ đề. 5. Vô thượng bồ đề, nghĩa là bậc Đẳng giác, Diệu giác chứng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tức là giác trí của quả Phật.Trên đây gọi chung là năm loại bồ đề. Còn Pháp hoa kinh luận quyển hạ ở nơi ba thân pháp, báo, hóa của Phật, lập ba loại bồ đề là Pháp Phật Bồ đề (Pháp thân Bồ đề), Báo Phật Bồ đề (Báo thân Bồ đề), và Ứng Phật Bồ đề (Ứng thân Bồ đề), gọi là tam chủng Bồ đề. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 thì chia Vô lượng bồ đề làm hai thứ là Phương tiện bồ đề và Tính tịnh bồ đề. Ngoài ra, trong mười thứ Ba Pháp của tông Thiên thai cũng có ba bồ đề, đó là: 1. Thực tướng bồ đề, cũng gọi Vô thượng bồ đề: chân tướng bồ đề ngộ lí thực tướng, tương đương với đức pháp thân. 2. Thực trí bồ đề, cũng gọi Thanh tịnh bồ đề: trí tuệ ngộ lí khế hợp, tương đương với đức bát nhã. 3. Phương tiện bồ đề, cũng gọi Cứu kính bồ đề: ngộ được tác dụng tự tại giáo hóa chúng sinh, tương đương với đức giải thoát. Lại cứ theo luận Vãng sinh tịnh độ nói, thì: 1. Chấp trước tự ngã. 2. Không muốn làm cho tất cả chúng sinh được yên ổn. 3. Chỉ cầu lợi ích cho bản thân mình. Ba điều trên đây trái với cửa bồ đề, gọi là ba tâm xa lìa hoặc là ba chướng lìa bồ đề. Cùng sách đã dẫn lại nêu ra ba thứ tâm thanh tịnh: 1. Không cầu yên vui cho bản thân mình (Vô nhiễm thanh tịnh tâm) 2. Trừ khổ cho chúng sinh khiến họ được yên vui (An thanh tịnh tâm) 3. Khiến chúng sinh đến bồ đề và cho họ yên vui vĩnh viễn (Lạc thanh tịnh tâm). Đây là ba thứ tâm thuận theo cửa bồ đề. Người tu Đại thừa cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Bồ đề tát đỏa, gọi tắt là Bồ tát. Tâm cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Vô thượng bồ đề tâm, Vô thượng đạo ý hoặc Bồ đề tâm. Hướng tới 73 đạo phẩm bồ đề, gọi là Bồ đề phần pháp. Nơi đức Phật thành đạo, gọi là Bồ đề đạo tràng, Bồ đề tràng, cây ở đạo tràng ấy gọi là Bồ đề thụ. Tu phúc cầu nguyện cho tổ tông thành Phật, gọi là Tăng thượng bồ đề. Kết khóa niệm Phật, nguyện cầu chúng sinh tăng tiến Phật đạo, gọi là Bồ đề giảng. Các chùa viện thuộc về đàn na (thí chủ), gọi là Bồ đề tự, Bồ đề sở. [X. kinh Bồ tát địa trí Q.3 phẩm Vô thượng bồ đề; kinh Đại phẩm bát nhã Q.22; kinh Bồ đề tâm Q.1; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.38, Q.52; kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.70; kinh Duy ma Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.1, Q.27; luận Đại trí độ Q.44; luận Thành duy thức Q.1]. II. Bồ đề. Tức là ngài Bồ đề tiên na đến Trung quốc vào đời nhà Đường. (xt. Bồ Đề Tiên Na).
lục căn
(六根) Phạm:Wađ indriyàịi. Cũng gọi Lục tình. Sáu khí quan cảm giác, 6 xứ trong 12 xứ, 6 căn giới trong 18 giới. Sáu căn là: 1. Nhãn căn: Cơ quan thị giác và năng lực thấy biết. 2. Nhĩ căn: Cơ quan thính giác và năng lực nghe biết. 3. Tỉ căn: Cơ quan khứu giác và năng lực ngửi mùi. 4. Thiệt căn: Cơ quan vị giác và năng lực nếm biết. 5. Thân căn: Cơ quan xúc giác và năng lực chạm biết. 6. Ý căn: Cơ quan tư duy và năng lực nghĩ biết. Năm căn trước cũng gọi là Ngũ căn, thuộc về sắc pháp (vật chất), cho nên gọi là Sắc căn. Có 2 loại: 1. Phù trần căn: Cơ quan sinh lí, lấy 4 đại (đất, nước, lửa, gió) làm thể, khi đối trước cảnh thì sinh ra thức, nhưng chỉ là tác dụng phụ trợ mà thôi. 2. Thắng nghĩa căn: Lấy tịnh sắc do 4 đại sinh ra làm tính, có tác dụng chính yếu khi căn đối cảnh sinh ra thức. Đối lại với 5 căn trước thuộc sắc pháp, Ý căn thuộc tâm pháp, là chỗ nương tựa của tâm để sinh khởi tác dụng tâm lí, tức là Vô sắc căn. Cứ theo thuyết của Hữu bộ, khi 6 thức của sát na trước rơi vào quá khứ, thì Ý căn liền dẫn khởi đẳng vô gián duyên của 6 thức vào sát na kế tiếp. Bởi thế, tác dụng của 6 thức thường phải lấy Ý căn làm chỗ nương (thông y). Nhưng ngoài Ý căn ra, còn có căn đặc biệt làm chỗ nương (biệt y) cho 5 thức trước. Còn Ý thức thì nương vào Ý căn, chứ không có căn đặc biệt nào khác. Hành phái Du già theo nghĩa Duy thức mà nói về 6 căn, chủ trương 6 căn, 6 cảnh đều là do thức bên trong biến hiện ra. Sáu căn có thể được xem là toàn thể thân tâm của con người, như kinh Pháp hoa cho rằng đọc tụng, biên chép kinh điển thì 6 căn được thanh tịnh. [X. luận Câu xá Q.1-3; luận Thành duy thức Q.1; luận Thuận chính lí Q.6; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1]. (xt. Ngũ Căn, Lục Cảnh, Lục Thức, Căn).
hữu vi
(有爲) Phạm: Saôskfta. Pàli:Saíkhata. Cũng gọi Hữu vi pháp. Pháp do tạo tác mà có. Chỉ chung cho các hiện tượng do nhân duyên hòa hợp mà được tạo ra. Cũng tức là tất cả hiện tượng trong quan hệ hỗ tương, sinh diệt biến hóa, lấy 4 tướng hữu vi sinh, trụ, dị, diệt làm đặc trưng. Ngược lại, pháp nào vĩnh viễn bất biến và tồn tại tuyệt đối thì gọi là Vô vi pháp. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 5, thì nhân duyên tạo tác gọi là Vi , còn các pháp sắc, tâm từ nhân duyên, có sự tạo tác của nhân duyên, cho nên gọi là Hữu vi, do đó, Hữu vi cũng là tên khác của pháp duyên khởi. Tiểu thừa chú trọng việc dùng hữu vi để nói rõ về lẽ vô thường của kiếp người, còn Đại thừa thì đi xa hơn mà đặt nặng việc phân tích tất cả hiện tượng vật chất và tinh thần trong thế giới để thuyết minh lí tính không, duy tâm.

Phổ thông cho 5 uẩn là pháp hữu vi, còn trong 75 pháp của tông Câu xá thì pháp hữu vi chiếm hết 72 thứ; trong 100 pháp của tông Duy thức thì pháp hữu vi chiếm 94 loại. Nói một cách bao quát, pháp hữu vi có thể chia ra 3 loại gọi là Tam hữu vi, đó là: Sắc pháp (vật chất), Tâm pháp (tâm) và Phi sắc phi tâm pháp (pháp bất tương ứng). Pháp hữu vi là pháp vô thường, chuyển biến, đổi dời trong từng sát na, vì thế cũng gọi là Hữu vi chuyển biến. Sinh, trụ, dị, diệt (Tứ tướng hữu vi) là đặc trưng căn bản của các pháp hữu vi, cũng có thuyết hợp 2 tướng trụ, dị làm một mà lập Tam tướng hữu vi. Luận Câu xá quyển 1 có nêu 4 tên khác của pháp hữu vi: Thế lộ, Ngôn y, Hữu li và Hữu sự. 1. Thế lộ: Thế nghĩa là tam thế (3 đời); lộ tức là pháp, là chỗ nương tựa của đời (thế). Nghĩa là pháp quá khứ là đời đã qua rồi; pháp hiện tại là đời đang diễn ra; pháp vị lai là đời sẽ diễn ra.

Bởi thế pháp hữu vi là chỗ nương tựa của 3 đời, cho nên gọi là Thế lộ. Thế cũng còn bao hàm ý nghĩa có thể phá hoại , pháp hữu vi là pháp có thể phá hoại, mà cũng là chỗ nương tựa của vô thường, cho nên gọi là Thế lộ. 2. Ngôn y: Ngôn chỉ cho lời nói lấy âm thanh làm thể, là pháp mà Danh ngôn năng thuyên và Thực nghĩa sở thuyên dựa vào để biểu hiện và tồn tại. Lí do tại sao pháp hữu vi được gọi là Ngôn y, là vì nghĩa sở thuyên và danh năng thuyên đều rơi vào 3 đời và hiện hành trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). 3. Hữu li: Li nghĩa là xa lìa vĩnh viễn, tức chỉ cho Niết bàn. Tất cả các pháp hữu vi cuối cùng sẽ bị lìa bỏ mà đến Niết bàn, cho nên gọi là Hữu li. 4. Hữu sự: Sự là nhân, nghĩa là các pháp hữu vi đều từ nhân mà sinh ra, cho nên gọi là Hữu sự. Lại nữa, pháp hữu vi phải nhờ quan hệ nhân quả mới thành lập được, như vậy, phàm là pháp hữu vi thì nhất định sẽ sinh ra quả, cho nên Hữu vi cũng được gọi là Hữu quả. Ngoài ra, Hữu vi còn có tên khác là Hữu sát na vì nó có tính chất sinh diệt đổi dời trong từng sát na. [X. luận Câu xá Q.5; luận Thành duy thức Q.2; Câu xá luận tụng sớ Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.2]. (xt. Ngũ Vị Thất Thập Ngũ Pháp, Ngũ Vị Bách Pháp, Tứ Tướng).
a nan
(阿難) Pāli, Phạm: Ànanda. Là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật. Nói đủ là A nan đà. Dịch ý là hoan hỉ, khánh hỉ, vô nhiễm. Em họ của Phật, sau khi xuất gia, thường ở bên cạnh Phật hơn hai mươi năm, kí ức rất tốt, đối với lời Phật nói pháp, có thể ghi nhớ rõ ràng, cho nên được gọi à Đa văn đệ nhất. Ngài A nan dung mạo đẹp đẽ, mặt như trăng tròn, mắt như hoa sen xanh, thân hình sáng rỡ như gương, vì thế, tuy đã xuất gia, nhưng thường bị phụ nữ cám dỗ, tuy nhiên, nhờ chí khí kiên cố, cuối cùng, A nan đã bảo toàn được Phạm hạnh. Khi đức Phật còn sinh tiền, ngài A nan vẫn chưa khai ngộ, khi Phật nhập diệt, buồn rầu mà khóc; sau nhờ tôn giả Ma ha ca diếp dạy bảo, cố sức dụng công mới khai ngộ. Trong đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên, ngài A nan được chọn là người thuật lại kinh, đối với sự nghiệp truyền trì kinh pháp, tôn giả A nan đã có công lao rất lớn. Lúc đầu, di mẫu của Phật là bà Ma ha ba xà ba đề muốn xuất gia, A nan liền sắp đặt lo liệu, cuối cùng được đức Phật cho phép, đối với sự thành lập giáo đoàn tỉ khưu ni, ngài A nan cũng có công tích rất lớn. Lại cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 2 chép, thì đức Phật truyền pháp cho tôn giả Ma ha ca diếp, Ma ha ca diếp truyền pháp cho ngài A nan, như vậy, A nan là tổ thứ hai trong Phó pháp tạng. Sau đức Phật nhập diệt khoảng từ hai mươi đến hai mươi lăm năm, ngài A nan thị tịch tại miền trung du sông Hằng, trước khi nhập tịch, ngài đem pháp phó chúc cho ngài Thương na hòa tu. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; Trung a hàm Q.33 kinh Thị giả; kinh Tăng nhất a hàm Q.4 phẩm Đệ tử; kinh A nan đồng học; kinh Phật bản hạnh tập Q.11; luật Ngũ phần Q.3, Q.29; luận Đại trí độ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.6, Q.7].
Lục Thức
Lục thức chính là Ngũ thức thêm chi phần “Ý thức” hình thành nên. Lục thức là sáu sự nhận biết được phát sanh từ sáu vùng não bộ khi Lục căn tiếp xúc với Lục trần. Lục thức bao gồm như sau:

1. Nhãn thức: Sự nhận biết, phân biệt của cơ quan thị giác. Sự nhận biết, phân biệt này phát sanh khi mắt tiếp xúc với cảnh tượng bên ngoài (sắc trần).
Ví dụ: mắt nhìn phân biệt được màu xanh, màu đỏ, cái cây tùng và cây ổi có đặc điểm nào khác nhau...
2. Nhĩ thức: Sự nhận biết, phân biệt của cơ quan thính giác. Sự nhận biết, phân biệt này phát sanh khi tai tiếp xúc với mọi âm thanh (thanh trần).
Ví dụ: khi tai nghe âm thanh của tiếng nước chảy róc rách và tiếng mưa rơi rào rào...
3. Tỷ thức: Sự nhận biết, phân biệt của cơ quan khứu giác. Sự nhận biết, phân biệt này phát sanh khi mũi tiếp xúc với các mùi hương (hương trần).
Ví dụ: Mũi phân biệt mùi thơm dịu của hoa Nhài với mùi thơm hắc của hoa sữa...
4. Thiệt thức: Sự nhận biết, phân biệt của cơ quan vị giác. Sự nhận biết, phân biệt này phát sanh khi lưỡi tiếp xúc với các mùi vị (vị trần).
VD: Lưỡi khi tiếp xúc với muối vị mặn, còn với ớt vị cay...
5. Thân thức: Sự nhận biết, phân biệt của cơ quan xúc giác. Sự nhận biết, phân biệt này phát sanh khi thân thể tiếp xúc, va chạm các vật chất (xúc trần).
VD: Tay sờ vào nước thì mát và cảm giác ướt, khi tay sờ vào cát cảm giác chặt, sát và nặng...
6. Ý thức: Sự nhận biết, phân biệt của cơ quan tư duy. Sự nhận biết, phân biệt này phát sanh khi tâm ý hồi tưởng, suy tư lại những cảnh tượng, sự việc... mà ngũ thức trước đó đã tiếp xúc với thân tâm, trần cảnh.
ngã chấp
(我執) Phạm: Àtma-gràha. Cũng gọi Nhân chấp, Sinh chấp. Cố chấp có thực ngã. Thể của chúng sinh chỉ do 5 uẩn giả hợp mà thành, nếu chấp có thực ngã chủ tể tồn tại mà sinh ra vọng tưởng phân biệt ta và của ta, thì gọi là Ngã chấp. Luận Câu xá quyển 29 cho rằng Ngã chấp có 5 lỗi: 1. Khởi ngã kiến và hữu tình kiến thì rơi vào ác kiến. 2. Giống với các ngoại đạo. 3. Cũng như vượt đường mà đi. 4. Đối với tính không, tâm chẳng ngộ nhập, không sinh tịnh tín, không thể an trụ, chẳng được giải thoát. 5. Thánh pháp không thể thanh tịnh. Tiểu thừa xem Ngã chấp là gốc của muôn điều ác, là căn nguyên của tất cả sai lầm và phiền não. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu cũng nói: Phiền não chướng có rất nhiều phẩm loại, nhưng tựu trung đều lấy Ngã chấp làm gốc mà sinh khởi; nếu chẳng chấp ngã thì không có phiền não. Theo luận Thành duy thức quyển 1, Ngã chấp có thể được chia làm 2 loại là : 1. Câu sinh ngã chấp: Ngã chấp bẩm sinh, tức là do sức nội nhân huân tập hư vọng từ vô thủy đến nay, sinh ra đã có, không cần phải học hỏi, tập tành, nên gọi là Câu sinh. 2. Phân biệt ngã chấp: Ngã chấp thuộc về tính hậu thiên tức là do sức tác động của ngoại cảnh mà phát sinh, không cùng có 1 lúc với thân, nhưng phải học hỏi, tập quen và phân biệt mới phát khởi; cho nên gọi là Phân biệt ngã chấp. Phân biệt ngã chấp thường sinh ra tác dụng phát nghiệp, còn Câu sinh ngã chấp thì hay khởi tác dụng nhuận sinh, cả 2 đều có khả năng làm não loạn thân tâm chúng sinh, khiến cho họ cứ mãi phải sinh tử luân hồi. [X. phẩm Phá chấp ngã trong luận Câu xá Q.30; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng phần cuối]. (xt. Nhị Chấp, Ngã).
tịch diệt
(寂滅) Phạm: Vyupazama. Pàli:Vùpasama. Gọi tắt: Diệt. Vượt thoát sinh tử, tiến vào cảnh giới vắng lặng, vô vi. Cảnh giới này xa lìa cõi mê hoặc, được an vui, nên gọi là Tịch diệt vi lạc. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 23 (Đại 2, 672 trung) nói: Tất cả hành vô thường Có sinh ắt có diệt Chẳng sinh thì chẳng diệt Diệt này là vui nhất. [X. kinh Tạp a hàm Q.22; kinh Niết bàn Q.10 (bản Bắc); luận Du già sư địa Q.50; luận Đại trí độ Q.94]. (xt. Niết Bàn).
diệu giác
(妙覺) Một trong 52 giai vị, một trong 42 giai vị tu hành của hàng Bồ tát Đại thừa. Chỉ cho quả Phật rốt ráo giác hạnh viên mãn; bởi thế Diệu giác cũng là tên khác của quả Phật. Còn gọi là Diệu giác địa, biểu hiện cảnh giới lí tưởng cùng tột. Bồ tát ở giai vị Đẳng giác đoạn trừ một phẩm vô minh cuối cùng mà được vào giai vị Diệu giác. Ở giai vị này Bồ tát đã dứt sạch tất cả phiền não, trí tuệ viên mãn vi diệu, đã giác ngộ lí Niết bàn.Khi phân tích sự sai khác giữa giai vị Diệu giác của Biệt giáo và Viên giáo, Thiên thai tứ giáo nghi cho rằng, vị Diệu giác của Biệt giáo hiện báo thân viên mãn, ngồi ở tòa Đại bảo hoa vương dưới cây bồ đề thất bảo trong thế giới Liên hoa tạng, vì các Bồ tát độn căn mà quay bánh xe pháp vô lượng tứ đế. Còn vị Diệu giác của Viên giáo thì thành tựu pháp thân thanh tịnh, ở trong cõi Thường tịch quang, lấy hư không làm tòa ngồi. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng phẩm Hiền thánh học quán; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; Tứ giáo nghi Q.5, Q.6; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 hạ, Q.5 thượng; Đại thừa tứ luận huyền nghĩa Q.2].
thập địa
(十地) Cũng gọi Thập trụ. Chỉ cho 10 địa vị. Địa, Phạm: Bhùmi. Hán dịch: Trú xứ, trụ trì, sinh thành. Tức trụ ở địa vị mình để duy trì pháp, nuôi dưỡng pháp khiến sinh ra quả. Trong các kinh luận nêu tên của Thập địa gồm 5 loại:I. Thập Địa Chung Cho Tam Thừa. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Đại phẩm bát nhã quyển 6, 17, vì Thập địa này chung cho cả Tam thừa, nên gọi là Tam thừa cộng thập địa, hoặc Cộng thập địa, Cộng địa. Tông Thiên thai gọi là Thông giáo thập địa. Trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 hạ và Ma ha chỉ quán quyển 6 thượng, ngài Trí khải giải thích ý nghĩa của Thập địa này như sau: 1. Can tuệ địa (Phạm: Zukla-vidar= zanà-bhùmi), cũng gọi Quá diệt tịnh địa, Tịch nhiên tạp kiến hiện nhập địa, Siêu tịnh quán địa, Kiến tịnh địa, Tịnh quán địa. Nghĩa là địa vị này chỉ có tuệ chứ chưa có định, tương đương với giai vị Tam hiền của Thanh văn và Giác vị của Bồ tát từ Sơ phát tâm cho đến trước khi được Thuận nhẫn. 2. Tính địa (Phạm: Gotra-bhùmi), cũng gọi Chủng tính địa, Chủng địa. Tức địa vị tương đương với giai vị Tứ thiện căn của Thanh văn và giai vị Thuận nhẫn của Bồ tát, tuy đắm trước thực tướng các pháp, nhưng không sinh tà kiến, đầy đủ trí tuệ và thiền định. 3. Bát nhân địa (Phạm: Awỉamakabhùmi), cũng gọi Đệ bát địa, Bát địa. Nhân nghĩa là nhẫn. Tương đương với 15 tâm kiến đạo của Thanh văn và vô sinh pháp nhẫn của Bồ tát. 4. Kiến địa (phạm: Durzana-bhùmi), cũng gọi Cụ kiến địa. Tương đương với quả Tu đà hoàn của Thanh văn và địa vị A bệ bạt trí(bất thoái chuyển) của Bồ tát. 5. Bạc địa (Phạm:Tanù-bhùmi), cũng gọi Nhu nhuyến địa, Vi dục địa. Tức giai vị đã đoạn trừ 1 phẩm trong 9 phẩm Tu hoặc (phiền não) ở cõi Dục, tức quả Tu đà hoàn hoặc Tư đà hàm. Cũng chỉ cho địa vị Bồ tát đã đoạn trừ các phiền não, nhưng vẫn còn các tập khí mỏng(bạc), tức địa vị từ A bệ bạt trí trở lên cho đến trước quả Phật.6. Li dục địa (Phạm:Vìta-ràga-bhùmi), cũng gọi Li tham địa, Diệt dâm nộ si địa. Tức giai vị Thanh văn đoạn hết phiền não cõi Dục được quả A na hàm và địa vị Bồ tát lìa dục được 5 thần thông. 7. Dĩ tác địa (Phạm:Kftàvì-bhùmi), cũng gọi Sở tác biện địa, Dĩ biện địa. Tức địa vị Thanh văn được tận trí, vô sinh trí chứng đắc A la hán quả, hoặc Bồ tát thành tựu Phật địa. 8. Bích chiphật địa: Duyên giác quán xét 12 nhân duyên mà thành đạo. 9. Bồ tát địa: Chỉ cho các địa vị từ Can tuệ địa cho đến Li dục địa đã nói ở trên, hoặc chỉ cho Hoan hỉ địa cho đến Pháp vân địa(từ Sơ phát tâm đến Kim cương tam muội) sẽ nói ở sau, tức địa vị Bồ tát từ Sơ phát tâm đến trước khi thành đạo. 10. Phật địa: Chỉ cho địa vị hoàn toàn đầy đủ các pháp của chư Phật như Nhất thiết chủng trí... Theo luận Đại trí độ quyển 75 thì hàng Bồ tát tam thừa cộng vị này, nương vào trí vô lậu đoạn trừ hết nghi hoặc mà khai ngộ; như ngọn đèn tâm được thắp lên không nhất định làởngọn lửa đầu tiên hay ngọn lửa sau cùng, sự đoạn hoặc của hàng Thập địa cũng thế, không cố định ở bất cứ 1 Địa nào, mà là mỗi địa đều đưa đến quả Phật, vì thế mà ví dụ Thập địa như việc đốt đèn. [X. phẩm Thập trụ trong kinh Quang tán bát nhã Q.7; phẩm Trị địa trong kinh Phóng quang bát nhã Q.4, phẩm Thậm thâm Q.13; phẩm Tu trị trong kinh Đại bát nhã Q.415]. II. Thập Địa Theo Kinh Hoa Nghiêm. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Hoa nghiêm quyển 23 (bản dịch cũ), kinh Hoa nghiêm quyển 34 (bản dịch mới), kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng và kinh Hợp bộ kim quang minh quyển 3. Đó là: 1. Hoan hỉ địa (Phạm: Pramuditàbhùmi), cũng gọi Cực hỉ địa, Hỉ địa, Duyệt dự địa. Tức địa vị rất vui mừng, vì mới thành bậc Thánh. 2. Li cấu địa (Phạm:Vimalà-bhùmi), cũng gọi Vô cấu địa, Tịnh địa. Tức địa vị thanh tịnh, lìa các cấu nhiễm, lìa tâm sai lầm, phá giới và phiền não. 3. Phát quang địa (Phạm:Prabhàkarìbhùmi); cũng gọi Minh địa, Hữu quang địa, Hưng quang địa. Tức địa vị phát ra ánh sáng nhờ tu thiền định, chân lí dần sáng tỏ. 4. Diệm tuệ địa (Phạm: Arciwmatìbhùmi), cũng gọi Diệm địa, Tăng diệu địa, Huy diệu địa. Tức địa vị tăng thêm ánh sáng nhờ lìa bỏ kiến giải phân biệt của 3 địa trên. 5. Nan thắng địa (Phạm: Sudurjayàbhùmi), cũng gọi Cực nan thắng địa. Tức địa vị đã được chính trí xuất thế gian, nương vào phương tiện tự tại mà cứu độ chúng sinh.6. Hiện tiền địa (Phạm: Abhimukhìbhùmi), cũng gọi Hiện tại địa, Mục kiến địa, Mục tiền địa. Địa vị sinh khởi đại trí nhờ nghe Bát nhã ba la mật. 7. Viễn hành địa (Phạm: Dùraôgamà-bhùmi), cũng gọi Thâm hành địa, Thâm nhập địa, Thâm viễn địa, Huyền diệu địa. Tức địa vị tu hành vô tướng, tâm xa lìa thế gian. 8. Bất động địa (Phạm:Acalà-bhùmi), cũng gọi Sắc tự tại địa, Quyết định địa, Vô hành vô khai phát vô tướng trụ, Tịch diệt tịnh địa. Tức địa vị tuyệt đối không bị phiền não làm lay động, nhờ không ngừng sinh khởi trí tuệ vô tướng. 9. Thiện tuệ địa (Phạm:Sàdhumatìbhùmi), cũng gọi Thiện tai ý địa, Thiện căn địa. Tức địa vị trí tuệ được tự tại, Bồ tát dùng sức vô ngại nói pháp, đầy đủ hạnh lợi tha. 10. Pháp vân địa (Phạm: Dharma= meghà-bhùmi), cũng gọi Tác vũ địa. Tức địa vị được đại pháp thân, có năng lực tự tại.Trong Thập nhị trụ của kinh Bồ tát địa trì quyển 9 thì Thập địa tương đương với Hoan hỉ trụ thứ 3 cho đến Tối thượng bồ táttrụthứ 12. Cũng trong kinh này quyển 10 có thuyết Thất địa thì Sơ địa tương đương với Tịnh tâm địa thứ 3, địa thứ 2 cho đến địa thứ 7 tương đương với Hành tích địa thứ 4, địa thứ 8 tương đương với Quyết định địa thứ 5, địa thứ 9 tương đương với Quyết định hành địa thứ 6, địa thứ 10 và Phật địa tương đương với Tất cánh địa thứ 7. Ngoài ra, có thuyết cho rằng Sơ địa tương đương với Kiến đạo (Thông đạt vị), Nhị địa trở lên tương đương với Tu đạo(Tu tập vị), hoặc Thất địa trở về trước là Hữu công dụng địa, Bát địa trở lên là Vô công dụng địa. Hoặc Sơ, Nhị và Tam địa là Tín nhẫn, Tứ, Ngũ và Lục địa là Thuận nhẫn, Thất Bát và Cửu địa là Vô sinh nhẫn, Thập địa là Tịch diệt nhẫn. Lại có thuyết cho rằng 5 địa trước là Vô tướng tu, địa 6, 7, là Vô tướng tu tịnh, địa thứ 8, 9 là Vô tướng tu quả, địa thứ 10 là Vô tướng tu quả thành. Hoặc Sơ địa là Nguyện tịnh, Nhị địa là Giới tịnh, Tam địa là Định tịnh, Tứ, Ngũ, Lục địa là Tăng thượng tuệ, Thất địa trở lên là Thượng thượng xuất sinh tịnh. Nếu gọi các giai vị dưới Thập địa là Tín địa thì Thập địa được gọi chung là Chứng địa. Lại nữa, mỗi địa trong Thập địa đều Còn đối với tông Hoa nghiêm thì trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 9, khi giải thích về Thập địa, cho rằng nói về căn bản thì Thập địa thuộc tính chất quả hải bất khả thuyết; nói theo nội dung giác chứng thì có Li cấu chân như; nói theo giác trí thì có Căn bản trí, Hậu đắc trí và Gia hạnh trí; nói theo quan điểm đoạn phiền nãothìlà xa lìa 2 chướng Phiền não và Sở tri; nói theo quan điểm tự tu hành thì có Tu nguyện hạnh cho đến Thụ vị hạnh; nói theo phương diện thành tựu sở tu thì Sơ địa tu hạnh Tín nhạo, Nhị địa tu hạnh Giới, Tam địa tu hạnh Định, Tứ địa trở lên tu hạnh Tuệ; nói theo quả vị tu hành thì có Chứng vị và A hàm vị; nói theo kí thừa của Thập địa thì Sơ, Nhị, Tam địa là Nhân thiên thừa, Tứ, Ngũ, Lục, Thất địa là Tam thừa, Bát địa trở lên là Nhất thừa, đây là dựa(gửi gắm= kí) vào giai vị để nêu rõ hạnh tu tương đương với 10 Ba la mật; nói theo kí báo của Thập địa thì bao gồm hết Thập vương, từ vua cõi Diêm phù đề cho đến vua cõi trời Ma hê thủ la, nhớ nghĩ Tam bảo, dắt dẫn chúng sinh... Trong tông Chân ngôn cũng có thuyết Thập địa, nhưng kinh Đại nhật chỉ nêu ra địa thứ 8 và địa thứ 10, kinh Kim cương đính cũng chỉ nói địa đầu tiên và địa thứ 10. Như vậy, tông Chân ngôn chỉ viện dẫn các kinh luận của Hiển giáo như Hoa nghiêm, Nhân vương... để thiết lập từng danh mục và nội dung của Thập địa. Thập địa của tông Chân ngôn được chia làm 2 nghĩa sâu, cạn. Về Thập địa theo nghĩa nông cạn thì cũng giống như Thập địa của Hiển giáo đã nói ở trên, còn Thập địa theo nghĩa sâu kín thì qui kết về thực nghĩa của Mật giáo, tức cho rằng giữa Sơ địa và Thập địa hoàn toàn không có cao thấp khác nhau, Sơ địa chính là cực quả, đó là vì Sơ địa có năng lực ngộ được cực quả. Từ Nhị địa trở lên có 3 tâm: Nhập, trụ, xuất; khi vào mà chưa an trụ là Nhập tâm, lúc dừng lâu ở Địa này là Trụ tâm, lúc gần vào địa kế tiếp là Xuất tâm. Luận thành duy thức quyển 9 cho rằng 10 địa này theo thứ tự tu tập 10 Ba la mật(Thập thắng hạnh): Thí, giới, nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã, phương tiện thiện xảo, nguyện, lực và trí, nhờ đó mỗi Địa đều trừ được 10 trọng chướng là Dị sinh tính chướng, Tà hành chướng, Ám độn chướng, Vi tế phiền não hiện hành chướng, Ư hạ thừa bát niết bàn chướng, Thô tướng hiện hành chướng, Tế tướng hiện hành chướng, Vô tướng trung tác gia hạnh chướng, Lợi tha môn trung bất dục hành chướng và Ư chư pháp trung vị đắc tự tại chướng; mỗi Địa đều chứng được 10 chân như là Biến hành chân như, Tối thắng chân như, Thắng lưu chân như, Vô nhiếp thụ chân như, Loại vô biệt chân như, Vô nhiễm tịnh chân như, Pháp vô biệt chân như, Bất tăng giảm chân như, Trí tự tại sở y chân như và Nghiệp tự tại đẳng sở y chân như. Nhờ chuyển 2 phiền não và sở tri chướng này mà chứng được quả Bồ đề, Niết bàn. Trong đó, hàng Bồ tát từ Sơ địa đến Thất địa, tâm hữu lậu và tâm vô lậu xen tạp lẫn nhau, cho nên có chia làm Phần đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử. Hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên chỉ có tâm vô lậu, vì thế là Biến dịch sinh tử. Tông Thiên thai cho rằng Biệt giáo, Viên giáo mỗi giáo đều có giai vị Thập địa, nhưng nói theo quan điểm hàng Bồ tát Sơ địa của Biệt giáo đoạn 1 phẩm Vô minh Thì trí chứng ngang bằng với Sơ trụ của Viên giáo, cho nên nói Sơ địaSơ trụ chứng đạo đồng viên. Do đó, hàng Bồ tát Biệt giáo từ Sơ địa trở lên đều có khả năng trở thành hành nhân của Viên giáo nhưng đây chỉ là mặt lí thuyết, chứ trên thực tế không có người nào tu thành, vì thế nói là Hữu giáo vô nhân địa trở lên thì theo thứ tự nêu bày tổng đức của Sơ địa, đồng thời giải thích rõ 2 nghĩa cạn, sâu. Vì để biểu trưng quả đức của Đại Nhật Như lai nên phối hợp 16 vị Đại Bồ tát thuộc Tứ Phật Tứ thân cận(tức 4 đức Phật mỗi vị có 4 Bồ tát thân cận) với Thập địa. Nếu lại hiểu theo 2 mặt Bản hữu (vốn có sẵn) và Tu sinh(do tu hành mới có) thì Thập địa thuộc Bản hữu vô cấu ngầm chỉ cho tâm bồ đề thanh tịnh vô hạn lượng vốn có sẵn của tất cả chúng sinh, vì thế giữa Thập địa không có cao thấp khác nhau; còn Thập địa thuộc Tu sinh hiển đắc là nương vào hạnh Tam mật để đoạn trừ 3 thứ vọng chấp mà hiển bày Thập địa sẵn có; bởi thế, muốn đến được quả Phật,còn phải đoạn một chướng. Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản cho rằng nếu hành giả đạt được tín tâm tha lực, tức dốc lòng tin vào năng lực cứu độ của Phật A di đà, thì chắc chắn được thành Phật, bấy giờ trong tâm tràn đầy niềm vui mừng, nên gọi là Hoan hỉ địa. Cứ theo luận Tịnh độ của ngài Thế thân, vì cứu độ chúng sinh nên Bồ tát thị hiện ra nhiều hình tướng, giai vị này gọi là Giáo hóa địa. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan cho rằng Giáo hóa địa là giai vị của hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên, Bồ tát sinh về Tịnh độ và thành Phật, lại nương vào tác dụng Hoàn tướng hồi hướng mà trở lại cõi mê để giáo hóa cứu độ chúng sinh. Vì chữ địa trong Giáo hóa địa có nghĩa là nơi chốn, tức là cõi mê, cho nên giáo hóa địa là nơi Bồ tát giáo hóa độ sinh. Ngoài ra, phẩm Hiền thánh giác quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng có thuyết 42 Hiền thánh, trong đó, bậc Hiền thánh thứ 31 đến 40 tương đương với Thập địa. Đó là: 1. Cưu ma la già (Nghịch lưu hoan hỉ địa). 2. Tu a già nhất ba(Đạo lưu li cấu địa). 3. Tu na ca(Lưu chiếu minh địa). 4. Tu đà hoàn(Quán minh viêm địa). 5. Tư đà hàm(Độ chướng nan thắng địa). 6. A na hàm(Bạc lưu hiện tiền địa). 7. A la hán(Quá tam hữu viễn hành địa). 8. A ni la hán(Biến hóa sinh bất động địa).9. A na ha(Tuệ quang diệu thiện địa). 10. A ha la phất(Minh hành túc pháp vân địa). [X. kinh Bồ tát thập trụ; kinh Giải thâm mật Q.4; kinh Đại bảo tích Q.115; luận Đại tì bà sa Q.1; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.13]. (xt. Thập Địa Đoạn Chướng Chứng Chân, Nhân Phần Quả Phần, Bồ Tát Giai Vị). III. Thập Địa Của Thanh Văn. Chỉ cho giai vị tu hành của hàng Thanh văn, đó là: 1. Thụ tam qui địa (cũng gọi Tam qui hành vị): Giai vị vào Phật pháp, lãnh nhận và thực hành 3 pháp qui y. 2. Tín địa(cũng gọi Tùy tín hành địa): Hàng độn căn trong giai vị Tư lương thuộc Ngoại phàm. 3. Tín pháp địa(cũng gọi Tùy pháp hành địa): Tức chỉ cho hàng lợi căn trong giai vị Tư lương. 4. Nội phàm phu địa(cũng gọi Thiện phàm phu địa): Tức giai vị thuộc Gia hành tứ thiện căn của Nội phàm. 5. Học tín giới địa(cũng gọi Học giới địa): Chỉ cho bậc tin hiểu từ Kiến đạo trở lên.6. Bát nhân địa(cũng gọi Đệ bát nhân địa): Chỉ cho giai vị của 15 tâm kiến đạo, tức Tu đà hoàn hướng. 7. Tu đà hoàn địa: Chỉ cho Sơ quả. 8. Tư đà hàm địa: Chỉ cho Đệ nhị quả. 9. A na hàm địa: Chỉ cho Đệ tam quả. 10. A la hán: Tức Đệ tứ quả. [X. kinh Đại thừa đồng tính Q.hạ; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3, Thích Tịnh độ nhị tạng nghĩa Q.7]. IV. Thập Địa Bích Chi Phật. Cũng gọi Chiphật thập địa, Duyên giác thập địa, Độc giác thập địa. Chỉ cho 10 giai vị tu hành của Bích chi phật, đó là: 1. Tích hành cụ túc địa(cũng gọi Chúng thiện tư địa, Phương tiện cụ túc địa): Tức giai vị tu khổ hạnh trong 4 đời 100 kiếp ở quá khứ.2. Tự giác thậm thâm thập nhị nhân duyên địa(cũng gọi Tự giác thâm duyên khởi địa): Giai vị không nhờ thầy dạy mà tự biết lí 12 nhân duyên. 3. Giác liễu tứ thánh đế địa(cũng gọi Giác tứ thánh đế địa): Tức giai vị biết rõ lí của 4 Thánh đế. 4. Thậm thâm lợi trí địa (cũng gọi Thắng thâm lợi trí địa): Tức giai vị phát khởi trí sâu xa. 5. Bát thánh đạo địa(cũng gọi Bát thánh chi đạo địa): Tức giai vị tu 8 chính đạo. 6. Giác liễu pháp giới hư không giới chúng sinh giới địa(cũng gọi Tri pháp giới hư không giới chúng sinh giới địa, Giác liễu pháp giới đẳng địa): Tức giai vị biết rõ tướng của pháp giới hư không giới chúng sinh giới.7. Chứng tịch diệt địa(cũng gọi Chứng diệt địa): Tức giai vị chứng Niết bàn vắng lặng.8. Lục thông địa(cũng gọi Lục thông tính địa, Thông địa): Tức giai vị chứng được 6 thần thông lậu tận. 9. Triệt bí mật địa(cũng gọi Nhập vi diệu địa, Triệt vi mật địa): Tức giai vị thông suốt lí duyên khởi sâu kín. 10. Tập khí tiệm bạc địa(cũng gọi Tập khí bạc địa): Tức giai vị đoạn trừ tập khí dần dần đến chỗ nhỏ nhiệm mỏng manh. [X. Đại thừa đồng tín Q.hạ; kinh Chứng khế Đại thừa Q.hạ; luận Thập trụ tâm 5]. V. Thập Địa Của Phật. Tức chỉ cho 10 thứ công đức của Phật địa. Đó là: 1. Thậm thâm nan tri quảng minh trí đức địa: Cũng gọi Tối thắng thậm thâm nan thức tì phú la quang minh trí tác địa. 2. Thanh tịnh thân phân uy nghiêm bất tư nghị minh đức địa. 3. Thiện minh nguyệt chàng bảo tướng hải tạng địa: Cũng gọi Diệu quang minh nguyệt chàng bảo xí hải tạng địa. 4. Tinh diệu kim quang công đức thần thông trí đức địa: Cũng gọi Tịnh diệu kim quang công đức thần thông trí đức tác địa. 5. Hỏa luân uy tạng minh đức địa: Cũng gọi Quang minh vị trường uy tạng chiếu tác địa. 6. Hư không nội thanh tịnh vô cấu diệm quang khai tướng địa: Cũng gọi Không trung thắng tịnh vô cấu trì cự khai phu tác địa. 7. Quảng thắng pháp giới tạng minh giới địa: Cũng gọi Thắng quảng pháp giới tạng quang minh khởi địa. 8. Tối tịnh phổ giác trí tạng năng tịnh vô cấu biến vô ngại trí thông địa: Cũng gọi Tối thắng diệu tịnh Phật trí tạng quang minh biến chiếu thanh tịnh chư chướng trí thông địa. 9. Vô biên ức trang nghiêm hồi hướng năng chiếu minh địa: Cũng gọi Vô biên trang nghiêm câu chi nguyện Tì lô giá na quang tác địa. 10. Tì lô giá na trí hải tạng địa: Cũng gọi Trí hải bồi lô giá na địa. Kinh Đại thừa đồng tính quyển hạ (Đại 16, 649 trung) nói: Công đức Thập địa của Như lai không thể nghĩ bàn. Này Thiện trượng phu! Sơ địa của Phật, tất cả tập khí nhỏ nhiệm đã bị diệt hết, được tự tại với tất cả pháp. Đệ nhị địa, chuyển pháp luân nói pháp sâu xa. Đệ tam địa, giảng nói các giới của Thanh văn, nói rõ Tam thừa. Đệ từ địa, giảng nói 8 vạn 4 nghìn pháp môn, hàng phục 4 thứ ma. Đệ ngũ địa, như pháp hàng phục các ngoại đạo, hàng phục ngạo mạn và chúng số. Đệ lục địa, chỉ dạy vô lượng chúng sinh được 6 thần thông, hiển hiện 6 thứ đại thần thông. Nghĩa là hiện vô biên cõi Phật thanh tịnh công đức trang nghiêm, hiển hiện vô biên Bồ tát đại chúng vây quanh, hiển hiện vô biên cõi Phật rộng lớn, hiển hiện vô biên tự thể cõi Phật, hiển hiện vô biên hình tướng từ cõi trời Đâu suất xuống trần gian gá thai cho đến lúc pháp diệt trong các cõi Phật, thị hiện vô biên thứ thần thông. Đệ thất địa vì các Bồ tát giảng nói như thực 7 phần Bồ đề vô sở hữu, cũng vô sở trước. Đệ bát địa, trao cho tất cả Bồ tát 4 thứ thụ kí A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Đệ cửu địa, vì các Bồ tát hiện các phương tiện thiện xảo. Đệ thập địa, vì các Bồ tát giảng nói tất cả các pháp vô sở hữu, lại nói cho biết tất cả các pháp xưa nay vốn là đại Niết bàn vắng lặng. Thập địa của Thanh văn, Thập địa của Bích chiphật và thập địa của Phật nói trên đây đều có xuất xứ từ kinh Đại thừa đồng tính quyển hạ, hợp cả 3 với Thập địa của Bồ tát mà gọi chung là Tứ thừa Thập địa. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.6].
Sơ trụ
tức là Phát tâm trụ, địa vị đầu tiên trong Thập trụ của hàng Bồ Tát. Gồm có: 1. Phát tâm trụ, 2. Trì địa trụ, 3. Tu hành trụ, 4. Sanh quý trụ, 5. Phương tiện cụ túc trụ, 6. Chánh tâm trụ, 7. Bất thối trụ, 8. Đồng chân trụ, 9. Pháp vương tử trụ, 10. Quán đỉnh trụ.
Cảnh giới
境界; C: jìngjiè; J: kyōkai;
Có các nghĩa sau: 1. Phạm vi, tình trạng, quan điểm (s: visaya, gocara); 2. Đối tượng nhận thức được bởi các giác quan và ý thức. Lĩnh vực của nhận thức (s: visaya, jñeya); 3. Lĩnh vực, trạng thái, tình hình; 4. Cảm giác, cảm nhận, tâm trạng. Trạng thái của tâm thức, điều kiện, tình trạng, hoàn cảnh; 5. Trạng thái kết quả mà mỗi chúng sinh nhận chịu tương ứng với hành động của họ: »quả«, »quả báo«; 6. Lĩnh vực chuyên môn, phạm vi của một người
Tri kiến

Là sự thấy biết, sự hiểu biết, tương đương với một thuật ngữ Phật học khác là “kiến giải”. Tri kiến là những kiến giải có được do năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, thu thập kinh nghiệm từ cuộc sống, từ mọi hiện tượng trong vũ trụ, cộng với sự suy nghĩ, phân biệt, phán đoán v.v... của ý thức. Tùy theo phàm phu hay thánh nhân mà tri kiến có trình độ thấp cao khác nhau: tri kiến của người thường không giống với tri kiến của bậc Thanh-văn; tri kiến của Thanh-văn không giống như tri kiến của chư vị Bồ-tát v.v...; và ngay cả tri kiến giữa những kẻ phàm phu cũng khác nhau nhiều. Vì vậy, tri kiến không giống với “trí tuệ” (tức trí bát nhã) – là trí không phân biệt, xa lìa sự suy nghĩ, phán đoán của tâm thức. Và chỉ có tri kiến của Phật (cũng gọi là “tri kiến ba la mật”) mới gọi được là trí tuệ, hay nói cách khác, chỉ có ở địa vị Phật thì tri kiến với trí tuệ mới là một. Kinh Pháp Hoa nói, đức Phật ra đời là vì một nguyên nhân vô cùng quan trọng, đó là dẫn dắt chúng sinh nhập vào tri kiến Phật. Câu nói đó có nghĩa là, đức Phật hóa độ cho chúng sinh chứng đắc các quả vị Thanh-văn, Duyên-giác, thậm chí là Bồ-tát, đều chỉ là phương tiện mà thôi, chứ cái quả vị cứu cánh phải là Phật quả, tức là quả vị giác ngộ trọn vẹn, cao tột, duy nhất; đó là tri kiến của Như Lai, thứ trí tuệ siêu việt, vượt khỏi mọi khái niệm, mọi suy tư, phân biệt của tâm thức.