XVIII.1. Bố thí

Gồm có bảy phần: Lời dẫn, Bỏn xẻn và dối trá, Bố thí tài vật, Bố thí giáo pháp, Xét về sự bố thí, Phúc điền, Tương đối.

XVIII.1.1. Lời dẫn

Bố thí là nền tảng của muôn hạnh, được nêu đầu tiên trong lục độ[33] và được đề cập trước nhất trong tứ nhiếp pháp[34]. Cho nên, Cấp Cô Độc trải vàng lót vườn mà không suy tính, vua Tu-đạt-noa bố thí voi quý mà chẳng hối tiếc. Lại vì giải cứu các nguy ách khổ nạn mà quên cả thân mình, [88b] nên bồ-tát đã gieo mình để cứu hổ đói, vua Thi-tì lóc thịt đùi để thay thức ăn cho chim ưng… Huống gì đất nước, vợ con… đâu đáng lưu tâm! Tiền bạc, của cải, nào đáng để lòng!

Sách thế gian còn ghi: “Nhường cơm, sẻ áo, quên mình vì người, ngựa xe, y phục, đồng cam cộng khổ”. Đó đều là những tấm gương trọng nghĩa, khinh tài, chuộng hiền, quý sĩ.

Vả lại, của cải vốn vô thường, đâu liên quan gì đến con người mà phải nhọc lòng cất chứa, để làm gì? Lại còn bị bốn nỗi sợ hãi[35] dày vò, năm nhà tranh đoạt[36], người trí nào mà ham thích? Gần đây thấy có kẻ ngu tham tiếc tài sản, không chịu buông bỏ mà phải mất thân mạng. Chỉ vì tham sống, sợ chết mà khiến cho vợ con bất hòa, anh em tranh đấu, quyến thuộc chia lìa, bạn bè xa lánh. Do nhân bỏn xẻn, duyên bỏn xẻn, cách thức bỏn xẻn, nghiệp bỏn xẻn, nên trái với tâm của bồ-tát, làm chướng ngại đạo từ bi, không khởi tâm cứu hộ, mà chỉ khởi ý tổn hại mà thôi. Nguyên nhân của những tội lỗi ấy chính là tham lam và bỏn xẻn.

XVIII.1.2. Bỏn xẻn và dối trá

Trong kinh Bồ-tát xử thai, Đức Phật nói kệ:

Người phần nhiều ngu si,
Keo kiệt chẳng bố thí,
Cất chứa nghìn vạn ức,
Cho là vật của ta.
Đến lúc sắp mạng chung,
Nhìn thấy quỷ thần dữ,
Gió lạnh xẻ thân này,
Mạng sống không còn nữa.
Lòng tham có thiện ác,
Thụ báo rất khổ đau,
Sắp đến nơi chịu tội,
Hối hận làm sao kịp.

Trong kinh Tát-già Ni-kiền tử có bài kệ:

Người tham cất chứa nhiều,
Chẳng bao giờ biết đủ,
Tâm điên đảo vô minh,
Luôn ôm lòng hại người.
Đời này bị oán ghét,
Chết về chốn khổ đau,
Vì vậy, người có trí,
Phải nên thường biết đủ.
Tiếc của, chẳng bố thí,
Cất giữ sợ người hay,
Chết rồi, đi tay không,
Chịu khổ trong loài quỷ.
Nào đói, khát, nóng, lạnh,
Lo buồn thường thiêu đốt,
Người trí không cất chứa,
Để dẹp lòng san tham.

[88c] Trong kinh Phân biệt nghiệp báo có bài kệ:

Hạnh tu bố thí khắp,
Nóng nảy, nhiều sân giận,
Không nương vào chính niệm,
Sau làm thân rồng dữ.

Kinh Bồ-tát bản hạnh ghi: “Nếu thấy người đến xin mà lộ vẻ bực tức, xua đuổi, nên biết người này đang mở cửa ngạ quỷ”.

Kinh Đại tập ghi: “Có bốn trường hợp làm chướng ngại Đại thừa. Đó là:

1. Không thích bố thí
2. Bố thí rồi hối hận
3. Bố thí xong, xét lỗi người
4. Lòng không nghĩ đến sự khổ mà bố thí.

Lại có bốn trường hợp:

1. Bố thí vì tham dục
2. Bố thí vì sân giận
3. Bố thí vì ngu si
4. Bố thí vì sợ hãi.

Lại có bốn trường hợp khác:

1. Không hết lòng bố thí
2. Không tự tay bố thí
3. Không trực tiếp bố thí
4. Xem thường mà bố thí”.

Kinh Ưu-bà-tắc giới ghi: “Đức Phật dạy: Bồ-tát bố thí thì xa lìa được bốn điều ác: phá giới; nghi ngờ; tà kiến; bỏn xẻn”.

Lại xa lìa năm trường hợp:

1. Khi bố thí, không phân biệt người có đức hay không có đức
2. Khi bố thí không phân biệt người tốt hay người xấu
3. Khi bố thí, không phân biệt giai cấp
4. Khi bố thí, không xem thường người xin
5. Khi bố thí, không dùng lời ác mắng chửi.

Bố thí không được quả báo tốt đẹp, có ba nguyên nhân: trước phát tâm cho nhiều, nhưng sau cho ít; chọn đồ dở cho người; bố thí rồi, sinh lòng hối hận.

Có tám nguyên nhân khiến bố thí không được quả báo cao tột:

1. Bố thí rồi, thấy lỗi của người nhận
2. Khi bố thí, tâm không bình đẳng
3. Bố thí rồi, mong người nhận đáp lại
4. Bố thí rồi, thích tự khen mình
5. Trước nói không cho, sau lại đem cho
6. Bố thí rồi, dùng lời ác mắng chửi
7. Bố thí rồi, mong trả lại gấp đôi
8. Bố thí rồi, sinh tâm nghi ngờ.

Người có tâm bố thí như vậy thì không được gặp Phật và các bậc hiền thánh. Nếu bố thí đầy đủ sắc, hương, vị, xúc… đối với mọi người một cách bình đẳng, mới được gọi là bố thí thanh tịnh.

Nếu người nào bố thí chỉ vì phúc báo, không thích bố thí thường xuyên, thì đời sau được quả báo tốt đẹp, nhưng không thích làm việc bố thí.

Nếu người nào bố thí rồi hối hận, hoặc cướp đoạt tài vật của người để đem bố thí thì đời sau tuy có của cải, nhưng thường bị mất, không cất giữ được.

Nếu người nào bức bách nhiễu loạn làm buồn lòng họ hàng để có được tài vật đem bố thí, thì đời sau tuy được quả báo tốt đẹp, nhưng thân thường mang bệnh tật, đau khổ.

[89a] Nếu người nào trước đây không lo phụng dưỡng cha mẹ, não loạn vợ con, tôi tớ, gắng gượng mà bố thí, thì đó là người ác, là giả danh bố thí, không đúng nghĩa bố thí. Người bố thí như thế là không có lòng thương yêu, không biết báo đáp công ơn, thì đời sau tuy có nhiều tiền của, nhưng thường bị mất, không cất giữ được, cũng không thể sử dụng được, thân mang nhiều bệnh tật, đau khổ.

Kinh Ưu-bà-tắc giới ghi: “Người không có của cải, tự nói không có của cải, như vậy là không đúng. Vì sao? Vì ai ai cũng có cỏ cây, sông nước. Dù là bậc đế vương nhưng chưa hẳn có thể bố thí, tuy là người nghèo cùng nhưng vẫn bố thí được. Vì sao? Người nghèo cùng cũng có phần cơm, ăn rồi rửa bát, nếu biết đem nước rửa bát đó thí cho loài cần dùng, thì cũng được phúc đức; hoặc lấy bột cám thí cho loài kiến, cũng được phúc báo vô lượng. Người nghèo khó nhất thiên hạ, cũng có chút bột cám này! Người nghèo cùng cực, ai mà không có quần áo để mặc! Nếu có quần áo, há lại không có một sợi chỉ, một cây kim để cho người băng bó vết thương, hoặc một mảnh vải nhỏ bằng đầu ngón tay để làm tim đèn ư?”.

Này thiện nam tử! Người trong thiên hạ hiện tại dẫu nghèo cùng thì vẫn có thân này. Nếu đã có thân, khi thấy người làm việc tốt, mình cũng nên đến giúp họ quét dọn, tưới tẩm, làm những việc nặng nhọc…, thì cũng được quả báo tốt đẹp. Cho nên, luận Thành thật ghi: “Phúc báo quét đất già-lam khắp cõi Diêm-phù, không bằng quét quanh tháp Phật một khoảng chỉ nhỏ bằng một bàn tay”.

Luật Tứ phần[37] và luận Di-sa-tắc ghi: “Thuở xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, trong thành Bạt-đề có một cư sĩ nổi danh tên là Mân-trà. Ông có nhiều vàng bạc, của cải, lại có quyền lực lớn, nên mọi người cần gì ông đều cung cấp đầy đủ.

Trong nhà ông có một lỗ hổng to bằng trục bánh xe, lúa gạo tự nhiên tuôn ra không ngớt. Vợ ông lấy tám thăng gạo nấu cơm cho bốn bộ binh và những người từ khắp nơi đến ăn, ăn hoài mà vẫn không hết. Con trai ông lấy nghìn lượng vàng cho bốn bộ binh và người từ bốn phương đến xin, ban phát theo nhu cầu của họ mà vẫn không hết. Người con dâu lấy một thỏi hương thoa, đem cho bốn bộ binh và người từ khắp nơi đến xin, cung cấp đầy đủ theo sự mong cầu của họ mà hương vẫn không hết.

Người tớ trai lấy cày ra cày bảy luống mà lúa càng lúc càng nhiều. Người tớ gái lấy tám thăng lúa nấu cho người và ngựa của bốn bộ binh ăn, ăn hoài mà vẫn không hết. Người sang kẻ hèn trong nhà tranh nhau, ai cũng cho đó là phúc lực của mình. Mân-trà đến thưa hỏi Phật:

– Đó là nhờ phúc lực của ai?

Đức Phật bảo:

– Là phúc lực của tất cả những người trong nhà.

Đức Phật lại bảo:

– Thuở xưa, trong thành Vương Xá, có một người thợ dệt. Ông ta có một người vợ, một con trai, một con dâu, một tôi trai và một tớ gái. Một hôm, cả nhà đang dùng cơm, có một vị bích-chi phật đến khất thực. Lúc ấy, ai cũng muốn dâng cúng phần cơm của mình. [89b] Vị bích-chi phật nói: ‘Chỉ cần mỗi vị bớt đi một chút, thì tôi được no mà các vị cũng không thiếu’. Cả nhà cùng nghe theo. Thụ trai xong, vị bích-chi phật biến hiện ra các loại thần biến[38] ở trên hư không rồi ra đi. Nhờ phúc cúng dường này, thời gian sau, cả nhà người thợ dệt mạng chung, đều sinh lên cõi trời Tứ Thiên Vương[39] cho đến cõi Tha Hóa Tự Tại[40], lên xuống bảy lần, phúc đức còn lại sinh ở cõi này, quả báo như nhau”.

Kinh Tịnh nghiệp chướng ghi: “Nếu bồ-tát quán bỏn xẻn và bố thí chẳng phải hai tướng, trì giới và phá giới, sân nhuế và nhẫn nhục, giải đãi và tinh tiến, tán loạn và thiền định, ngu si và trí tuệ… chẳng phải hai tướng, đây gọi là dứt trừ các nghiệp chướng”.

XVIII.1.3. Bố thí tài vật

Kinh Đại bảo tích ghi: “Bố thí tài vật có năm cách:

1. Bố thí với lòng thành
2. Bố thí với lòng tin
3. Bố thí đúng lúc
3. Tự tay bố thí
4. Bố thí đúng pháp”.

Luận Bồ-tát địa trì [41] ghi: “Tất cả tài vật để bố thí, nói sơ lược có hai loại là nội vật và ngoại vật. Bồ-tát xả thân bố thí gọi là nội thí. Nếu bồ-tát vì những chúng sinh ăn đồ mửa, ăn rồi mửa ra để bố thí, gọi là nội ngoại thí. Ngoài hai trường hợp trên gọi là ngoại thí”.

Bồ-tát nội thí có hai cách:

1. Tùy theo sở thích của chúng sinh muốn nương vào năng lực của các ngài để được an ổn, thì bồ-tát xả thân để bố thí. Thí như có người vì miếng cơm, manh áo mà phải lệ thuộc vào người, làm tôi tớ cho họ. Cũng vậy, bồ-tát không vì lợi dưỡng mà chỉ vì Vô thượng bồ-đề, vì an lạc cho chúng sinh, vì viên mãn bố thí ba-la-mật mà tùy theo sở thích của chúng sinh muốn nương vào năng lực của các ngài để được an ổn, thì bồ-tát xả thân để bố thí.

2. Tùy theo nhu cầu của chúng sinh, cần những bộ phận trên thân của các ngài, bồ-tát đều bố thí tất cả.

Bồ-tát ngoại thí cũng có hai cách:

1. Tùy theo những đồ vật mà chúng sinh mong cầu, thọ dụng, ưa thích, bồ-tát đều vui vẻ bố thí.

2. Vì phụng sự chúng sinh, bồ-tát sẵn lòng bố thí tất cả.

Nội vật và ngoại vật mà bồ-tát đem bố thí tuy có khác nhau, nhưng cách bố thí thì bình đẳng đối với tất cả chúng sinh. Bồ-tát có lúc bố thí, có lúc không bố thí. Nếu làm cho chúng sinh vui mừng mà không an lạc, hoặc không vui mừng và không an lạc, thì bồ-tát không bố thí. Nếu làm cho chúng sinh không vui mừng mà an lạc, hoặc vừa an lạc vừa vui mừng, thì bồ-tát bố thí tất cả.

Kinh Đại tập ghi: “Bồ-tát có bốn cách bố thí để đầy đủ trí tuệ. Đó là:

1. Dâng cúng pháp sư giấy, bút, mực… để chép kinh, viết sách.
2. Dâng cúng pháp sư tòa ngồi cao đẹp được trang trí bằng các thứ quý báu.
3. Dâng cúng pháp sư các vật cúng dường cần thiết.
4. Khen ngợi pháp sư với tâm thành kính”.

Kinh Ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu bố thí y phục, thì được thân hình xinh đẹp. [89c] Nếu bố thí món ăn, thì được sức mạnh vô biên. Nếu bố thí đèn sáng, thì được pháp nhãn[42] thanh tịnh. Nếu bố thí xe cộ, thì thân thường an lạc. Nếu bố thí phòng nhà, thì được đầy đủ mọi thứ cần dùng.

Nếu bố thí vật thanh tịnh vi diệu, sau sẽ được thân hình xinh đẹp, ai cũng thích nhìn, tiếng tốt vang xa, những điều mong cầu đều toại nguyện, sinh vào giai cấp cao quý. Đây không gọi là người ác.

Nếu người nào sắm sửa các đồ dùng tốt đẹp để trang nghiêm tự thân, như y phục… sắm xong rất thích mà chưa dùng, lại đem bố thí cho người, thì đời sau sẽ được cây như ý[43].

Nếu người nào hàng ngày lập nguyện: trước bố thí thức ăn cho người, sau đó mới ăn. Như trái lời nguyện này tức là trộm vật của Phật[44], thì cảm thấy hổ thẹn. Như không trái phạm thì đó là nhân duyên để thành tựu trí tuệ cao siêu. Đây là cách bố thí cao quý nhất trong các cách bố thí. Người này cũng được gọi là thí chủ lớn nhất.

Nếu người nào bố thí y phục, thức ăn… cho vợ con, tôi trai, tớ gái với lòng thương yêu, vui vẻ, thì đời sau được phúc đức vô lượng. Nếu thấy nhiều chim, chuột cắn phá lúa gạo trong kho hay trên đồng ruộng, thường khởi tâm thương xót, nghĩ rằng: “Nhờ lúa gạo của ta mà chúng được sống”. Do suy nghĩ như vậy, vị ấy vui vẻ, không có ý giết hại chúng. Nên biết, người này được phúc báo vô lượng”.

Kinh Đại bồ-tát tạng ghi: “Vì chứng đắc Vô thượng bồ-đề, bồ-tát thực hành bố thí ba-la-mật, nên được mười điều lợi ích đáng khen ngợi. Đó là:

1. Nhờ bố thí năm món dục tịnh diệu[45], Đại bồ-tát được đầy đủ tất cả giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến thanh tịnh.

2. Nhờ bố thí đồ chơi tốt đẹp, bồ-tát được đầy đủ tất cả pháp lạc du hý thanh tịnh.

3. Nhờ bố thí đầy đủ mọi nhu yếu phẩm, bồ-tát được đầy đủ tất cả pháp nghĩa viên mãn, hướng đến tòa bồ-đề.

4. Nhờ bố thí tay, bồ-tát được đầy đủ tất cả pháp thủ thanh tịnh viên mãn, cứu độ chúng sinh.

5. Nhờ bố thí tai, mũi, bồ-tát được đầy đủ tất cả các căn thành tựu viên mãn.

6. Nhờ bố thí các bộ phận trên thân, bồ-tát được đầy đủ tất cả thân tướng của Phật, uy nghiêm thanh tịnh vô nhiễm.

7. Nhờ bố thí mắt, bồ-tát được đầy đủ tất cả pháp nhãn thanh tịnh vô ngại, thấy suốt tất cả chúng sinh.

8. Nhờ bố thí máu thịt, bồ-tát được đầy đủ tất cả thân mạng bền vững, bảo hộ, nuôi dưỡng thiện căn chân thật cho tất cả chúng sinh.

[90a] 9. Nhờ bố thí tủy não, bồ-tát được đầy đủ tất cả thân kim cương viên mãn, không thể phá hoại.

10. Nhờ bố thí đầu, bồ-tát chứng đắc đầy đủ tất cả Nhất thiết trí vô thượng tối thượng viên mãn, vượt ngoài ba cõi[46].

Này Xá-lợi Tử! Vì chứng đắc Vô thượng bồ-đề, đại bồ-tát thực hành bố thí như vậy, nên thành tựu thân tướng tương ứng như vậy. Các ngài làm cho Phật pháp viên mãn, lợi ích đáng khen ngợi và công đức tối thượng đều thành tựu trọn vẹn là nhờ bố thí ba-la-mật.

Khi ấy, Phật nói kệ:

Bố thí chẳng cầu tài, sắc đẹp,
Cũng không mong cảm báo trời, người,
Chỉ vì chứng Bồ-đề tối thượng,
Thí tuy ít, phúc lại vô cùng.

XVIII.1.4. Bố thí giáo pháp

Phần này trình bày sự hơn kém tương đối giữa tài thí và pháp thí.

Luận Đại trí độ ghi: “Phật dạy:

– Pháp thí là cách bố thí cao nhất trong các cách bố thí. Vì sao? Vì tài thí có thể tính lường, pháp thí không thể tính lường. Tài thí được phúc báo cõi Dục, pháp thí được phúc báo vượt ngoài ba cõi. Tài thí không thể đoạn trừ lậu hoặc, pháp thí dứt sạch lậu hoặc, lên bờ giải thoát. Tài thí chỉ được phúc báo cõi trời, cõi người; pháp thí được phúc báo chung cả ba thừa. Tài thí, kẻ ngu, người trí đều làm được; pháp thí chỉ hạn cuộc nơi người trí. Tài thí, chỉ có người thí được phúc, pháp thí lợi ích cho cả người thí và người nhận. Tài thí, người ngu và súc sinh đều có thể tiếp nhận, pháp thí chỉ hạn cuộc nơi người trí. Tài thí chỉ lợi ích cho xác thân, pháp thí lợi ích cho tinh thần. Tài thí làm cho lòng tham tăng trưởng, pháp thí dứt trừ hết ba độc[47]”.

Cho nên, kinh Đại tập ghi: “Dù bố thí thật nhiều của báu cũng không bằng chí tâm đọc tụng, thọ trì một bài kệ. Pháp thí thù thắng nhất, hơn cả món ăn, thức uống”.

Kinh Vị tằng hữu ghi: “Trời Đế Thích hỏi dã can[48]:

– Bố thí thức ăn và bố thí giáo pháp có công đức thế nào? Xin nói cho tôi biết.

Dã can đáp:

– Bố thí món ăn, thức uống chỉ nuôi sống thân mạng trong một ngày. Bố thí tài vật quý báu thì giúp thoát cảnh nghèo khổ trong một đời, nhưng vẫn tăng thêm trói buộc. Thuyết pháp giáo hóa gọi là pháp thí, có thể khiến chúng sinh vượt khỏi ba cõi”.

Luận Đại trượng phu ghi: “Tài thí, tất cả mọi người đều có thể thực hiện; pháp thí, chỉ người có lòng đại bi mới làm được. Tài thí trừ được nỗi khổ về thân cho chúng sinh, pháp thí trừ được bệnh khổ về tâm cho chúng sinh. Đối với người nhiều tham ái, thì ban cho tài vật; người nhiều ngu si thì ban cho giáo pháp. [90b] Người bố thí tài vật được tiền tài vô tận, người bố thí giáo pháp được trí tuệ vô biên. Người bố thí tài vật, thân được an vui, người bố thí giáo pháp, tâm được an lạc. Người bố thí tài vật được chúng sinh yêu mến, người bố thí giáo pháp được chúng sinh kính trọng. Người bố thí tài vật được người ngu ưa thích, người bố thí giáo pháp được người trí mến mộ. Người bố thí tài vật đem lại niềm vui cho chúng sinh trong đời hiện tại, người bố thí giáo pháp đem lại niềm vui ở cõi trời và niết-bàn. Như bài kệ nói:

Trí Phật giữa hư không,
Mây đại bi giăng kín,
Pháp thí như mưa lành,
Tràn đầy ao ấm[49], giới[50].
Bốn nhiếp làm phương tiện,
Nhân an lạc giải thoát,
Hành trì bát chính đạo,
Sẽ được quả Niết-bàn.

Kinh Nguyệt đăng tam-muội ghi: “Đức Phật dạy:

– Nếu thực hành pháp thí, bồ-tát sẽ được mười điều lợi ích. Đó là:

1. Dứt trừ các việc ác.
2. Thường làm các điều thiện.
3. An trụ pháp bậc thánh.
4. Thanh tịnh cõi nước Phật.
5. Thành tựu tâm bồ-đề.
6. Xả bỏ điều ham muốn.
7. Chế ngự được phiền não.
8. Ban phúc đức cho các chúng sinh.
9. Thường khởi tâm từ đối với chúng sinh.
10. Thấy đạo, được an vui”.

Luận Bồ-tát địa trì ghi: “Nếu bồ-tát biết người kia tà kiến, muốn tìm khuyết điểm của giáo pháp, thì không nên trao cho pháp ấy, không ban cho kinh sách. Nếu người có tính tham của cải, hay bán kinh sách, cũng không nên trao cho. Nếu người được kinh sách lại đem cất giấu, không xem, cũng không nên trao cho. Nếu không phải nghĩa lý để người kia cần hiểu, cũng không nên trao cho. Nếu là nghĩa lý để người kia cần hiểu, mà bồ-tát đã tự hiểu, thì tùy theo sở thích của họ mà giảng giải. Nếu họ vẫn chưa hiểu nghĩa lý, thì nên khuyên họ tự tu học. Lại nữa, nếu biết người khác có những kinh sách như thế, bồ-tát nên chỉ cho biết nơi ấy, hoặc biên chép rồi trao cho họ. Bồ-tát nên quán xét tâm mình, nếu phát giác thấy có chút tâm xẻn pháp, bồ-tát nên lấy kinh trao cho, gọi là bố thí pháp. Bố thí pháp cho người ngu si, câm ngọng… trong hiện đời để trừ phiền não cho họ, ta còn phải nên làm, huống gì làm phương tiện trí tuệ cho đời sau”.

Kinh Ưu-bà-tắc giới ghi: “Như tì-kheo, tì-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nào đầy đủ trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, có khả năng giáo hóa người khác; hoặc đưa giấy mực bảo người biên chép; hoặc tự mình biên chép kinh sách của Phật, rồi bố thí cho người để họ đọc tụng, đây gọi là bố thí pháp. [90c] Người bố thí như vậy, đời sau sinh lên cõi trời, được thân hình xinh đẹp. Vì sao?

Vì chúng sinh nghe pháp, dứt trừ tâm sân; nhờ nhân duyên ấy, nên đời sau được thân hình xinh đẹp. Chúng sinh nghe pháp, tâm từ mở rộng, không giết hại chúng sinh; nhờ nhân duyên ấy, đời sau được thọ mạng lâu dài. Chúng sinh nghe pháp, không trộm tài vật của người; nhờ nhân duyên ấy, đời sau có nhiều vàng bạc, của cải. Chúng sinh nghe pháp, phát tâm hoan hỷ bố thí; nhờ nhân duyên ấy, đời sau, thân được khỏe mạnh. Chúng sinh nghe pháp, không còn buông lung; nhờ nhân duyên ấy, đời sau, thân được an lạc. Chúng sinh nghe pháp, trừ bỏ tâm sân si; nhờ nhân duyên ấy, đời sau được biện tài vô ngại. Chúng sinh nghe pháp, lòng tin kiên cố; nhờ nhân duyên ấy, đời sau được tín tâm vững chắc.

Tương tự, đối với trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ… cũng lại như vậy. Vì thế nên biết, bố thí giáo pháp thù thắng hơn bố thí tài vật”.

Hỏi: Đã biết bố thí giáo pháp thù thắng hơn bố thí tài vật, vậy chúng sinh chỉ học theo bố thí giáo pháp, không chịu thực hành bố thí tài vật, như thế có được không?

Đáp: Vì không hiểu rõ ý nghĩa của việc bố thí tài vật, nên chúng sinh bố thí với tâm si mê, vọng cầu phúc báo tốt đẹp về vật chất của cõi trời người, e rằng sẽ rơi vào ba nơi khổ, không thành tựu đạo giải thoát. Cho nên, Đức Phật ân cần thuyết pháp để chúng sinh hiểu rõ, thật thể của người bố thí, người nhận thí và vật bố thí đều không mà thực hành bố thí tài vật, ngõ hầu chóng thành tựu quả vị Bồ-đề niết-bàn thù thắng. Các pháp còn lại trong sáu độ muôn hạnh, như trì giới, nhẫn nhục… đều phải nhờ trí tuệ dẫn dắt mà thành tựu viên mãn.

Luận Đại trí độ ghi: “Trong sáu độ, năm độ trước giống như người mù, độ trí tuệ thứ sáu ví như người có mắt. Nếu không có trí tuệ dẫn dắt mà hành trì năm độ trước, sẽ bị rơi vào những nơi thống khổ, không giải thoát được. Nếu nghe nói bố thí giáo pháp thù thắng hơn bố thí tài vật, người ngu không hiểu liền bo bo giữ của, chỉ thích đọc tụng kinh điển. Nếu thực hành như vậy thì không bằng người hiểu biết chỉ bố thí một đồng, vẫn thù thắng hơn người mê muội đọc tụng kinh điển cả trăm nghìn vạn quyển.

Vì thế, Đức Như Lai thuyết pháp cốt cho chúng sinh hiểu và hành. Nếu chỉ hiểu mà không hành thì đó là hiểu suông, vô ích. Nếu chỉ hành mà không hiểu thì đó là việc làm thấp kém, vô vị. Cho nên, cần phải đầy đủ hiểu và hành thì mới đạt đến bờ giải thoát. Nếu chỉ hiểu mà không hành, giống như người có mắt mà không chân thì không thể đi xa. Nếu chỉ hành mà không hiểu, khác nào người có chân mà không mắt thì không thể thấy đường. Lại nữa, nếu chỉ hiểu mà không hành, thí như hoa đốm trong hư không chẳng thể kết trái. Nếu chỉ hành mà không hiểu, tợ như quả không sinh ra từ hoa. Thế nên, hiểu và hành cần phải đi đôi thì mới thành tựu quả Phật”.

XVIII.1.5. Lượng định để bố thí

Nói về người thực hành bố thí, thì có người trí, kẻ ngu. [91a] Khi người trí thực hành bố thí, nên quán xét người nhận thí, nếu có ích thì bố thí, không có ích thì không bố thí.

Cho nên, kinh Ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu gặp người nghèo khổ, trước nên hỏi: ‘Ông có thể quy y tam bảo[51], thụ trì trai giới[52] không?’. Nếu họ nói ‘được’, thì trước nên truyền pháp tam quy và trai giới, sau mới bố thí tài vật cho họ. Nếu họ nói ‘không được’, thì lại hỏi: ‘Ông có thể nói tất cả pháp là vô thường, vô ngã, niết-bàn tịch diệt theo tôi, được không?’; nếu họ nói ‘được’, thì chỉ dạy cho họ, rồi sau mới bố thí tài vật. Nếu mình không có của cải, thì khuyến khích người có của cải nên bố thí cho họ.

Như người ngu tham tiếc của cải, không biết vô thường, người và vật vốn thuộc về người khác mà lại tham tiếc, bỏn xẻn. Bồ-tát thấy tài vật này không có ích lợi, lại có thể đưa đến việc phế bỏ đạo nghiệp nên bảo họ hãy mau xả thí”.

Luận Trang nghiêm ghi: “Nếu những thứ làm cho mình phiền não thì không nên cất chứa cần phải xa lìa, dù làm cho mình giàu sang. Như ong hút mật thì người khác được lợi mà bản thân nó chẳng được gì cả. Tài vật cũng như vậy.

Lại nữa, của cải để bố thí có vật đúng pháp, có vật phi pháp. Của cải phi pháp, dù bố thí chỉ được phúc rất ít, còn bố thí của cải đúng pháp được phúc rất nhiều”.

Kinh Đại bảo tích ghi: “Có năm thứ tài vật không nên bố thí:

1. Không nên bố thí tài vật có được một cách bất chính, vì đó là vật không thanh tịnh
2. Không nên bố thí rượu và thuốc độc, vì đó là vật làm loạn tâm chúng sinh
3. Không nên bố thí nơm bẫy, lưới chài, vì đó là vật làm chúng sinh đau khổ
4. Không nên bố thí dao gậy, cung tên, vì đó là vật làm tổn hại chúng sinh
5. Không nên bố thí âm nhạc, nữ sắc, vì đó là thứ làm phá hoại tâm thanh tịnh của chúng sinh”.

Kinh Địa trì ghi: “Bồ-tát không nên bố thí đồ ăn, thức uống phi pháp. Chẳng hạn như đồ ăn, thức uống cách đêm của người xuất gia, thức ăn bị dính phân tiểu, đờm dãi, máu mủ, cơm và gạo không rõ xuất xứ. Các món ăn không đúng pháp, nên bỏ đi là những thức ăn có lẫn hành hẹ tanh hôi, thức ăn có thịt, thức uống có lẫn rượu cay nồng… Những thứ không đúng pháp này không nên bố thí cho người và súc vật”.

Luận Đại trí độ ghi: “Nếu người dùng đủ mọi cách đánh đập, tra khảo, bắt trói để có được tài vật đem bố thí, thì đời sau sinh vào loài voi, ngựa, trâu. Tuy thụ thân súc sinh, thường mang vác nặng, hay bị đánh đập, cột trói, chở cưỡi, nhưng chúng có chỗ ở tốt, được ăn thức ngon, được người thương yêu, chăm sóc.

Người ác, lòng đầy sân hận, gian dối, bất chính mà thực hành bố thí, đời sau sẽ bị đọa vào loài rồng ở trong cung điện bằng bảy báu, được ăn thức ngon, thân hình đẹp đẽ.

Người kiêu căng, ngã mạn, bố thí với tâm sân hận, đời sau sẽ bị đọa làm kim sí điểu[53], thường được tùy ý, có chuỗi bằng bảo châu như ý, mọi thứ cần dùng đều đầy đủ, [91b] biến hóa khôn lường, việc gì cũng thành tựu.

Như quan tể tướng bóc lột của người dân không đúng phép nước, rồi lấy của cải đó đem bố thí, đời sau sẽ bị đọa làm quỷ Cưu-bàn-đồ[54], có thể biến năm trần thành đủ mọi thứ để tự vui.

Người nhiều sân hận, bạo ngược, thích ăn thịt, uống rượu mà thực hành bố thí, đời sau sẽ bị đọa làm quỷ Địa hành dạ-xoa[55], thường được hưởng mọi sự vui sướng, âm nhạc và các thức ăn uống.

Người ngang tàng, hống hách mà bố thí ngựa, xe cho người đi bộ, đời sau sẽ bị đọa làm Hư không dạ-xoa[56], có sức mạnh và đi nhanh như gió.

Lại như người có tâm đố kỵ, hay gây gổ mà biết bố thí phòng nhà, giường chiếu, y phục tốt đẹp, thức ăn uống ngon, thì đời sau sẽ sinh làm Phi hành dạ-xoa[57] ở trong cung điện lầu gác, nơi ăn ở đầy đủ tiện nghi và được hưởng mọi sự vui sướng.

Nếu người làm kẻ khác buồn khổ, ép bức họ để lấy đồ vật, rồi đem tạo phúc, thì phải chuốc lấy tội lỗi; chi bằng giữ tâm thanh tịnh, tu sửa tâm tính, thì càng được lợi ích hơn”.

Luận Địa trì ghi: “Nếu bồ-tát bố thí mà làm người khác đau khổ, hoặc bị họ bức ép, hoặc bị họ khinh thường, hoặc cầu xin một cách phi pháp, thì cả người cho và người nhận đều không được lợi ích. Bồ-tát vì chúng sinh, thà xả bỏ thân mạng, chứ không bố thí theo lòng ham muốn của chúng sinh, dẫn đến bị bức bách, vẫn không bố thí, vì đó chẳng phải là lúc bồ-tát thực hành bố thí thanh tịnh.

Ngoại vật mà bồ-tát không nên bố thí là nếu có người đến xin những thứ phi pháp, như thuốc độc, lửa, dao, rượu, hoặc nhờ làm mai mối, trò vui v.v…, bồ-tát không nên bố thí. Nếu bồ-tát bố thí những thứ ấy thì khiến họ gây nhiều tội lỗi, sẽ bị đọa vào nơi thống khổ, không thể giải thoát. Nếu có người đến xin các bộ phận trên cơ thể của bồ-tát thì nên cho ngay, không cần suy xét để họ không nản lòng”.

Kinh Ưu-bà-tắc ghi: “Nếu người nào não loạn họ hàng để có được tài vật đem bố thí, thì đời sau tuy được quả báo tốt đẹp, nhưng thân thường mang bệnh tật, đau khổ. Nếu người nào trước đây không lo phụng dưỡng cha mẹ, não loạn vợ con, tôi tớ, đau khổ mà bố thí, thì đó là người ác, là giả danh bố thí, không đúng nghĩa bố thí. Người bố thí như thế là không có lòng thương yêu, không biết báo đáp công ơn, đời sau tuy có nhiều tiền của, nhưng thường bị mất, không cất giữ được, cũng không thể sử dụng, thân mang nhiều bệnh tật, đau khổ”.

Đoạn này minh chứng cho việc cưỡng đoạt tài vật của người để tạo phúc, phải chuốc lấy quả báo khổ đau, đâu có ích gì.

Thời nay mạt pháp, đạo tục suy đồi, tranh nhau giảng giải trai giới, cưỡng bức người để có tiền của đem dựng chùa, xây tháp. Như thế chẳng đúng với kinh điển, trái lại phải chuốc lấy tội báo; chi bằng tĩnh tọa, tu sửa tâm tính, thực hành pháp trung thắng[58] xa lìa tham ái để không phạm lỗi này.

[91c] Nếu người thuyết pháp với tâm thanh tịnh, người nghe lại hết lòng cầu pháp, xả vật cúng dường, thì nên thuyết pháp cho họ để họ thành tựu phúc đức và trí tuệ. Không được thấy sự phán định ở trên mà hồ đồ bác bỏ tất cả, sinh lòng chê bai, ngăn cản việc tạo phúc.

Nhiếp luận thích của ngài Vô Tính[59] ghi: “Nếu thấy người kia coi trọng tiền tài, địa vị, bồ-tát không nên bố thí, đừng để cho sự bố thí trở nên vô ích, không có phúc báo. Giả sử có bố thí, người kia cũng không nhận. Vậy bố thí làm gì? Như bài tụng nói:

Như mẹ cho con bú,
Suốt tháng không mỏi mệt,
Nếu con không bú được,
Mẹ biết làm sao đây?
Thà nghèo tiền của và địa vị,
Xa lìa đường ác, việc chẳng lành,
Chớ để giàu sang nhiễu loạn tâm,
Đời sau cảm báo nhiều thống khổ”.

Kinh Tăng nhất a-hàm ghi: “Bấy giờ, Đức Phật bảo các tì-kheo:

– Có năm trường hợp gọi là bố thí đúng lúc và có lợi ích. Đó là:

1. Bố thí cho người từ xa đến.
2. Bố thí cho người đi xa.
3. Bố thí cho người bệnh.
4. Bố thí lúc ngặt nghèo.
5. Khi vừa thu hoạch hoa trái như lúa mì, lúa tẻ v.v…, trước nên bố thí cho người tinh tiến trì giới, sau đó mới ăn.

Cho nên, đối với năm trường hợp này, nên nhớ tùy thời mà bố thí. Nếu người bố thí thanh tịnh và đúng thời sẽ được quả báo đúng thời, nghĩa là lúc nào nên bố thí thì thanh tịnh mà bố thí. Nếu trời lạnh thì bố thí nhà ấm, chăn lông, củi lửa, cơm nóng v.v… Nếu trời nóng thì bố thí các thứ: nhà mát, áo mỏng, nước, quạt v.v… Khi khát thì giúp nước uống, khi đói thì dâng cơm ăn, khi mưa gió thì đưa đón, lúc đẹp trời thì thỉnh chúng tăng… Như vậy, tùy thời mà đáp ứng theo nhu cầu để họ được an vui thì đời sau được phúc và cảm quả báo tốt đẹp”.

XVIII.1.6. Phúc điền

Kinh Ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu bố thí cho súc vật, được phúc báo trăm lần. Bố thí cho người phá giới, được phúc báo nghìn lần. Bố thí cho người trì giới, được phúc báo trăm nghìn lần. Bố thí cho ngoại đạo ly dục, được phúc báo trăm vạn lần. Bố thí cho người hướng tâm về Phật đạo, được phúc báo nghìn ức lần. Cúng dường cho vị tu-đà-hoàn, được phúc báo vô lượng. Cúng dường cho vị tư-đà-hàm cũng được phúc báo vô lượng, cho đến cúng dường vị đã thành Phật, cũng được phúc báo vô lượng.

Nay Ta phân biệt các loại phúc điền[60]cho các ông rõ.

Nếu người hết lòng thương xót bố thí cho súc vật, thì phúc báo này ngang bằng với phúc báo của người chí thành cung kính cúng dường chư Phật.

Nói ‘được phúc báo trăm lần’ nghĩa là người bố thí cho súc vật, đời sau được sống lâu, sắc đẹp, mạnh khỏe, an lạc, biện tài gấp trăm lần. Tùy theo từng đối tượng bố thí mà được phúc báo tăng tiến lên đến vô lượng.

[92a] Như Ta đã nói trong khế kinh: ‘Ta bố thí cho Xá-lợi-phất, Xá-lợi-phất cũng cúng dường cho Ta, nhưng Ta được phúc báo nhiều, chứ không phải Xá-lợi-phất được phúc báo nhiều’.

Có người nói: ‘Người nhận vật bố thí mà làm ác, thì tội cũng ảnh hưởng đến thí chủ’. Nghĩa này không đúng. Vì sao? Khi thí chủ bố thí là vì dứt trừ cái khổ cho người kia, chứ chẳng phải làm cho họ tạo tội. Do đó, thí chủ sẽ được quả báo tốt đẹp, còn người nhận tạo ác thì tự chuốc lấy tội báo, không liên quan gì đến thí chủ.

Hỏi: Nếu cúng dường cho bậc thánh, được phúc rất nhiều. Vì sao kinh nói: ‘Người trí thực hành bố thí không chọn lựa phúc điền’?

Đáp: Nay giải thích ý nghĩa này có nhiều cách, để nói người bố thí có phân biệt người trí và kẻ ngu; đối tượng được bố thí có phân biệt bi điền[61] và kính điền[62].

Bi là bố thí cho người nghèo khổ. Kính là cúng dường tam bảo. Bi thì ruộng phúc kém mà tâm lớn. Kính là ruộng phúc lớn mà tâm nhỏ. Nếu dùng tâm lớn mà cúng dường Phật, thì phúc báo không bằng bố thí cho người nghèo khổ”.

Cho nên, kinh Tượng pháp quyết nghi ghi: “Có các chúng sinh thấy người khác gom góp tiền của để tạo phúc, chỉ vì cầu danh, nên họ cũng dốc hết của cải trong nhà để đem bố thí, nhưng khi thấy người nghèo cùng, cô độc đến xin, thì lại mắng chửi, xua đuổi, không cho một đồng. Người như vậy gọi là làm thiện một cách điên đảo. Tạo phúc ngu si, điên đảo như thế gọi là tạo phúc không chân chính. Những hạng người này thật đáng thương xót! Họ bố thí của cải rất nhiều, nhưng được phúc rất ít.

Này thiện nam tử! Có lần, Ta bảo đại chúng:

– Nếu người cúng dường mười phương chư Phật, các vị bồ-tát và chúng thanh văn trong a-tăng-kì[63] kiếp cũng không bằng người thí cho súc vật một vốc cơm, ngụm nước. Phúc báo này hơn phúc báo cúng dường kia gấp trăm trăm nghìn vạn ức, vô lượng vô biên. Ngay cả thí cho các loài chó đói, trùng kiến v.v… cũng được phúc báo như vậy. Cho nên, bi điền là tối thắng”.

Luận Đại trí độ ghi: “Như Xá-lợi-phất dâng cúng Phật một bát cơm, Phật liền quay sang cho chó ăn, rồi hỏi Xá-lợi-phất:

– Ai được phúc nhiều hơn?

Xá-lợi-phất thưa:

– Theo như con hiểu về ý nghĩa Phật pháp, thì Phật cho chó ăn được phúc nhiều hơn”.

Nếu căn cứ vào ý nghĩa kính pháp trọng người và giai vị tu hành, thì kính điền là thù thắng. Cho nên, kinh Ưu-bà-tắc giới ghi: “Nếu bố thí cho súc vật được phúc báo trăm lần, cho đến cúng dường vị tu-đà-hoàn được phúc báo vô lượng. Cúng dường vị a-la-hán, bích-chi vẫn không bằng cúng dường Phật, huống gì là các loài khác”.

Nếu căn cứ vào tâm bình đẳng mà thực hành bố thí, thì không luận là bi hay kính, hễ bố thí với tâm bình đẳng thì được phúc rất lớn. Cho nên, kinh Duy-ma ghi: “Phân làm hai phần, một phần dâng cúng Đức Phật Nan Thắng Như Lai, một phần đem cho người ăn xin thấp hèn nhất trong thành. Hai phúc điền này bằng nhau”.

[92b] Kinh Hiền ngu ghi: “Sau khi Đức Thế Tôn xuất gia, di mẫu của Ngài là Ma-ha Ba-xà-ba-đề đã tự tay dệt lụa, may thành một tấm y màu vàng. Lòng bà luôn trông ngóng, chỉ chờ Phật về để dâng cúng. Thế nên, vừa gặp Phật, di mẫu vô cùng vui mừng, liền đem tấm y dâng cúng.

Bấy giờ, Đức Phật bảo Kiều-đàm-di:

– Di mẫu nên đem tấm y này đến cúng dường chúng tăng!

Ba-đề lại bạch Phật:

– Từ khi Đức Thế Tôn xuất gia, di mẫu thương nhớ ngày đêm, nên tự tay dệt lụa mà lòng mong mỏi đợi chờ. Cúi mong Đức Thế Tôn thương xót mà nhận tấm y này!

Phật bảo di mẫu:

– Biết di mẫu một lòng muốn dâng cúng Như Lai, nhưng cúng dường với tâm thương yêu thì phúc báo không lớn, nếu đem cúng dường chúng tăng thì được phúc nhiều hơn. Như Lai biết rõ điều này, nên khuyên di mẫu như thế”.

Kinh Cư sĩ thỉnh tăng phúc điền ghi: “Thỉnh riêng năm trăm vị a-la-hán không bằng theo thứ tự thỉnh cúng một phàm phu tăng. Trong giáo pháp của Ta, không có phép nhận thỉnh riêng. Nếu người nào thỉnh tăng riêng thì chẳng phải đệ tử của Ta, vì đó là pháp của lục sư ngoại đạo, là điều bảy Đức Phật quá khứ[64] đều không chấp nhận.

Nên biết, bố thí có ba cách, không thể nói đều giống nhau”.

XVIII.1.7. Đối đãi

Có năm trường hợp đối đãi:

1. Ruộng phúc với tài vật, có bốn trường hợp:

a. Ruộng phúc lớn, tài vật ít: như đồng tử dâng cúng cát cho Phật v.v…

b. Tài vật nhiều, ruộng phúc kém: như đem vật báu bố thí cho người nghèo v.v…

c. Ruộng phúc và tài vật đều lớn: như đem vật báu cúng dường Phật v.v…

d. Ruộng phúc và tài vật đều kém: như đem cỏ thí cho súc vật v.v…

2. Nặng với nhẹ, có bốn trường hợp:

a. Tâm lượng lớn, tài vật ít: như cô gái nghèo cúng dường một mảnh vải cho đại chúng mà được phúc rất lớn.

b. Tài vật nhiều, tâm lượng hẹp: như phu nhân nhà vua cúng dường chúng tăng vật báu với lòng đầy kiêu mạn, nên được phúc rất ít.

Hai trường hợp sau có thể biết được.

3. Không với hữu.

a. Tâm không, cảnh chẳng không: như người tuy học pháp quán ‘không’, nhưng lại tham tiếc tài vật, không chịu bố thí, thì trái lại phải chịu quả báo nghèo thiếu.

b. Cảnh không, tâm chẳng không: như người biết bố thí tài vật sẽ được giàu có nên rất thích bố thí, vì thế phúc báo càng nhiều.

Hai trường hợp sau có thể biết được.

4. Nhiều với ít

Kinh Pháp cú ghi: “Bố thí có bốn trường hợp. Đó là:

a. Bố thí nhiều, được phúc ít: như người ngu si bày việc cúng tế, uống

rượu, ca múa v.v… làm hao tổn tiền của mà không có phúc đức, trí tuệ. Đây là bố thí nhiều, nhưng được phúc ít.

b. Bố thí ít, được phúc nhiều: như người cúng dường chúng tăng với tâm từ, chúng tăng ăn rồi, tinh tiến tu học. Đây là bố thí tuy ít, nhưng phúc báo rất nhiều.

[92c]c. Bố thí ít, được phúc ít: như bố thí cho hai hạng người ngu si là kẻ tham san, ác ý và ngoại đạo tà kiến. Đây là bố thí ít, được phúc cũng ít.

d. Bố thí nhiều, được phúc cũng nhiều: như có bậc hiền thấu rõ cuộc đời là vô thường, nên thích xuất tiền của để xây tháp, cất chùa, tinh xá, vườn cây; cúng dường Tam bảo những thứ cần thiết như: y phục, chăn nệm, giày dép, giường chiếu, thức ăn uống… Phúc báo cúng dường này như năm dòng sông lớn chảy vào biển cả. Phúc chảy mãi như thế, đời đời không dứt. Đây là bố thí nhiều, phúc báo cũng nhiều”.

5. Nhiễm ô với thanh tịnh

Luận Đại trí độ ghi: “Trong giáo pháp của Phật, có bốn trường hợp bố thí:

a. Người bố thí thanh tịnh, người nhận không thanh tịnh.

b. Người bố thí không thanh tịnh, người nhận thanh tịnh.

c. Người bố thí và người nhận đều thanh tịnh.

d. Người bố thí và người nhận đều không thanh tịnh.

Ở đây chỉ giải thích một trường hợp, các trường hợp còn lại có thể hiểu được.

Thế nào là cả hai đều thanh tịnh? Như Phật cúng dường Phật, đây là cả hai đều thanh tịnh. Lại như đem hoa có được do năng lực công đức của Phật Bảo Tích ở phương đông gửi cho thập trụ pháp thân Phổ Minh bồ-tát[65] để rải cúng dường Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Nên biết, chư Phật trong mười phương là phúc điền lớn nhất. Đây là cả hai đều thanh tịnh”.

Kinh Ưu-bà-tắc giới ghi: “Đức Phật dạy:

– Nếu người có của cải thấy kẻ đến xin, liền từ chối, nói là ‘không có’, nên biết người này đã gieo nhân nghèo cùng, đức mỏng cho đời sau. Người như thế gọi là buông lung, tự nói không có của cải là không đúng. Vì sao? Vì ai ai cũng có cỏ cây, sông nước. Dù là bậc đế vương, nhưng chưa hẳn có thể bố thí, tuy là người nghèo cùng nhưng vẫn bố thí được. Vì sao? Người nghèo cùng cũng có phần cơm, ăn rồi rửa bát, nếu biết đem nước rửa bát đó thí cho loài cần dùng, thì cũng được phúc đức; hoặc lấy bột cám thí cho loài kiến, cũng được phúc báo vô lượng. Người nghèo khó nhất thiên hạ, ai mà không có chút bột cám này! Ai mà một ngày không ăn ba vắt cơm để duy trì mạng sống! Do vậy, mọi người nên đem nửa phần cơm của mình bố thí cho người xin.

Này thiện nam tử! Dù là người nghèo cùng cực, ai có thân này mà không có quần áo để mặc? Nếu có quần áo, há lại không có một sợi chỉ để cho người băng bó vết thương, hay một mảnh vải nhỏ bằng đầu ngón tay để làm tim đèn ư?

Người trong thiên hạ hiện tại dẫu nghèo cùng thì vẫn có thân này. Nếu đã có thân, khi thấy người làm việc tốt, mình cũng nên đến giúp đỡ, vui vẻ, không mỏi mệt. Đây cũng gọi là bố thí sinh mạng, cũng được phúc đức, có khi được phúc một phần, có khi bằng họ, có lúc nhiều hơn. [93a] Vì vậy, khi nhận thức ăn của vua Ba-tư-nặc, Ta cũng chú nguyện. Như thế, vua và người nghèo đều được phúc đức bằng nhau không khác.

Như có bốn loại hương: hương thoa, hương bột, hương rải, hương đốt, nếu có người chạm đến, hoặc người mua, hoặc người bán v.v… đều được ngửi mùi hương như nhau mà các mùi hương ấy không hề hao tổn mảy may. Pháp tu bố thí cũng như vậy, hoặc nhiều, hoặc ít, hoặc thô, hoặc tế, hoặc đến giúp đỡ với tâm tùy hỉ, hoặc thấy nghe từ xa mà tâm sinh vui vẻ. Do những tâm ấy như nhau nên được quả báo không có sai khác.

Nếu người không có tài vật thấy người khác bố thí mà không tin, không tùy hỉ, lại nghi ngờ về ruộng phúc, đây gọi là nghèo cùng. Nếu người có nhiều của cải, tự do sử dụng, lại có phúc điền tốt lành, nhưng tự thân không có lòng tin, không biết bố thí cúng dường, thì cũng gọi là nghèo cùng. Do đó, người trí tự quán xét, giả như ăn thêm một vắt cơm thì sống, bớt cho người thì chết, vẫn nên đem bố thí, huống gì là có nhiều!

Người trí lại quán xét, thế gian này hoặc có người trì giới, đa văn, cho đến đắc quả A-la-hán, nhưng vẫn không thoát khỏi nỗi khổ đói, khát v.v…; hoặc có người không dễ gì có được phòng nhà, y phục, đồ ăn, thức uống, giường chiếu, thuốc thang… đều là do đời trước không gieo nhân bố thí.

Người phá giới nếu thích bố thí, thì tuy đọa vào loài ngạ quỷ, súc sinh, nhưng thường được no đủ, không hề thiếu thốn.

Người tuy giàu sang, hưởng sự vui sướng tột bậc của cõi trời người, nhưng vẫn không biết đủ. Cho nên, Ta vì sự an lạc vô thượng mà thực hành bố thí, chứ không vì sự vui sướng của cõi trời người. Vì sao? Vì sự vui sướng ấy là vô thường và có giới hạn.

Nếu người bố thí vui vẻ, không hối tiếc, gần gũi người tốt, thì sau sẽ được sinh vào gia đình quý tộc, giàu sang tự tại, hưởng sự vui sướng của cõi trời người, cho đến đắc quả Vô thượng bồ-đề, xa lìa tất cả phiền não trói buộc.

Nếu thí chủ tự tay bố thí, thì sau sẽ sinh vào gia đình thượng lưu, gặp thiện tri thức, có nhiều của cải, quyến thuộc đầy đủ, có thể thụ dụng, có thể bố thí. Tất cả chúng sinh ưa thích nhìn họ, khi gặp thì cung kính, tôn trọng, ngợi khen”.

Luận Đại trượng phu ghi: “Nếu người bỏn xẻn, thì dù là bùn đất nhưng xem trọng hơn vàng ngọc. Nếu người có tâm bi lớn, tuy bố thí vàng ngọc, nhưng xem nhẹ hơn cỏ cây. Nếu người lòng nhiều bỏn xẻn, khi bị mất tiền của thì vô cùng buồn khổ.

Người bố thí khiến người nhận vui vẻ, nên họ cũng vui theo. Giả sử có thức ăn ngon, nếu không bố thí mà ăn một mình, thì không cảm thấy ngon. [93b] Còn như có thức ăn dở, trước đem bố thí, sau đó mới ăn, trong lòng vui vẻ, nên cảm thấy ngon vô cùng. Sau khi bố thí, vị ấy dùng những thức còn lại, tâm luôn vui vẻ như đắc Niết-bàn. Người không có lòng tin đâu thể tin được lời này.

Hoặc người có thức ăn dở, thấy kẻ đói đứng trước mặt, còn không thí cho, huống gì những thứ ngon. Hoặc có người đang ở bên sông lớn, còn không lấy chút nước thí cho chúng sinh, huống gì những vật tốt khác. Trên thế gian này, đất bẩn dễ được hơn nước, vậy mà người tham lam, bỏn xẻn nghe người đến xin đất bẩn vẫn cảm thấy tiếc, huống gì là tiền của.

Như có hai người: một thì rất giàu, một lại rất nghèo. Có người xin đến, cả hai đều cảm thấy buồn khổ. Người có tiền của thì sợ người kia đến xin. Người không có của cải, thì nghĩ: ‘Mình phải làm sao có chút vật gì để bố thí cho họ’. Hai người này tuy đều buồn khổ như nhau, nhưng quả báo sai khác. Người nghèo nhờ tâm thương xót, nên sinh vào cõi trời người, hưởng sự vui sướng vô lượng. Người giàu vì tham lam, bỏn xẻn, nên sinh vào loài ngạ quỷ, chịu khổ vô cùng.

Bồ-tát chỉ có lòng thương xót đã là đầy đủ, huống gì là bố thí chút ít tài vật. Với tâm bi, bồ-tát muốn bố thí nhưng không có tài vật. Khi thấy người xin, bồ-tát không nỡ nói ‘không có’, đành buồn khổ rơi lệ. Giả như nghe họ than khổ, bồ-tát còn không chịu nổi, huống gì tận mắt nhìn thấy họ khổ đau mà không cứu giúp, là điều không thể có được.

Người có tâm bi thấy chúng sinh nghèo khổ mà không có của cải để bố thí thì buồn khổ, đau xót vô cùng. Bồ-tát cứu giúp chúng sinh, thấy chúng sinh chịu khổ, phải ngậm ngùi rơi lệ. Vì rơi lệ, nên biết tâm bồ-tát rất đau buồn.

Có ba trường hợp làm bồ-tát rơi lệ :

1. Thấy người tạo công đức, bồ-tát kính mến mà rơi lệ.
2. Thấy chúng sinh đau khổ, không có công đức, bồ-tát thương xót họ mà rơi lệ.
3. Khi thực hành bố thí rộng lớn, vì quá xúc động nên bồ-tát rơi lệ.

Nếu tính nước mắt mà bồ-tát đã rơi từ trước đến nay còn nhiều hơn nước bốn biển lớn. Nước mắt mà chúng sinh khắp thế gian này buồn khóc vì xa lìa người thân vẫn không bằng nước mắt của bồ-tát.

Khi thấy chúng sinh nghèo khổ mà bồ-tát không có của cải để bố thí thì ngậm ngùi rơi lệ. Nghe tiếng của người xin, bồ-tát cũng rơi lệ. Người xin thấy bồ-tát lệ rơi, tuy bồ-tát không nói là ‘cho’, nhưng nên biết chắc chắn sẽ ‘được’.

Khi thấy người xin đến, bồ-tát vô cùng buồn khổ. Khi người xin có được tài vật, tâm sinh vui mừng, thì bồ-tát mới hết buồn khổ. Khi nghe tiếng than của người xin, bồ-tát ngậm ngùi rơi lệ, không kềm chế được. Đến khi người xin nói ‘đủ rồi’, bồ-tát mới cầm được nước mắt.

Sau khi thực hành bố thí, chúng sinh đã đầy đủ, bồ-tát bèn vào núi rừng tu tập thiền định, diệt trừ ba độc. [93c] Lúc này, tài vật nhiều gấp bội, nhưng không có người xin để bố thí. Bấy giờ, bồ-tát nghĩ: ‘Ta nay xuất gia, đoạn trừ các kết sử’”.

 

—————————————-
[33] Lục độ 六度 (S: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā): sáu hạnh rốt ráo mà bồ-tát Đại thừa phải thực hiện để đạt đến quả vị Phật. Đó là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ.
 
[34] Tứ nhiếp pháp 四攝法 (S: catvāri saṃgraha-vastūni): bốn phương pháp mà bồ-tát dùng để nhiếp thụ chúng sinh, khiến họ sinh khởi tâm thân ái mà dẫn dắt vào Phật đạo để đạt đến khai ngộ. Đó là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
 
[35] Bốn nỗi sợ hãi (nguyên bản tứ bố giao tiễn 四怖交煎): Bốn kiếp thành, trụ, hoại, không.
 
[36] Năm nhà tranh đoạt (ngũ gia tranh đoạt 五家爭奪): năm sức phá hoại. Đó là nước trôi, lửa cháy, giặc cướp, con hư, vua quan tịch thu.
 
[37] Luật Tứ phần (Tứ phần luật 四分律): luật tạng, sáu mươi quyển do ngài Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch ở Trường An vào thời Dao Tần, Trung quốc, khoảng 410-412. Đây là giới luật do Pháp Tạng bộ, thuộc hệ thống Thượng Tọa bộ ở Ấn Độ truyền, được xếp vào Đại chính tạng, tập 22.
 
[38] Thần biến 神變 (S:vikurvaṇa): thần thông biến hiện. Vì hóa độ chúng sinh nên Phật, bồ-tát dùng năng lực không thể nghĩ bàn, siêu việt nhân gian biến hiện ra các hình tướng và động tác bên ngoài.
 
[39] Cõi trời Tứ Thiên Vương (Tứ Thiên Vương thiên 四天王天): tầng trời thứ nhất trong sáu tầng trời cõi Dục.
 
[40] Cõi Tha Hóa Tự Tại (Tha Hoá Tự Tại thiên 他化自在天; S: Para-nirmita-vaśa-vartin): tầng trời thứ sáu trong sáu tầng trời cõi Dục.
 
[41] Luận Bồ-tát địa trì (Bồ-tát địa trì luận 菩薩地持論): theo Đại chính tân tu đại tạng kinh, đây là kinh Bồ-tát địa trì, không phải luận.
 
[42] Pháp nhãn 法眼 (S: dharma-cakṣu): con mắt trí tuệ có thể thấy được thật tướng của tất cả các pháp, có thể thấu suốt rõ ràng lý duyên sinh của các pháp sai biệt.
 
[43] Cây như ý (như ý thụ 如意樹): theo truyền thuyết, cây như ý sinh ra các vật dụng thường dùng như y phục, chăn nệm…
 
[44] Vật của Phật 佛物: những vật giành riêng để cúng dường Phật, như điện đường, hoa thơm, phướn lọng…
 
[45] Năm món dục tịnh diệu (thượng diệu ngũ dục上妙五欲): sắc, thanh, hương, vị, xúc. Đây là năm cảnh hữu lậu, tự tính của nó là khổ, nhưng tâm ham muốn của phàm phu cảm nhận là vui, nên gọi là năm món dục tịnh diệu.
 
[46] Ba cõi (tam giới 三界; S:trayo dhātavaḥ): cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc.
 
[47] Ba độc (tam độc 三毒): ba thứ phiền não tham, sân, si.
 
[48] Dã can 野干 (S: śṛgāla): loài thú giống chồn, nhưng nhỏ hơn; lông màu vàng pha xanh giống chó, sống thành đàn, ban đêm cất tiếng kêu như sói.
 
[49] Ấm 陰 (S: skandha): sự nhóm họp của nhiều sự vật. Tức chỉ pháp hữu vi. Chẳng hạn như các sắc pháp như ngũ căn, ngũ cảnh nhóm họp lại gọi là sắc ấm.
 
[50] Giới 界 (S: dhātu): từ ngữ để gọi các phạm trù đã phân loại, nghĩa là có sự sai khác giữa các vật mà không lẫn lộn. Theo tông Duy Thức, chủng tử của tất cả các pháp là giới, có nghĩa là yếu tố, nguyên nhân.
 
[51] Quy y tam bảo 歸依三寶: quay về nương tựa ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng.
 
[52] Trai giới 齋戒 (Cg: bát quan trai giới; S: Aṣṭāṅga-samanvāgatōpavasa): tám pháp trai giới, học xứ cho hàng đệ tử tại gia tập sự để xuất gia do Đức Phật chế định. Người thụ phải tạm rời gia đình một ngày một đêm đến ở trong tăng đoàn để học tập cách sinh hoạt của người xuất gia. Giới đó là không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục, không vọng ngữ, không uống rượu, không dùng hương hoa trang sức nơi thân hay xem nghe ca múa, không ngồi nằm giường rộng cao đẹp, không ăn phi thời. Trong tám giới thì bảy phần trước là giới, một phần sau không ăn phi thời là trai, hợp lại gọi là bát quan trai giới.
 
[53] Kim sí điểu 金翅鳥 (S: garuḍa): một loại chim giống như chim diều hâu trong thần thoại Ấn Độ. Đây là loại chim được thần thoại hóa, thân to lớn và hung dữ, là loài chim trời.
 
[54] Cưu-bàn-đồ 鳩槃荼 (S: Kumbhāṇḍa): loại quỷ ăn tinh khí của người, đi nhanh như gió, biến hóa khôn cùng, ở trong chốn rừng hoang đồng vắng, cai quản các loại quỷ.
 
[55] Địa hành dạ-xoa 地行夜叉: loài dạ-xoa sống trên mặt đất.
 
[56] Hư không dạ-xoa 虛空夜叉: loài dạ-xoa sống trong hư không.
 
[57] Cung quán phi hành dạ-xoa 宮觀飛行夜叉 (Cg: cung điện phi hành dạ-xoa): loài dạ-xoa biết bay sống trong cung điện.
 
[58] Trung thắng 中勝: thắng xứ bậc trung, một trong ba pháp thiền xuất thế gian giúp xa lìa tất cả nhân trực tiếp hoặc duyên gián tiếp đưa đến tham ái trong ba cõi.
 
[59] Vô Tính 無性: tên khác của ngài Vô Trước.
 
[60] Phúc điền 福田(S: puṇya-Kṣetra): mảnh ruộng có khả năng sinh trưởng phúc đức, vì kính thờ Phật, chư tăng, cha mẹ hoặc thương xót người nghèo khổ thì được phúc đức, giống như người nông phu gieo cấy trên ruộng thì có thu hoạch.
 
[61] Bi điền 悲田: ruộng phúc do bố thí cho người nghèo khổ, tật bệnh với tâm từ bi.
 
[62] Kính điền 敬田: ruộng phúc nhờ cúng dường tam bảo với tâm cung kính.
 
[63] A-tăng-kì 阿僧祇 (S: Asaṃkhya): một đơn vị số lượng của Ấn Độ, là số cực lớn không thể tính đếm được.
 
[64] Bảy Đức Phật quá khứ (quá khứ thất Phật 過去七佛): bảy Đức Phật thời quá khứ. Tức Đức Phật Thích-ca và sáu Đức Phật xuất hiện trước Ngài. Đó là Đức Phật Tì-bà-thi, Đức Phật Thi-khí, Đức Phật Tì-xá-phù, Đức Phật Câu-lưu-tôn, Đức Phật Ca-diếp.
 
[65] Thập trụ pháp thân Phổ Minh bồ-tát 十住 法身普明 菩薩: bồ-tát Phổ Minh thành tựu pháp thân ở giai vị Thập trụ.
 

Trích từ: Thiện Ác Nghiệp Báo

Ý nghĩa của bố thí và cúng dường
Hòa Thượng Thích Nhất Chân

Bố Thí Pháp
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Bố Thí Là Gì...?
Thượng Tọa Thích Trí Siêu

Bố Thí Ba La Mật
Thượng Tọa Thích Trí Siêu

Bố Thí Và Sáu Ba La Mật
Thượng Tọa Thích Trí Siêu

Bố Thí Vô Trụ
Hòa Thượng Thích Tịnh Không