Con Người Giữ Luân Thường Chẳng Thể Vứt Bỏ Chữ Hiếu Hòa Thượng Xuất Gia Chẳng Ở Nhà Phụng Dưỡng Cha... Lão Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa | Xem: 4


Câu Hỏi

Con Người Giữ Luân Thường Chẳng Thể Vứt Bỏ Chữ Hiếu Hòa Thượng Xuất Gia Chẳng Ở Nhà Phụng Dưỡng Cha Mẹ; Đấy Là Chẳng Đúng Sách Luân Lý Học Đại Cương Viết Như Thế Này: “Tuy Phật Giáo Ấn Độ Phật Chủ Trương Từ Bi Nhưng Lòng Từ Bi Ấy Chẳng Phải Là Lòng Từ Bi Khẳng Định Giá Trị Của Sanh Mạng Mà Là Lòng Từ Bi Phủ Định Giá Trị Của Sanh Mạng! Giá Trị Của Sanh Mạng Bị Phủ Định Tự Nhiên Là Giá Trị Của Gia Đình Cũng Bị Phủ Định Kéo Theo Đó Giá Trị Của Xã Hội Cũng Tất Nhiên Bị Phủ Định! V

Trả Lời

Tại hạ chưa từng đọc quyển Luân Lý Học Đại Cương của Tạ tiên sinh. Đại khái, các hạ cũng chẳng nghiên cứu kinh Phật; vì thế, biểu lộ sự đồng tình sâu xa. Ông chẳng biết đoạn này cũng là sự phê phán do hiểu lầm, giống như [nội dung] bài biểu can vua đừng rước xương Phật của Hàn Xương Lê (Hàn Dũ), chỉ là [kẻ mù] sờ voi mà thôi! Nhưng ai có chí nấy, yêu ghét tự do, chớ nên thấy ngọc trai tưởng là ngọc bích, chỉ hươu bảo là ngựa. Do đó, tôi cũng tách [những điều cật vấn] ra để trả lời như sau:

1) Ông Tạ nói: “Nhưng lòng từ bi ấy chẳng phải là lòng từ bi khẳng định giá trị của sanh mạng, mà là lòng từ bi phủ định giá trị của sanh mạng” (đây là phê bình). Tôi giải thích: “Từ” (慈) nghĩa là ban sự an lạc cho đối phương, “Bi” (悲) nghĩa là dẹp khổ cho đối phương. Vật có sanh mạng thì mới gọi là “đối phương”. Nếu chẳng có, sẽ là như hư không giới, hư không giới thì có khổ hay lạc gì? Hướng về đó để ban bố lòng Từ, thực hiện bằng cách nào đây? Thật sự khó thể giải thích được! Nếu xét theo lòng từ bi đối với đối phương trong Phật lý, trong Lục Độ, điều đầu tiên được coi trọng là bố thí, tức là ba món tài, pháp, vô úy bố thí, há có loại nào thực hiện ngoài những vật có sanh mạng ư?

2) Ông Tạ nói: “Tự nhiên giá trị của gia đình cũng bị phủ định. Kéo theo đó, giá trị của xã hội cũng tất nhiên bị phủ định” (đây là lời phê bình). Tôi giải Đối với mối nghi về gia đình, trong phần thứ tư của lời đáp thứ nhất, tôi đã giải thích rõ ràng, chẳng cần phải rườm lời nữa. Còn như nói xã hội tất nhiên cũng bị liệt vào loại phủ định, “tất nhiên cũng bị” là từ ngữ biểu thị sự nghi ngờ, giống như từ ngữ “há cần có”. Trong các kinh thuộc Đại Tạng, đều có những kinh chuyên dạy về sự bảo vệ quốc gia, giữ gìn trật tự trong gia đình, danh mục chẳng phải chỉ là một quyển. Sự thật đều có, chẳng cần biện bác cho nhiều! Bởi lẽ, đức Phật thuyết pháp, trước hết là xem xét đối phương: Gặp cha bèn nói về lòng Từ, gặp con nói về lòng hiếu, cho nên có Ngũ Thừa sai khác, tức là nhân, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Những lời lẽ nói về gia đình, quốc gia v.v… đều được ghi chép trong những kinh điển dạy về nhân thừa. Chẳng tìm trong loại ấy, có khác nào đến tiệm bán vải để mua dầu, muối!

3) Ông Tạ nói: “Do vậy, nhân sinh trong Phật giáo là lợi dụng sự trốn tránh xã hội, lấy chuyện vào núi tu hành làm mục tiêu” (đấy vừa là sự thật, vừa là hiểu lầm). Tôi giải thích: Căn khí của con người vàn muôn sai khác! Có người chuộng tĩnh, có kẻ ưa động, và lợi mình, lợi người khác biệt. Dùng chuyện “tánh là thiện, do huân tập mà khác xa nhau” để luận, [con người ai nấy] đều có cái tâm riêng tư “tổn người, lợi mình”. Đức Phật chỉ vì sửa đổi thói ác ấy, bèn thuận theo tánh ưa động hay tĩnh của con người mà nói hai thừa là Đại Thừa và Tiểu Thừa. Cũng có kinh dành cho người trốn lánh trong núi sâu, tức là Tiểu Thừa. [Giáo pháp dành cho] người ở trong triều đình hoặc nơi thị tứ chính là Đại Thừa. Những trường hợp được mọi người biết đến như thay kẻ khác nhảy vào hầm lửa, thay người khác vào địa ngục, đều được chép trong kinh điển Đại Thừa. Những bậc hiền tướng các đời như Vương Đạo, Tạ An đời Tấn, Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối đời Đường, Phạm Trọng Yêm, Tư Mã Quang, Lữ Mông Chánh đời Tống, Thoát Thoát đời Nguyên v.v… Các bậc danh tướng như Quách Tử Nghi, Mạnh Củng, Thích Kế Quang v.v… đều tin Phật sâu xa, là những bậc đại nho ở kinh đô, càng khó thể kể trọn. Há có chuyện trốn tránh xã hội ư?

4) Ông Tạ nói: “Nhưng chí cứu đời ấy khiến cho người ta vượt thoát xã hội, chẳng khiến cho con người thành tựu xã hội” (đây là phê bình). Tôi giải Các tôn giáo đều dự bị chỗ quy túc tối hậu. “Tối hậu” chính là thần hồn sau khi chết [sẽ đi về đâu]. Trong lời giải đáp cho câu hỏi trước, tôi đã có giải thích. Phật giáo nói “siêu” tức là nói theo kiểu thế tục “từ tam đồ siêu thăng làm người, hoặc từ người siêu thăng lên trời”. Nói với người học Phật, sẽ là “chuyển thức thành trí”. Đều chẳng phải là nói nhục thân hiện tại ẩn lánh trong chốn núi rừng là “siêu”! Đàn Kinh dạy: “Phật pháp trong thế gian, chẳng lìa thế gian giác”, tức là tu cái nhân ở ngay trong xã hội, thần thức chuyển đổi siêu xuất, trở thành quả. Chớ nên hiểu lầm, đảo ngược cái quả thành nhân! Nếu nói tới chuyện thành tựu xã hội, “thành tựu” chính là khiến cho [xã hội] có trật tự, lớp lang, lại còn an lạc. Nước ta là một xã hội theo kiểu nhân luân: Con người tụ tập thành gia đình, gia đình tụ hợp thành đất nước, thành xã hội, ắt phải tu thân, tề gia. Gia đã tề, nước bèn bình trị. Kinh Phật dùng giới để tu thân. Cách tổ chức trong tùng lâm (giống như trong một gia tộc) đã được bậc đại nho (tôi quên mất tên) ca ngợi là “lễ nhạc chi tồn, thân tu hỹ, gia tề hỹ” (lễ và nhạc được duy trì, thân đã tu, nhà đã yên). Khổng Tử nói: “Duy hiếu hữu vu huynh đệ, hề kỳ vị vi chánh” (Chỉ có hiếu thảo và hòa thuận cùng với anh em, đấy chính là thực hiện sự cai trị chánh đáng vậy), nhưng [ông Tạ] lại ngược ngạo chê trách là “chẳng thành tựu xã hội”, đúng là chưa suy nghĩ [chín chắn] vậy!

5) Ông Tạ nói: “Nhưng để khẳng định sự tồn tại của xã hội, chúng ta phải tiếp nhận luân lý về chữ Hiếu” (đấy là phê bình). Tôi giải thích: Tạ tiên sinh khẳng định hiếu và xã hội liên quan mật thiết, chẳng thể tách rời. Hễ chẳng thành tựu xã hội, sẽ là bất hiếu. Đối với chuyện xã hội, trong mục thứ tư [trên đây], tôi đã giải thích rõ ràng, chẳng cần rườm lời nữa! Hiếu Kinh của Nho gia, trong phần Khai Tông nhằm giảng rõ ý nghĩa, đã nói: “Thân thể phát phu, thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thỉ dã. Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dã” (Da, tóc nơi thân thể được nhận lãnh từ cha mẹ, chẳng dám tổn hại, đó là khởi đầu của lòng hiếu. Lập thân hành đạo, nêu danh cho đời sau, khiến cho cha mẹ nở mày nở mặt, đó là chung cục của lòng hiếu). Đức Phật dạy bảo muôn đời, là thầy của trời và người, độ chúng sanh vô lượng, được toàn thể cõi đời tôn kính, ngưỡng mộ. Phàm những ai thờ Phật, đều biết tên họ cha mẹ đức Phật, đó là rạng danh cha mẹ, há có ai hơn được ư? Lại nữa, hành đạo hiếu, có thiên tử, chư hầu, các quan khanh đại phu, nho sĩ, thứ dân v.v… khác nhau, mỗi người đều có lòng hiếu, có đạo riêng, hoặc nói, hoặc bàn đều chẳng đơn giản.

Nói thêm: Trong lời hỏi của Ngài có đến mấy điều, đều là viện dẫn từ sách Luân Lý Học Đại Cương của Tạ tiên sinh, lời lẽ quá rườm rà, nhưng ý nghĩa chỉ là như thế, cho nên tôi chỉ đáp hai câu hỏi, cũng có thể suy ra [lời giải đáp] cho những câu khác. Do “đất” dành cho cột báo này hữu hạn, chẳng có cách nào đăng tải trọn hết. Hơn nữa, đối với chuyện thuộc về tôn giáo, tin hay không, tự do! Chẳng hiểu nội dung tức là thuộc về mê, báng bổ cũng chẳng phải là trí. Huống hồ tại hạ tánh tình chậm chạp, há chịu tranh luận với người khác? Những điều này nhằm trả lời những câu hỏi của Ngài, chẳng phải là vô duyên vô cớ hướng về người khác sanh sự!