Thiền sư Khuê Phong Tông Mật có bốn câu nói lường xét giản biệt:
Một là “Tiệm tu Đốn ngộ”: như chặt cây, chặt dần dần từng mảnh đến một lúc chợt ngã đổ.
Hai là “Đốn tu Tiệm ngộ”: như người học bắn tên, mỗi mũi tên đều nhắm vào điểm đích.
Ba là “Tiệm tu Tiệm ngộ”: như lên đài cao chín tầng, chân bước dần lên cao, chỗ thấy cũng dần dần xa hơn.
Bốn là “Đốn ngộ Đốn tu”: như nhuộm một sợi tơ thì tất cả muôn sợi lập tức đều nhuộm thành màu sắc.
Bốn câu trên phần nhiều là từ khía cạnh “chứng ngộ” mà nói. Chỉ có “Đốn ngộ Tiệm tu” mới là khía cạnh “giải ngộ” mà nói. “Đốn ngộ Tiệm tu” ví như mặt trời chợt xuất hiện, còn sương móc thì ở dưới ánh sáng thái dương dần dần mới tiêu tan.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Khi mới phát tâm Bồ đề liền thành tựu đạo Giác ngộ Chân chánh, sau đó mới bước lên Sơ địa lần lần tu chứng”.
Nếu chưa tỏ ngộ mà tu thì chẳng phải chân tu, chỉ có Đốn ngộ Tiệm tu này, đã phù hợp với giáo nghĩa Phật thừa, lại không trái ngược với tông chỉ Viên giáo.
Hãy đem việc Đốn ngộ Đốn tu mà nói, trên thực tế ắt cũng đã trải qua sự Tiệm tu nhiều đời trong quá khứ mới có việc Đốn ngộ ở đời này.
Điều này cần phải do người học tự mình thân thiết thể nghiệm tu hành. Nếu lời nói và hành động đồng nhất, hành động và lời nói như nhau thì dung lượng của tâm sẽ rộng thênh vô hạn, có thể phù hợp với đạo lý chân thật. Lúc ấy, tám ngọn gió của thế gian không còn làm dao động, tâm đối với ba loại cảm thọ đều lặng lẽ, chủng tử trong thức A lại da và hiện hành đều tiêu mất, căn bản phiền não và tùy phiền não đồng thời diệt tận.
Nếu như chỉ từ khía cạnh lợi ích tự thân mà nói, thì cần gì phải nhờ vào sự huân tu vạn hạnh. Không có bệnh thì đâu cần uống thuốc.
Nếu như từ khía cạnh lợi ích người khác mà nói, mọi sự tu hành đều không nên buông bỏ. Nếu tự mình không tu hành, làm sao khuyên bảo dẫn dắt người khác?
Cho nên trong kinh Phật nói:
“Nếu như tự mình trì giới, mới có thể khuyên bảo người khác trì giới. Nếu tự mình tọa thiền mới có thể khuyên bảo người khác tọa thiền”.
Luận Đại Trí Độ nói:
“Ví như ông lão trăm tuổi nhảy múa, đó là vì dạy bảo con cháu”.
Bồ Tát trước dùng móc câu ưa thích dẫn dắt chúng sanh, sau đó mới khiến họ đi vào trí tuệ Phật.
Nếu có người tâm chấp trước ngoại vật chưa từng đoạn dứt, phiền não tập khí lại nặng nề, thấy sự vật liền sanh khởi tình chấp, tiếp xúc ngoại cảnh ngưng trệ chẳng thông, dù họ đã hiểu rõ nghĩa lý vô sanh nhưng vì sức mạnh chưa đầy đủ nên không thể chấp mà nói rằng: “Tôi đã thấu rõ bản chất của phiền não chỉ là rỗng lặng. Nếu khởi tâm tu lại trở thành điên đảo”.
Song mà, bản chất của phiền não tuy rỗng lặng, nhưng có thể tạo thành nghiệp quả. Nghiệp quả tuy không có tự tánh, nhưng có thể gây ra nguyên nhân khổ đau. Đau khổ tuy giả dối không thật nhưng rốt cuộc khó mà chịu đựng. Ví như có người bệnh nặng, bản chất của bệnh tật vốn rỗng không, thế thì cần gì phải mời thầy thuốc, uống các thứ thuốc men?
Do đó đủ biết, lời nói và hành động nếu trái ngược nhau thì giả dối và chân thật có thể được kiểm nghiệm. Hãy đo lường căn cơ sức lực của chính mình không nên tự lừa dối. Phải nhận chân chính chắn, xét kỹ ý niệm, phòng ngừa những điều sai quấy.