Home > Khai Thị Phật Học > -Tuy-Thuan-Bac-Dao-Su
Tùy Thuận Bậc Đạo Sư
| Hòa Thượng Thích Pháp Chánh, Việt Dịch


A4. Làm thế nào dùng chánh giáo dẫn đạo đệ tử theo thứ tự
B1. Y chỉ thiện tri thức, pháp là căn bổn của Đạo
C1. Muốn người học sinh khởi tâm quyết định nên khai thị sơ lược
D1. Hành tướng của vị thiện tri thức y chỉ
D2. Hành tướng của đệ tử y chỉ
D3. Pháp y chỉ như thế nào
E1. Pháp ý nhạo y chỉ
F1. Lòng tin thanh tịnh làm căn bổn
F2. Nhớ ơn sanh kính
E2. Pháp gia hành y chỉ
D4. Lợi ích của sự y chỉ
D5. Thua thiệt của sự không y chỉ
D6. Nói tổng quát ý nghĩa của sự y chỉ

A4. Làm thế nào dùng chánh giáo dẫn đạo đệ tử theo thứ tự.

B1. Y chỉ thiện tri thức, pháp là căn bổn của đạo.

Giả như trong tâm của hàng đệ tử sinh khởi một phần công đức, ắt giảm bớt một phần lỗi lầm. Tất cả căn nguyên của sự diệu thiện an lạc đều là do sự dạy dỗ của thiện tri thức, cho nên trước tiên, tu tập pháp y chỉ là điều rất quan trọng.

C1. Muốn người học sinh khởi tâm quyết định nên khai thị sơ lược.

D1. Hành tướng của vị thiện tri thức y chỉ.

Hành tướng của vị thiện tri thức, tùy theo mỗi tông phái mà có cái nhìn khác nhau; thế nhưng ở đây, vị thiện tri thức mà chúng ta muốn đề cập đến là người có thể dẫn dắt các hành giả tu tập ba đường đạo (hạ, trung, thượng), đạt đến quả Phật của Đại thừa. Trang Nghiêm Kinh Luận nói: “Bậc thiện tri thức cần phải đầy đủ (1) giới, (2) định, (3) tuệ, (4) thắng đức (công đức vượt hơn đệ tử), (5) tinh tiến, (6) học rộng (đa văn), (7) thông đạt thực tướng, (8) có tài giảng pháp, (9) tâm địa từ bi, (10) không nhàm chán việc giảng pháp.” Điều này muốn nói, người đệ tử phải tìm một vị thiện tri thức có đủ mười điều kiện nêu trên để y chỉ. (1) Đầy đủ giới: Nếu như chưa thể tự điều phục thì không thể điều phục người khác, cho nên những bậc thầy, trước tiên phải nên điều phục chính mình. Nếu vậy, làm thế nào để tự điều phục? Giả như tu tập để người khác ca ngợi mình là người có đức hạnh, có tu chứng, thì không thể nào làm lợi ích chân thực cho người khác, mà cần phải tùy thuận lời dạy tổng quát của Đức Như Lai. Chẳng hạn ba học giới định tuệ đều là công cụ để điều phục thân tâm, nhưng công cụ chính yếu lại chính là giới học. Như Biệt Giải Thoát Kinh nói:

Ngựa tâm khó kềm thúc,
Rong ruổi không ngừng nghỉ,
Giới luật như dây cương,
Có hàng trăm mũi nhọn.

Phải giống như nài ngựa, dùng dây cương cứng chắc, điều phục cái tâm rong ruổi theo tà cảnh. Lại cũng giống như điều phục ngựa hoang, không cho nó chạy đến chỗ nó muốn, và phải tinh tiến thúc dục nó đến những chỗ nó không muốn. Do học tập giới này, ắt có thể điều phục tâm tánh của mình. (2) Đầy đủ định: Nghĩa là đối với sự chỉ (không làm), tác (làm) của những hành vi thiện, ác, phải nên y vào chánh niệm và chánh tri, nội tâm an định, tịch tĩnh, từ đó phát sinh thiền định. (3) Đầy đủ tuệ: nghĩa là nương tựa vào pháp chỉ, quán sát chân đế, sẽ phát sinh tịnh tuệ. (6) Như vậy, tuy đầy đủ đức hạnh tu chứng của ba học, nhưng không nên vội cho là đủ, mà cần phải thông suốt Tam tạng, đầy đủ đa văn. Như ngài Geshe Đôn Ba nói: “Bậc thầy Đại thừa, bất luận nói ra một vấn đề gì, cần phải quán thông vô lượng ý nghĩa của kinh điển, lúc đang tu trì, phải hiểu rõ công năng thành tựu của ba học, đối với đệ tử, cần phải hiểu

rõ tâm hành của họ.” (7) Thông đạt thực tướng hoặc thông đạt giáo lý, nghĩa là đã dùng thắng tuệ để thông đạt, hoặc đã chân thực chứng đắc lý vô ngã; nếu như chưa được như vậy, thì dùng giáo lý để thông đạt lý vô ngã cũng được. (4) Lại nữa, tuy thông đạt giáo lý, nếu như công đức tu hành, hoặc kém hơn, hoặc chỉ ngang bằng với đệ tử, thì cũng không đủ tư cách làm thầy, cho nên kẻ muốn làm thầy, công đức bắt buộc phải vượt hơn đệ tử. Đầy đủ giới luật sẽ được thiền định tịch tĩnh và trí tuệ thù thắng. Nếu y chỉ vị thầy cao hơn mình, thì có ngày sẽ vượt hơn vị đó. Như ngài Phổ Khung Ngõa nói: "Khi ta nghe truyện ký (sự tích) của các bậc tiền bối, tự nhiên sanh khởi tâm hướng thượng.” Ngài Tháp Ý cũng nói: “Các vị tôn túc ở chùa Nhạ Chân chính là những bậc gương mẫu của ta và những kẻ hậu học sau này.” Thế nên phải biết rằng công đức của vị thiện tri thức cần phải vượt hơn những đệ tử y chỉ.

Sáu công đức vừa nêu trên chỉ là hành tướng tự lợi của vị thầy, còn những công đức khác là công đức nhiếp thọ chúng sanh. Như nói:

Phật không rửa tội cho chúng sanh,
Không tự tay dứt khổ cho họ,
Không đem công đức cho kẻ khác,
Mà chỉ thuyết pháp giúp giải thoát.

Ý của bài kệ muốn nói rằng bậc thiện tri thức muốn thành thục người khác, ngoài việc giảng dạy chánh pháp, làm cho họ tùy thuận mà tu tập ra, không có những sự việc nào khác, chẳng hạn như dùng nước rửa tội, v.v... Trong bốn công đức sau, (8) có tài giảng pháp, nghĩa là dùng phương pháp khéo léo đem lời giảng dạy của mình thấm nhuần vào tâm của đệ tử, (9) tâm địa từ bi, tức là giảng pháp với tâm thanh tịnh, chứ không phải vì cầu lợi dưỡng cung kính. Ngài Bác Đóa Ngõa nói: “Này Lý Mạt Bổ! Ta tùy thuận tâm ý chúng sanh mà giảng pháp, nhưng chưa bao giờ cho rằng mình giảng giỏi, mà chỉ quán xét chúng sanh là những kẻ khổ não đang cần cứu giúp.”

(5) Đầy đủ tinh tiến, nghĩa là kiên quyết dũng mãnh làm lợi ích chúng sinh. (10) Không hề nhàm mỏi trong việc giảng pháp [độ sinh], nghĩa là thường thường thuyết pháp không biết mỏi mệt, có thể nhẫn chịu những chướng nạn trong công việc giảng pháp. Ngài Bác Đóa Ngõa nói: “Đầy đủ ba học, thông đạt thực tướng, tâm địa từ bi, năm điều này là chính. Ngài A xà lê Dáng Tôn Cổn của tôi, tuy không học rộng, không nhẫn chịu sự nhàm mỏi, không giỏi giảng pháp (người nghe không hiểu lời giảng của ngài), thế nhưng, vì đầy đủ năm công đức nói trên, kẻ nào gần gũi ngài cũng đều được lợi ích. Lại như ngài Ninh Đôn không có tài ăn nói, chẳng hạn, có một lần ngài chú nguyện cho thí chủ, mà mọi người chung quanh không hiểu là ngài đang nói gì, thế nhưng, vì đầy đủ năm công đức vừa nói, ngài cũng có thể làm lợi ích cho hàng đệ tử của mình.”

Trong thời mạt pháp này, tuy những bậc thầy đầy đủ công đức rất hiếm có, thế nhưng, vẫn không thể y chỉ những vị mà lỗi lầm, hoặc bằng hoặc nhiều hơn công đức, mà vẫn phải đi tìm y chỉ những vị có công đức nhiều hơn lỗi lầm. Bậc thầy y chỉ là căn bổn của vạn điều thiện, cho nên những ai muốn y chỉ các bậc thầy để tu tâm phải nên biết rõ những điều kiện mà các bậc thầy phải đầy đủ để khỏi phải tìm lầm. Còn những bậc muốn làm thầy y chỉ cho đệ tử cũng phải nỗ lực tu tập những điều kiện cần phải có vừa mới nêu trên.

D2. Hành tướng của đệ tử y chỉ.

Tứ Bách Tụng nói:

Chất trực, trí tuệ, cầu pháp nghĩa,
Đây là người có thể nghe pháp,
Không nên nhìn lỗi người giảng pháp,
Cũng không nhìn lỗi của người nghe.

Nghĩa là hàng đệ tử y chỉ phải có đầy đủ ba công đức trong bài kệ, mới được gọi là có thể nghe pháp. Không những

không nhìn lỗi của người giảng pháp, mà cũng không nhìn lỗi của người nghe pháp khác. Nếu đệ tử thiếu tư cách nghe pháp, thì dù cho vị thầy cực kỳ thanh tịnh, kẻ đệ tử cũng chỉ nhìn thấy toàn là lỗi lầm; hoặc ngược lại, thấy những lỗi lầm của vị thầy lại cho là công đức. Chất trực, nghĩa là không kết bè phái (không có óc thiên vị), nếu như kết bè phái, thì sẽ không thấy công đức của người giảng pháp, mà cũng không thể hiểu rõ ý nghĩa thâm sâu. Như Trung Quán Tâm Luận nói:

Vì tâm thiên vị nên sầu não Chung cuộc không thấy pháp Niết bàn.

Nếu phân biệt phe phái, thì sẽ ưa thích những người cùng phe, và ghét bỏ những kẻ không cùng phe. Phải nên quán xét tự tâm, nếu như có tâm bè phái thì phải nên sám hối cải đổi. Tuy có tâm chất trực, nhưng nếu không có trí tuệ phân biệt pháp chánh, pháp tà, hoặc pháp tương tự, thì cũng không đủ tư cách nghe pháp; bởi thế, cần phải có trí tuệ phân biệt. Lại nữa, tuy có tâm chất trực và trí tuệ phân biệt, nếu như không chịu y theo pháp mà tu tập, thì không đủ tư cách, cho nên phải siêng năng cầu ý nghĩa của pháp để tu hành. Trong phần giải thích, thêm vào hai điều kính pháp kính thầy và nhiếp tâm nghe pháp, thành năm công đức của người nghe pháp. Như vậy, (1) cầu ích lợi của pháp, (2) khéo nhiếp tâm nghe pháp, (3) kính pháp kính thầy, và (4) phân biệt thủ xả pháp thiện ác, tổng cộng là bốn. Phân biệt thủ xả pháp thiện ác tức là đầy đủ trí tuệ; xả bỏ lời giảng ác tức là có tâm chất trực. Tự thẩm xét những điều sư trưởng dẫn đạo tu hành có chu toàn hay không, nếu chu toàn thì hoan hỷ tiến tu, còn nếu không thì sau đó từ từ tìm pháp chu toàn mà nỗ lực tu tập.

D3. Pháp y chỉ như thế nào.

Kẻ đệ tử có đủ tư cách y chỉ phải nên quán xét vị thầy xem ngài có đủ điều kiện nêu trên hay không, nếu đầy đủ thì nên y chỉ để tu học. Có hai phần:

E1. Pháp ý nhạo y chỉ.

F1. Lòng tin thanh tịnh làm căn bổn.

Bảo Cự Đà La Ni Kinh nói:

Lòng tin dẫn đạo, giống như mẹ Sản sanh, nuôi lớn các công đức.

Lòng tin làm cho những công đức chưa phát sanh sẽ được phát sanh, còn những công đức đã phát sanh sẽ được vững chắc, dần dần hướng thượng tăng trưởng. Thập Pháp Kinh nói:

Dùng phương tiện nào để thành Phật?
Lòng tin là cỗ xe thù thắng,
Bởi thế, những người đủ trí tuệ,
Phải tùy tịnh tín mà tu hành,
Còn những người không có lòng tin,
Sẽ không tu tập được pháp thiện,
Giống như hạt giống bị đốt cháy,
Sao còn có thể nảy mầm non?

Trong tất cả pháp môn, lòng tin là căn bổn cho tất cả công đức. Nói tổng quát, có nhiều loại lòng tin, chẳng hạn như lòng tin đối với Tam bảo, nghiệp quả, Tứ đế, v.v... Điều ở đây muốn nói là lòng tin đối với thầy. Thế nhưng, phải tin thầy như thế nào? Kim Cang Quán Đảnh Kinh nói: “Này Bí mật chủ! Người học pháp phải nên quán tưởng vị A xà lê như thế nào? Phải nên xem như Phật!” Các kinh điển Đại thừa và các bộ Quảng luật đều nói tương tự như vậy. Nghĩa này là thế nào? Thông thường, người phàm đối với Đức Phật, không dám khởi ý tưởng vạch lỗi, mà thường suy ngẫm công đức của ngài. Người học pháp đối với vị thầy của mình, cũng phải nên quán tưởng như Phật. Kinh trên lại nói:

Nhớ tưởng công đức thầy,
Chớ nên tìm khuyết điểm,
Thì sẽ thấy công đức,
Và không còn thấy lỗi.

Giả như, do vì phóng dật, hoặc do phiền não bộc phát, bỗng nhiên sinh khởi ý tưởng tìm lỗi của thầy, thì phải nên hết sức sám hối cải đổi. Nếu tu tập như thế, thì dù thấy thầy có chút ít lỗi lầm, nhưng vì thường hay nghĩ tưởng đến công đức thầy, cho nên sự kiện này cũng không làm chướng ngại lòng tin. Chẳng hạn, tôn giả Atisha thuộc trường phái Trung Quán, Kim Châu Đại Sư thuộc trường phái Duy Thức, nếu luận về kiến giải thì có sự hơn kém, thế nhưng, tôn giả Atisha lại y chỉ Kim Châu Đại sư để học tập về thứ đệ tu tập Đại thừa và Bồ đề tâm, vì thế tôn giả Atisha thừa nhận Kim Châu Đại Sư là vị thiện tri thức có ơn dạy pháp lớn nhất, không ai sánh bằng.

F2. Nhớ ơn sanh kính.

Thập Pháp Kinh nói: “Đối với bậc thiện tri thức, nên tưởng nghĩ như vầy: ‘Đây là bậc đã tìm kiếm mình trong dòng sinh tử bôn ba, là bậc đã đánh thức mình từ những giấc mơ ngu si trong những đêm dài tăm tối, là bậc đã cứu vớt mình từ sự chìm đắm trong biển tham ái, là bậc đã giải phóng mình ra khỏi ngục tù của ba cõi, chỉ con đường thiện khi mình lạc vào nẻo ác, làm vị lương y chữa trị cho mình qua khỏi cơn bệnh ngặt nghèo, làm cơn mưa mát mẻ khi mình bị cụm lửa tham sân thiêu đốt.’” Hoa Nghiêm Kinh nói:

Bậc tri thức giảng pháp cho tôi,
Khai thị công đức của các pháp,
Giảng giải những Bồ tát uy nghi,
Một lòng thương tưởng mà đến đây,
Sinh trưởng pháp lành như mẹ ruột,
Mớm sữa công đức như nhũ mẫu,
Dạy dỗ tu tập đạo Bồ đề,
Ngăn chận diệt trừ mọi tổn não,
Giải thoát “già chết” như thánh dược,
Như trời Đế Thích mưa cam lộ,
Tăng trưởng pháp thiện như trăng tròn,
Chỉ rõ Niết bàn như ánh nhật,
Đối với oán, thân lòng như núi,
Lại như biển cả không động dao,
Cứu vớt tất cả như thuyền sư,
Đồng tử Thiện Tài nghĩ như vậy,
Bồ tát khiến tôi phát đại tâm,
Lại khiến phát tâm cầu Bồ đề,
Những tri thức này, Phật khen ngợi,
Dùng lòng thiện ấy mà đến đây,
Cứu hộ thế gian như dũng sĩ,
Như người buôn, tất cả nương nhờ,
Làm tôi an lạc, mở tuệ nhãn,
Xin đem lòng thiện phụng sự ngài!

Lúc chúng ta đến yết kiến thiện tri thức, nên nhớ niệm bài kệ này, chỉ cần đổi tên Thiện Tài thành tên mình là được.

E2. Pháp gia hành y chỉ.

Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng nói:

Đây không cần nói nhiều,
Điều thầy vui thì làm,
Thầy không vui, chớ làm,
Việc làm cần nỗ lực,
Thành tựu A xà lê,
Ngài Trì Kim Cang nói:
Thông thạo xong mọi việc,
Phải kính phụng sư trưởng.

Nói tóm, điều nào thầy hoan hỷ thì làm, nếu thầy không hoan hỷ, chớ làm. Đối với những điều thầy hoan hỷ, chia làm ba loại: (1) cúng dường tài vật, (2) phụng sự hầu hạ, (3) theo lời dạy mà tu hành. Trang Nghiêm Kinh Luận nói:

Cúng dường tài lợi, cùng hầu hạ,
Theo đúng lời dạy mà tu hành

Đối với phần (1), như Ngũ Thập Tụng nói: “Đối với sư trưởng nên hoan hỷ tu pháp cúng dường, ngay cả thân mạng còn không tiếc, huống hồ tài vật”; lại nói: “Đối với vị thầy quán đảnh, mỗi ngày ba thời lễ bái hầu hạ tức là đã cúng dường mười phương chư Phật”; (2) kế đó là hầu hạ chăm sóc sức khoẻ, ca ngợi tán thán công đức của thầy; (3) cuối cùng, y theo lời dạy mà tu hành, không nên trái nghịch. Trong ba điều kiện trên, điều thứ ba là chủ yếu. Bổn Sanh Kinh nói: “Cúng dường báo ơn thầy nghĩa là y theo lời dạy mà tu hành.”

D4. Lợi ích của y chỉ.

Nhờ y chỉ thiện tri thức đúng pháp nên dễ chứng đắc quả Phật, chư Phật vui lòng, thường được gần gũi các bậc thiện tri thức, không bị đọa vào ba đường ác, sớm đoạn trừ tất cả phiền não ác nghiệp, tư lương công đức dần dần tăng trưởng, hiện tiền thành tựu tất cả nghĩa lợi. Lại nữa, người cung kính phụng sự thiện tri thức, tất cả nghiệp ác mà họ tích tập, đáng lẽ sẽ phải chịu ác báo, thì trong đời này chỉ bị những quả báo nhẹ, chẳng hạn như thân tâm hơi bất an, hoặc trong mộng thấy bị những khổ não nhẹ, nhờ đó mà tất cả nghiệp ác dần dần bị tiêu diệt. Thiện căn của sự kính phụng thiện tri thức này, so ra còn thù thắng hơn công đức cúng dường vô lượng chư Phật. Sự lợi ích quả thật to lớn như thế.

D5. Thua thiệt của sự không y chỉ.

Nếu như không chịu y chỉ thiện tri thức đúng pháp, đời này dễ bị bệnh tật, dễ bị ma chướng xâm hại, đời sau đọa vào ác đạo, nhận chịu vô lượng khổ não. Ngũ Thập Tụng nói:

Đừng khiến A xà lê,
Khởi chút ít buồn giận,
Nếu vô tri ngỗ nghịch,
Sẽ đọa ngục a tỳ,
Chịu vô lượng khổ não,
Nói đến thật đáng sợ,
Vì hủy báng thầy mình,
Sẽ thường ở trong đó.
Trong kinh có nói:
Dù nghe bài kệ ngắn,
Nếu không thờ phụng thầy,
Trăm kiếp sinh làm chó,
Đầu thai dòng ti tiện.

Lại nữa, các công đức chưa sinh sẽ không sinh, đã sinh rồi sẽ tiêu tán, thường ở chung với ác tri thức và bạn ác, khiến cho tổn giảm công đức, tăng trưởng lỗi lầm, nảy sinh nhiều chuyện bất hạnh, cho nên cần phải đoạn trừ tất cả nguyên nhân có thể chiêu cảm quả báo khổ não.

D6. Nói tổng quát ý nghĩa của sự y chỉ.

Phần trên là những lời dạy chung của các bậc cổ đức, nếu như chỉ ghi nhớ qua loa, e rằng không đủ. Hành giả phải sinh lòng quyết định, đối với các bậc thiện tri thức đầy đủ đức hạnh, dẫn đạo không sai lầm đó, phải nên y chỉ lâu dài để tu học. Như ngài Già Khách Ba nói: “Lúc y chỉ thầy, chỉ sợ phạm lỗi lầm làm tổn giảm thiện căn.” Đại khái, nếu không biết pháp y chỉ, không những không được lợi ích mà còn bị tổn hại. Pháp y chỉ này so ra còn quan trọng hơn các pháp khác, bởi vì nó là căn bổn cho tất cả sự lợi lạc sau này. Chúng ta vì phiền não sâu nặng, lại không biết phương cách phụng sự sư trưởng, hoặc biết mà không chịu làm, cho nên phần lớn đã phát sinh tội chướng.

Điều này phải nên nỗ lực sám hối, sửa đổi, giữ gìn. Nếu có thể thừa sự được như vậy, không bao lâu chúng ta sẽ được như ngài Thường Đề Bồ Tát, hoặc như ngài Thiện Tài Đồng Tử, tìm cầu thiện tri thức không biết nhàm chán mỏi mệt.

Từ Ngữ Phật Học Trong:  Tùy Thuận Bậc Đạo Sư