Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Quan-The-Am-Bo-Tat-Nhi-Can-Vien-Thong-Chuong-Tap-13

Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương Tập 13
Hòa Thượng Thích Tịnh Không | Dịch Giả : Hạnh Chơn

Xin mời mở kinh ra!

Năng linh chúng sanh, trì ngã danh hiệu, dữ bỉ cộng trì, lục thập nhị ức hằng hà sa, chư pháp vương tử, nhị nhân phước đức chánh đẳng vô dị”. Đoạn kinh văn này nói về xưng danh vô úy.

Từ đoạn này chúng ta thấy được công đức của danh hiệu Bồ Tát không thể nghĩ bàn. 62 ức hằng hà sa Bồ Tát, số lượng này thực sự không thể nào tính đếm được. Bồ Tát là tự lợi lợi tha, tượng trưng cho các loại pháp môn, mỗi mỗi sai biệt, ý nghĩa chính là tại đây vậy.

Trong Kinh Phật Danh chúng ta thấy đức Thế Tôn nói cho chúng ta biết hơn 10.000 đức Phật, danh hiệu của Phật, Bồ Tát, thực sự mà nói lại càng nhiều hơn. Trong Kinh Hoa Nghiêm chúng ta hiểu rõ Bồ Tát tượng trưng cho pháp môn tu hành ở nhân địa. Phật tượng trưng cho công đức viên mãn trên một địa cầu, một vị Phật, một vị Bồ Tát chỉ tượng trưng cho một loại pháp môn.

Trong tất cả chư Phật Bồ Tát có hai vị rất đặc biệt. Giống như Phật A Di Đà, trong Kinh Nhật Tụng chúng ta đều đọc “pháp giới tàng thân A Di Đà Phật”, quí vị thấy những vị Phật khác không có thêm dòng chữ như. Thêm vào dòng chữ như vậy tức niệm một đức A Di Đà Phật là đã niệm đến tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, tất cả đều đã niệm đến. Tức là quí vị niệm danh hiệu một Đức Phật thì tương đương với niệm danh hiệu của tất cả chư Phật.

Trong hàng Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát rất đặc biệt, chỉ cần niệm một câu Quán Thế Âm Bồ Tát tức là niệm 62 ức hằng hà sa số Bồ Tát, điều này quả thật không thể nghĩ bàn. Đây chính là nói Quan Âm Bồ Tát, A Di Đà Phật danh hiệu này tượng trưng cho pháp môn này, đây là pháp môn tổng trì, gọi là “tổng nhất thiết pháp, trì nhất thiết nghĩa”, đây là công đức không thể nghĩ bàn, điểm này chúng ta phải hiểu được.

Huống gì Bồ Tát rất có nhân duyên với chúng sanh trong thế giới Ta bà, nhân duyên này từ đâu mà có? Đều giống nhau là nhĩ căn nhạy bén nhất. Bồ Tát tượng trưng nhĩ căn viên thông, chúng sanh thế giới Ta bà cũng là nhĩ căn sắc bén nhất. Cho nên Quan Âm Bồ Tát chứng viên thông chính là một môn nhĩ căn, từ trong tánh nghe được nhất tâm bất loạn. Trong nhà thiền gọi là minh tâm kiến tánh, sau khi kiến tánh liền có năng lực dùng một thân ứng vô lượng thân, dùng một tâm ứng vô lượng tâm của chúng sanh.

Tuần trước có đồng học nêu ra vấn đề này, chúng tôi cũng đã giải thích qua cho quí vị. Bồ Tát dùng một thân để ứng vô lượng thân, dùng một tâm ứng vô lượng tâm. Vậy rốt cuộc Ngài có một thần thức hay là có nhiều thần thức? Có một vị đồng tu đã nêu ra vấn đề này. Thật tình mà nói, vấn đề này là phàm phu chúng ta dùng kiến lượng của mình để đo lường cảnh giới của Phật Bồ Tát. Tôi dùng một câu trong kinh điển “vô hữu thị xứ”, không có cách nào, không làm được. Cảnh giới của chư Phật Bồ Tát, tư duy và tưởng tượng của chúng ta không thể đến được, cảnh giới này cũng không thể dùng mấy câu để giải thích một cách rõ ràng được. Người căn tánh lanh lợi một câu có thể nói rõ, người căn độn thì càng nói càng mê hoặc, đương nhiên nói nghe đều cần có phương tiện thiện xảo, điểm này cũng vô cùng quan trọng.

“Tùy tâm chúng sanh, ứng ra như thế, tuân nghiệp phát hiện” đoạn này nói về chư Phật Bồ tát ứng hóa tại thế gian. Nghiệp ở đây không phải là nghiệp của chư Phật Bồ Tát, chư Phật Bồ Tát không còn tạo nghiệp nữa, vì thế mới có thể tuân theo nghiệp cảm của chúng sanh. Chúng sanh có nghiệp cảm, Phật Bồ Tát liền có ứng. Vô lượng vô biên chúng sanh có nghiệp cảm, Phật Bồ Tát liền hiện vô lượng vô biên thân, mỗi mỗi tại đó đều được cảm ứng.

Hiện tại đạo lý mà chúng ta nghĩ chưa thông, có một cửa ải chưa đột phá được. Đó chính là mê nơi thần thức này, rốt cuộc là một hay là nhiều? Nghi một hay nhiều đều là mê! Chưa thể phá được cánh cửa này, tức là chưa thể phá mê này. Một và nhiều là nhị biên, lúc chúng ta thoát ra khỏi nhị biên thì ta có thể thấy được đạo. Sau khi thấy đạo thì sự việc này mới bỗng chốc rõ ràng, không còn có nghi hoặc nữa. Vấn đề này hiện tại đang quấy nhiễu chúng ta, chúng ta tạm thời có thể đặt nó sang một bên. Vì sao vậy? Thần thức Bồ Tát một cũng được mà nhiều cũng được, tạm thời không quan tâm đến nó.

Trước tiên chúng ta cầu nhất tâm mới quan trọng, nếu như vấn đề này không buông xuống được thì đích thực sẽ chướng ngại ta chứng nhất tâm bất loạn, vậy thì thiệt thòi lớn rồi. Người học Phật, căn lợi một nghe ngàn ngộ, rất tốt không vấn đề gì. Người căn độn, thì có cách của người căn độn, tôi không hiểu, không hiểu cũng không sao, không hiểu thì đừng quan tâm đến nó, cũng không hoài nghi, chỉ cầu nhất tâm bất loạn. Bản thân đạt đến nhất tâm bất loạn thì những vấn đề này đều được giải quyết hết.

Đây là biện pháp tốt, cho nên trong Phật Pháp bất luận là Tông môn hay Giáo môn, điều lấy việc cầu căn bản trí làm việc lớn hàng đầu. Phàm là việc chướng ngại căn bản trí tất cả đều không để ý đến nó, không để cho nó chướng ngại chúng ta, vậy là đúng. Một tức nhiều, nhiều tức một, hàm dung chu biến, tự tại vô ngại. Cảnh giới này là cảnh giới của chư Phật và đại Bồ Tát. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói rất tường tận, trong Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Viên Giác và Đại thừa Khởi Tín Luận đối với những vấn đề này đều có những thuyết minh rất sâu sắc thấu triệt, hi vọng quí vị lưu ý nhiều hơn.

Bồ Tát trú tại cảnh giới giải thoát không thể nghĩ bàn, nên ở đây nói 62 ức hằng sa Bồ Tát chứng đắc pháp môn này. Giống như trong Kinh Hoa Nghiêm dùng 53 vị Bồ Tát để làm tượng trưng, lược thuyết cho năm mươi mấy pháp môn.

Những vị Bồ Tát này chứng được pháp môn không tách rời pháp giới tuệ hải mà Quán Thế Âm Bồ Tát đã chứng, tuệ này là tuệ trong trí tuệ. Công đức danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát và 62 ức hà sa Bồ Tát, Bồ Tát ở đây không phải là Bồ Tát thông thường, trong kinh gọi là pháp vương tử. Pháp vương tử thông thường đều xưng cho Đẳng giác Bồ Tát, xưng là pháp vương tử. Đẳng giác trở xuống thì xưng đại Bồ Tát ma ha tát, Đẳng giác Bồ Tát mới có tư cách xưng pháp vương tử. Từ đó có thể biết, 62 ức hằng hà sa chư vị Bồ Tát này đều chứng Đẳng giác Bồ Tát vị. Danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát tương đồng với họ.

Nếu như chúng ta niệm 62 ức hàng sa Bồ Tát thì mệt chết mất, e rằng một vị Bồ Tát chỉ niệm một lần cả đời cũng niệm không hết. Nếu niệm từ sáng đến tối 24 tiếng đồng hồ không gián đoạn suốt 100 năm cũng niệm không xong 62 ức hằng sa số bồ tát. Nhưng chỉ cần chúng ta niệm một câu Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát là thọ trì 62 ức hằng hà sa Bồ Tát, công đức này đã tương đồng rồi. Đây thực sự là không thể nghĩ bàn.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhất định không nói lời dối trá. Điều này Quán Thế Âm Bồ Tát nói, đối diện với Phật Thích Ca Mâu Ni mà nói, vậy thì làm sao mà giả được? Nếu như Quán Thế Âm Bồ Tát nói quá, vậy thì Phật lập tức quở trách, quở trách Ngài nói quá đáng. Phật không những không quở trách mà còn tán thán, có thể thấy lời này là lời chân thật không giả dối. Chúng ta nhất định phải tin tưởng.

Tại Trung Quốc từ xưa đến nay người chuyên môn thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát rất nhiều, dựa theo pháp môn này mỗi thời đại đều có rất nhiều người. Tu pháp môn Quan Âm thì nhất định phải biết Quan Âm tam kinh. Trong ba kinh này hiện nay chúng ta xem chương này, đây là Quan Âm Bồ Tát Kinh. Nhĩ Căn Viên Thông Chương trong Kinh Lăng Nghiêm nếu như không rõ ràng thì nhớ là quyển thứ sáu, quyển thứ sáu trong Kinh Lăng Nghiêm. Phẩm Phổ Môn trong Kinh Pháp Hoa là Quán Thế Âm Bồ Tát Kinh. Kinh Hoa Nghiêm có chương Quán Tự Tại là Quán Thế Âm Bồ Tát Kinh. Quí vị thấy Quán Thế Âm Bồ Tát Kinh đều nằm trong đại kinh, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Nghiêm. Đây là điều mà người tu pháp môn Quan Âm không thể không biết, không thể không xem.

Pháp môn này giống như pháp môn Di Đà, cũng là ‘tam căn phổ bị, lợi độn toàn thu’. Hạng người thượng thượng căn thọ trì nhĩ căn viên thông rất dễ dàng khai ngộ, được nhiều lợi ích. Những người độn căn nghiệp chướng sâu nặng y theo pháp môn này mà tu học cũng có rất nhiều cảm ứng không thể nghĩ bàn. Có thể thấy được pháp môn này thật là từ bi rộng lớn!

“Phước đức chánh đẳng”, nếu y theo kinh này đã nói thì Bồ Tát đang ám thị cho chúng ta trong 25 loại pháp môn tu hành thì Nhĩ căn viên thông thù thắng nhất. Vì sao vậy? Đoạn trước hai mươi bốn viên thông chúng ta đều không nhìn thấy một xưng danh có thể tương đương với phước đức của 62 ức hằng hà sa pháp vương tử, không nhìn thấy. Duy chỉ có trong đoạn này chúng ta nhìn thấy, đây chính là hiển thị sự thù thắng của nhĩ môn, tức là trong tất cả viên thông chương thì nhĩ căn viên thông thù thắng nhất. Nhưng lời Ngài không có nói rõ, chỉ ngầm bao hàm có ý nghĩa này. Chư vị xem kỹ sẽ phát hiện được, nói rõ thì sau này mới có.

Sau này lúc lựa chọn viên thông Bồ Tát Văn Thù đã nói ra. “thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm thanh”. Bồ Tát Văn Thù nói cho chúng ta, Bồ Tát Quán Thế Âm không cần thiết tự giới thiệu, không cần đích thân khoe khoang, mà do Bồ Tát Văn Thù nói. Ngài nói đến đây, trên thực tế đã ngầm bao hàm ý nghĩa này rồi.

Chúng ta xem tiếp đoạn kinh văn dưới: “Thế tôn, ngã nhất danh hiệu”. “Ngã’ là Quán Thế Âm Bồ Tát tự xưng. “Dữ bỉ chúng đa danh hiệu vô dị”. ‘Chúng đa’ tức danh hiệu của 62 ức hằng hà sa pháp vương tử, không có sai khác. Một danh hiệu tương đương với danh hiệu của 62 ức hằng hà sa pháp vương tử. Nguyên nhân là gì vậy? “Do ta tu tập chứng được chân viên thông”, đạo lý chính là đây.

Chúng ta phải hiểu được danh hiệu chỉ là âm thanh, âm thanh chính là Như Lai tạng tánh. Ở đây phải đặc biệt chú ý đến chưa thông đạt về Như Lai tạng tánh, hàng phàm phu nhị thừa cho đến quyền giáo Bồ Tát đều chưa thông đạt tạng tánh. Vì nguyên nhân gì mà họ không thể thông đạt? Trong tất cả kinh điển Đại thừa, Phật đã nói chúng ta chỉ vì tình kế mà thôi. Tình là tình thức, kế là đo đếm phân biệt, đức Thế Tôn một câu đã nói rõ cho chúng ta.

Nói cách khác, sở dĩ chúng ta không thể chứng được nhất tâm, đoạn phiền não, khai trí tuệ, minh tâm kiến tánh, chướng ngại chính do nơi đây vậy, vì vậy tu hành là tu những gì? Là phá tất cả tình chấp mà thôi. Tình chính là tâm vọng tưởng, là vọng tưởng. Chấp là chấp trước, không có gì khác, thiên kinh vạn luận chỉ vì điều này.

Tình kế không đoạn thì sanh tử luân hồi này vĩnh viễn không thể nào dứt được. Đời đời kiếp kiếp thực sự rất phiền phức, vĩnh viễn không thể nào thoát khỏi. Trong quá trình không thể nào thoát khỏi đó, chư vị phải biết càng luân hồi càng khổ, đây là đạo lý chắc chắn. Nếu cho rằng tôi đời sau nhất định phải tốt đẹp hơn đời này, chính mình vọng tưởng.

Pháp thế gian chúng ta có một câu nói, đời sau không bằng đời trước. Lời này rất có lý, chúng ta thử lật sách lịch sử ra mà xem, từ khi có lịch sử phát triển mãi cho đến ngày nay quả báo, nghiệp chướng của nhân loại đích thực là đời trước tốt hơn đời sau.

Chớ cho rằng hình như chúng ta ngày nay khoa học phát triển rồi, tất cả những thọ dụng của chúng ta đều tiến bộ hơn cổ nhân, được hưởng thụ nhiều hơn cổ nhân. Không sai, đúng vậy, đây là sự thật, nhưng là hưởng thụ trên mặt vật chất. Nếu như quí vị xem xem hưởng thụ trên mặt tinh thần, vậy thì không bằng cổ nhân rồi. Từ phương diện hưởng thụ tinh thần mà nói đích thực là đời sau không bằng đời trước, từ phương diện hưởng thụ vật chất thì ngày càng tốt hơn. Bình luận về giá trị của hai điều này thì cuộc sống tinh thần quan trọng hơn cuộc sống vật chất rất nhiều, trong cuộc sống tinh thần có niềm vui chân thật.

Thời đại của Khổng Tử, Nhan Hồi cơm trong ống nước trong bầu ông vẫn không đổi niềm vui, niềm vui của ông ấy là gì? Mỗi ngày ngay cả cơn ăn cũng không no, ông ấy vẫn an vui. Đó chính là gì? Ông có cuộc sống tinh thần phong phú. Tuy rất nghèo khó, nhưng ông tự tại, an vui. Một người có cuộc sống rất an vui, đó chính là nhân sinh. Trên vấn đề vật chất mọi thứ đều không thiếu, cuộc sống rất đau khổ, cuộc đời này chẳng có giá trị gì nữa.

Quí vị xem nước Mỹ có một ông chủ lớn, tài sản cá nhân của ông ta hơn 2 tỷ mỹ kim, trên thế giới ít có những người giàu như vậy. Trong cuộc sống vật chất ông ấy có lẽ muốn gì có nấy, song  cuộc sống tinh thần đau khổ vô cùng. Có người hỏi ông ấy, cuộc sống của ông có an vui hay chăng? Không an vui, rất đau khổ. Bởi vì giàu có quá lúc ra khỏi nhà phải thuê rất nhiều vệ sĩ, khi giao dịch mua bán nói chuyện với người ta không dám mặt đối mặt, dùng truyền hình, bản thân có đến mấy cái phòng. Vì sao vậy? Sợ người ta hại mình. Chẳng khác gì bản thân tự nhốt mình vào trong lao ngục, tất cả đều không tự tại. Cho nên giàu mà không vui, giàu mà không vui thì chẳng bằng nghèo mà vui. Chư vị nên hiểu được điểm này, giá trị của cuộc sống là thật sự an vui, không phải giàu có. Đối với một người giàu có không phải điều quan trọng, an vui mới thực sự quan trọng, đặc biệt là niềm vui của luân thường.

Kiểu an vui này ở nước ngoài không có, chỉ có trong nền văn hóa xưa, có niềm vui luân thường, có niềm vui thiên luân. Ở nước ngoài không có, trẻ con nước ngoài sau khi lớn lên rất lạnh nhạt với cha mẹ, cha mẹ đến nhà ăn bữa cơm cũng phải tính tiền cơm như thường, quí vị nghĩ xem đáng thương biết bao. Đứa con đó nếu như mời họ ăn bữa cơm mà không thu tiền thì họ vui sướng vô cùng. Người nước ngoài đến Trung Quốc, người lớn tuổi, người trẻ tuổi không hiểu được, người trẻ thì sao? Còn chưa già, nỗi khổ này chưa đến, họ còn chưa nghĩ đến, đến khi họ già rồi, nhìn thấy người già chúng ta con cháu đầy nhà cùng ở chung với nhau, trẻ con đều rất hiếu thuận, lúc chúng nghe lời, họ đều ngưỡng mộ vô cùng, đây là nét văn hóa không tương đồng. Đây thuộc về niềm vui của phàm phu, niềm vui phàm phu không phải trường cửu.

Phật đã khai thị cho chúng ta sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh, ai có thể tránh được chứ? Không ai thoát khỏi cả. Điều hay của Phật Pháp là hay nơi ứng cơ thuyết pháp. Trong quá trình dạy học phân ra rất nhiều giai tầng, chúng ta nói ngũ thừa Phật Pháp là từ đại tầng mà nói.

Chúng ta thích tầng nào Phật sẽ giúp cho ta đạt đến mong muốn đó, làm hài lòng nhu cầu của ta, có thể làm được. Chúng ta cảm thấy cuộc đời rất an vui, cuộc đời rất tốt, Phật giảng về nhân thừa Phật Pháp. Nếu mong muốn đến cõi trời để hưởng phước trời, Phật sẽ giảng về thiên thừa Phật Pháp. Nhưng sẽ nói trước cho chúng ta nhân thiên không phải rốt ráo, niềm vui nhân thiên ngắn ngủi, không phải vĩnh hằng. Cho nên nó không phải niềm vui chân thật, niềm vui chân thật là phải giác ngộ, nhất định phải vượt thoát tam giới, ra khỏi luân hồi. Quí vị thành Phật, thành Bồ Tát, rồi sau đó thừa nguyện tái sanh, ứng hóa tại thế gian, đây là được niềm vui chân thật. Vì sao vậy? Không còn sanh tử nữa, đây là sự thật.

Nói đến ứng hóa, phải chăng lúc ứng hóa đến chính là một người xuất gia, một vị tổ sư? Không nhất định. Trong 53 lần tham bái trong Kinh Hoa Nghiêm, quí vị thấy 53 vị thiện tri thức đều là Phật Bồ Tát ứng hóa. Từ đó có thể biết chư Phật Bồ Tát ứng hóa tại thế gian không có một ngành nghề nào Phật Bồ Tát không ứng hóa vào trong đó, nam nữ già trẻ thân phận như thế nào đều có. Đúng là đáng có đều có, trong đó mới có niềm vui chân thật. Điều này nhất định phải thông đạt Như Lai tạng tánh, chúng ta gọi là minh tâm kiến tánh, Quán Thế Âm Bồ Tát gọi là phải chứng chân thật viên thông. Quí vị cũng giống như Quán Thế Âm Bồ Tát vậy, phải được chân viên thông, mới có thể có niềm vui chân thật. Thực sự lìa khổ được vui đây là pháp thù thắng nhất, rốt ráo nhất trong Phật Pháp. Chứng đắc Như Lai tạng tánh rồi.

Chư vị thường đến đây nghe kinh, luôn ghi nhớ, trong Kinh Viên Giác Phật đã nói viên giác, Kinh Lăng Nghiêm là Như Lai tạng tánh, Kinh Di Đà là nhất tâm bất loạn, Kinh Hoa Nghiêm là nhất chân pháp giới, Kinh Pháp Hoa là nhất thừa pháp. Đều có một ý nghĩa, cảnh giới, sự việc, danh xưng khác nhau, nhưng sự việc thì giống nhau.

Cho nên sau khi thông đạt tạng tánh một cũng là pháp giới, nhiều cũng là pháp giới, một không phải ít, nhiều không phải nhiều. Chỉ cần có thể giống như Quán Thế Âm Bồ Tát chứng được văn tánh viên thông, không phải do vì thanh trần mà khởi tri kiến, đây là văn tánh viên minh. Nếu như do âm thanh bên ngoài, tức là thanh trần động tĩnh mà thành, đây là tri kiến khởi do âm trần. Trong kinh này Phật nói “tri kiến lập tri”, là gốc vô minh. Chúng ta phải hiểu rõ những cảnh giới này, hiểu được thì trong quá trình tu hành giác quan của chính mình, ta mới hiểu được thế nào gọi là giác, thế nào gọi là bất giác. Nếu như có thể giác được bất giác thì bất giác đó chính là giác, ngộ mê thì mê không phải mê nữa, mê đó chính là ngộ.

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta dụng công phu phải đặc biệt chú trọng điểm này, bản thân mới có thể nhập được pháp môn. Bồ Tát tại đây nói “do ta tu tập đắc chân viên thông”. Chúng ta không nên quên đương cơ trong hội Lăng Nghiêm là A Nan, đương nhiên A Nan tại đây là một tượng trưng, cũng tức là những người giống như Ngài A Nan vậy là đương cơ trong Hội Lăng Nghiêm. Những người như A Nan là những người nào vậy? A Nan trong mười đại đệ tử là đa văn đệ nhất, có thể thấy Kinh Lăng Nghiêm nói cho đa văn đệ nhất. Trong nhà Phật thường nói “thừa cấp giới hoãn”, A Nan tượng trưng cho hàng người này, Quán Thế Âm Bồ Tát  tại đây âm thầm điểm hóa cho hàng người này.

Vừa rồi cũng đã nhắc qua với quí vị, Bồ Tát và thế giới ta bà chúng ta đặc biệt có nhân duyên, chúng sanh ở thế giới chúng ta đại đa số đều là nhĩ căn tương đối nhạy bén. Quán Thế Âm Bồ Tát ở đây nói chân viên thông, lẽ nào 24 vị trước đã chứng viên thông là giả ư? Đương nhiên không giả, đều là thật. Bồ Tát tại đây nhấn mạnh một chân viên thông, trong 25 loại pháp môn viên thông, loại viên thông này dễ dàng thành tựu nhất, ý nghĩa chính là tại đây. Chứ không phải nói 24 vị trước chứng được được không phải là thật, ý nghĩa này chúng ta phải hiểu cho rõ ràng.

Ngày xưa cư sĩ Bùi Hưu, người này trong giới Phật Giáo cũng là một vị đại cư sĩ rất có danh vọng, trong thế gian ông có địa vị cũng tương đối cao, là một tín đồ Phật Giáo kiền thành. Một hôm ông ấy đi thăm thầy, thấy một mình thầy ngồi thiền trong thảo am rất thanh tịnh. Ông liền hỏi, hòa thượng có thị giả hay chăng, có người làm thị giả cho thầy chăng? Hòa thượng nói có một hai người, nhưng không tiện gặp khách. Bùi Hưu nói, ở đâu vậy? Vì sao không tiện gặp khách? Vị hòa thượng này liền gọi đại không, nhị không, các người ra đây đi! đại không, nhị không đi ra, đi ra là ai? Hai con hổ.

Hòa thượng tu hành trên núi, am tranh tu hành, làm bạn với ngài, hầu hạ ngài là hai con hổ. Hai con hổ từ đằng sau đi ra, Bùi Hưu, ông ấy làm tể tướng, Bùi tướng công giật thót mình. Thầy giáo nhìn thấy Bùi tướng công thần sắc không thể ổn định lại được, thấy ông ta có vẻ sợ hãi, liền nói với hai con hổ được rồi, được rồi, đã gặp mặt rồi, các ngươi ra đằng sau đi, con hổ liền đi ra ngoài. Bùi Hưu đối với hòa thượng khâm phục đến năm vóc sát đất.

Bùi Hưu liền thỉnh giáo hòa thượng, ông ta hỏi hòa thượng à, ngài tu pháp môn gì mà có cảm ứng được như vậy? Hòa thượng không nói câu nào. Đợi lúc lâu, hỏi lại ông ấy ông chăng? Ông ấy nói không biết. Quí vị nghĩ xem mình biết chăng? Nhất tâm bất loạn! Không cần nói đến chứng được lí nhất tâm, chứng được sự nhất tâm, được rồi. Trong sự nhất tâm đã ngã chấp phá được, thực sự nói là vô ngã. Vô ngã thì có thể sống với tất cả chúng sanh, không còn phân biệt nữa. Bùi Hưu không biết, nên hòa thượng nói ông trở về thường niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, khuyên ông ấy niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Mục đích của niệm Quán Thế Âm Bồ Tát là muốn chứng được nhĩ căn viên thông. Nhĩ căn viên thông thuộc về lý nhất tâm bất loạn, cho nên mới có công đức không thể nghĩ bàn.

Xem tiếp đoạn kinh văn dưới: “Thị danh thập tứ thí vô úy lực phúc bị chúng sanh”. “Thí vô úy lực” nên căn cứ theo đoạn kinh văn sau mà nói, “thập phương vi trần quốc độ giai danh ngã thí vô úy giả”. Đoạn kinh văn sau có một câu như vậy, Quán Thế Âm Bồ Tát bố thí cho chúng ta đại vô úy. Đáng tiếc người niệm Quán Thế Âm Bồ Tát  rất nhiều, mà niệm như thế nào? Không tin tưởng. Vậy thì hết cách, niệm mà không tin tưởng. Nếu như niệm mà tin tưởng thì 32 ứng, 14 vô úy quí vị nhất định sẽ có cảm ứng đạo giao.

“Phúc bị chúng sanh”, ý nghĩa này là nói không những có thể khiến cho tất cả chúng sanh thoát ly tất cả khổ nạn, hơn nữa còn có thể được phước đức. Thật là đại từ đại bi, đại bi là cho chúng ta lìa tất cả khổ nạn, đại từ là cho chúng ta có thể được phước. Phước như thế nào? Vậy thì phải xem mức độ tín tâm của chúng ta, hoàn toàn chắc chắn tin tưởng, không có mảy may hoài nghi. Tất cả hiểu rõ, tu pháp môn này cao nhất có thể đạt được quả báo Như Lai quả địa thượng.

Phải hiểu được loại phước báo này không phải là Quán Thế Âm Bồ Tát ban cho, là quí vị từ trong pháp môn này mà tu học, sau khi ngộ tạng tánh rồi, phước đức Như Lai quả địa thượng này là Như Lai tạng tánh của chúng ta vốn đã đầy đủ, cho nên lìa khổ được vui không giả dối tí nào. Quán Thế Âm Bồ Tát cho chúng sanh thực sự là quá nhiều rồi. “Thí vô úy lực” bốn chữ này đã bao hàm, tất cả đã bao gồm hết.

Đoạn dưới đây là bốn loại bất tư nghì: “Thế Tôn, ngã hựu hoạch thị viên thông, tu chứng vô thượng đạo cố, hựu năng thiện hoạch, tứ bất tư nghì, vô tác diệu đức”. Đoạn này nói cho chúng ta về bốn loại bất tư nghì, dung hợp với hai quán trước kia. Đoạn trước tuy là rõ ràng trên đồng với mười phương Như Lai, dưới hợp với thời kiếp của nhất thiết chúng sanh, đây đều là tùy cơ ứng hóa. Trên lý luận thì vẫn còn có hạn lượng, vẫn là khả tư khả nghì.

Tuy nói tam muội, vẫn là từ trên tâm nhân địa để mà nói. Đến đoạn văn này thì hiển thị rõ ràng, viên dung đến cực điểm, viên cực. Đó chính là bất khả tư, bất khả nghì, ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Cho nên bản thân Bồ Tát nói “tu chứng vô thượng đạo cố”, ở đây nói đạo này là “vô thượng đạo”.

Đã là thần diệu, càng bất khả tư, càng không thể nào mà suy lường được. Trước đây nói pháp cho đến nói công đức xưng danh chúng ta có thể suy đoán được một số hành, đến đây thực sự mà nói không thể nào hình dung được nó. Ở đây Bồ Tát nói ngài đã chứng được đến viên cực, có thể khiến cho chúng sanh được đại tự tại, đây là thực sự không thể nghĩ bàn.

Nói cách khác, tuy ngài là Bồ Tát nhưng so với Như Lai trên địa thượng thì cảnh giới đó thực sự không hai không khác, đó là “vô tác diệu đức”. Trong đoạn kinh văn này chú trọng tại hai chữ “vô tác”, hữu tác thì không diệu nữa. Chúng ta tu học phải đặc biệt lưu ý điều này.

Như thế nào là hữu tác? Như thế nào là vô tác? Hữu tác, vô tác đều làm, không phải không làm. Hữu tác là gì? Có tâm để làm, có tâm này là có vọng tâm. Nói cách khác, có tâm ý thức để làm. Vô tác thì sao, làm hay không làm? Làm, làm như thế nào? Không có tâm ý thức, họ ở đó làm, làm không có tâm ý thức là diệu tác, là tam luân thể không, là diệu đức. Có tâm ý thức để làm thì có nghiệp, quí vị làm với thiện tâm là thiện nghiệp, với ác tâm thì ác nghiệp. Chư vị phải hiểu được quan trọng là tâm. Thiện tâm làm việc ác vẫn là thiện nghiệp, ác tâm làm việc thiện vẫn là ác nghiệp. Đạo lý trong đây chư vị cẩn thận suy nghĩ xem.

Vì thế trong Pháp Đại thừa, trong giới luật Đại thừa luận tâm không luận sự, khác với giới Tiểu thừa. Giới Tiểu thừa là luận sự không luận tâm. Vì sao vậy? Vì chú trọng tại phước báo nhân thiên. Đại thừa là luận tâm không luận sự, chú trọng tại xuất ly tam giới, chứng bồ đề Niết bàn, đây là điều khác nhau. Thiện tâm, ác tâm đều không tách rời tâm ý thức, cho nên loại này không gọi nó là vô tác diệu đức.

Họ theo tu đạo mà nói là có tu có chứng, bởi vì họ có tâm nên có tu có chứng. Chúng ta niệm Phật nếu như là hữu tác mà niệm, công phu này có thể niệm đến sự nhất tâm bất loạn. Theo lí luận của Kinh Lăng Nghiêm, điều Phật giảng cho chúng ta có thể đạt đến sự nhất tâm bất loạn, nhưng không thể đạt đến lý nhất tâm bất loạn, lý nhất tâm bất loạn chắc chắn phải xả thức dùng căn. Pháp sư Giao Quang trong Lăng Nghiêm Chánh Mạch dạy cho chúng ta như vậy. Xả thức là gì? là không dùng tâm ý thức nữa. Nói cách khác, tám thức 51 tâm sở chúng ta đều không dùng nó, vậy thì quí vị chính là vô tác diệu đức rồi.

Quí vị nói tôi làm gì? Mặc y phục là vô tác diệu đức, ăn cơm là vô tác diệu đức, mặc áo ăn cơm chính là vậy! Chúng ta hiện tại ăn cơm mặc áo như thế nào? Mặc áo ăn cơm đều tại tâm, tâm sở so đo tính toán, ở trong đó khởi phiền não, khởi phân biệt, khởi chấp trước. Cho nên áo cũng không biết mặc, cơm cũng không biết ăn, lúc nào mặc áo ăn cơm rời khỏi tâm ý thức rồi, hoàn toàn tương ưng với chân như bản tánh.

 Thiền sư Huệ Hải đã nói, người ta thỉnh giáo ngài, bạch hòa thượng! ngài dùng công phu gì vậy? Ngài liền đáp một câu, “đói thì ăn cơm, buồn ngủ thì ngủ”, đây là chỗ người ta dụng công vậy. Chúng ta nghe rồi, có ai đói bụng mà không ăn cơm? Có ai buồn ngủ mà không đi ngủ? Người ta thực sự ăn cơm được, cũng thực sự ngủ được. Vì sao vậy? Việc của họ đã xong, không có việc gì nữa! Chúng ta hiện tại phiền não chưa đoạn, sanh tử chưa xong, ăn cơm cũng không an tâm, ngủ cũng ngủ không được, sanh tử chưa dứt. Ngài sanh tử đã xong, phiền não đã đoạn, cho nên đến lúc ăn cơm thì ăn cơm, đến lúc đi ngủ thì đi ngủ. Ngoài việc này ra không còn việc gì nữa, là ý nghĩa này vậy. Thực sự đến được vô tác diệu đức, mặc áo, ăn cơm, ngủ nghỉ đều là vô tác diệu đức. Đây là giản biệt, không phải là hữu vi, hữu ý để làm, mà là như thế nào? Mọi việc tự nhiên mà thành tựu.

Bốn loại dưới đây đều là cảnh giới này, trong cảnh giới này ý nghĩa sâu sắc hơn trước đây nhiều, viên mãn hơn nhiều.

Xin xem kinh văn, kinh văn này tương đối dài một tí, chúng ta nghiên cứu từng đoạn từng đoạn một: “Nhất giả do ngã sơ hoạch, diệu diệu văn tâm, tâm tinh di khai, kiến văn giác tri, bất năng phân cách, thành nhất viên dung, thanh tịnh bảo giác”. Đây là tự thuật lúc ngài thành tựu, thông thường chúng ta nói, bản thân Quan Âm Bồ Tát tu hành, ngài đắc đạo, cảnh giới đầu tiên đắc đạo đã nói ra cho chúng ta biết.

“Sơ hoạch”, chữ ‘sơ’ này tức trước đây nói là dụng công của ngài. Công phu của ngài là “phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo”. Tức là nói ngài đầu tiên trong văn tánh đó, đầu tiên dùng công phu này. Lần đầu tiên trong văn tánh, lần đầu này có thể gọi là nhĩ căn tiếp xúc với thanh trần, sát na đó gọi là ‘tối sơ’. Sát na đó như thế nào? Còn chưa khởi tâm động niệm, đây là nghe nhĩ tánh. Nếu như có một niệm tâm sanh khởi lên, thì rơi vào trong ý thức, vậy không phải là ‘sơ’ nữa, mà nó rơi vào nghĩa thứ hai. Quán Thế Âm Bồ Tát chỗ dụng công này của ngài có thể bảo trì nơi đệ nhất nghĩa, không rơi vào đệ nhị nghĩa.

Chúng ta tu hành, sỡ dĩ không thể thành tựu là do chúng ta từ trong sát na đệ nhất nghĩa đó, liền rơi vào đệ nhị nghĩa, đệ tam nghĩa, phiền phức chính là phiền ngay nơi này. Điều này đáng được chúng ta cảnh giác, chúng ta nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát lại nghĩ đến bản thân.

Nói đến văn, đây là một tượng trưng của sáu căn, kiến văn giác tri sáu căn đều như nhau, mắt thấy sắc ngài có thể duy trì đệ nhất nghĩa, tai nghe thanh cũng có thể duy trì đệ nhất nghĩa, sáu căn tiếp xúc với cảnh giới sáu trần, căn tánh của sáu căn toàn bảo trì trên đệ nhất nghĩa. Đệ nhất nghĩa là kiến tánh, là kiến tánh trong mười lần hiển kiến ở đoạn trước, kiến tánh, văn tánh, khứu tánh, thường tánh, xúc tánh, tri tánh. Cho nên đối với bên ngoài không phải là sáu trần, đối với bên ngoài cũng là sáu trần tánh, sáu tánh đối với bên ngoài đó gọi là kiến tánh.

Nếu như biết dụng công như vậy, quí vị nghĩ xem chứng vô thượng đạo chỉ ngay trong một niệm, làm gì phải mất đến ba đại a tăng kỳ kiếp? Cũng giống như trong kinh đã nói “đàn chỉ siêu vô học”, vô học này là chỉ cho ai? Chư vị nên hiểu vô học này là nói đến Đại thừa A la hán, Bồ Tát pháp vân địa. Giới hạn thấp nhất của siêu vô học cũng là đẳng giác, siêu việt vô học. Chỉ trong khoảng khắc đích thực là từ phàm phu địa chứng Đẳng giác Bồ Tát, chỉ cần quí vị hiểu được đạo lý này. Từ đâu mà tu? Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, quí vị đều có thể bảo trì trên đệ nhất nghĩa. Đại sư Giao Quang nói, dùng căn không dùng thức, dùng thức đó là đệ nhị nghĩa.

Có không ít đồng tu đọc Kinh Lăng Nghiêm xong đến hỏi tôi: dùng căn như thế nào? Làm thế nào mới có thể xả thức dùng căn? Ở đây nói rất rõ ràng, đệ nhất nghĩa là thế nào? Trong đệ nhất nghĩa, mắt thấy sắc, thấy mà không thấy. Không phải nói thấy rồi mà như nhìn không thấy vậy. Vậy thì pháp môn này chúng ta đừng học nữa, còn học nó để làm gì? Thấy là thật thấy rồi, không thấy là không có vọng kiến.

Thế nào gọi là vọng kiến? Quí vị học qua Duy thức có lẽ hiểu được, tám thức 51 tâm sở, tâm, tâm sở đều có kiến phần, kiến phần đó là vọng kiến. Không có vọng kiến vậy thì thấy kia là gì? Là thấy trong tánh thấy.

Nghe mà không nghe, thực sự nghe mà không có vọng văn, nghe đó là gì? Nghe cũng là kiến phần. Chư vị nên hiểu, tâm, tâm sở có bốn phần, tự chứng phần, chứng tự chứng phần, kiến phần, tướng phần. Kiến phần kia, tại mắt gọi là kiến, tại tai là văn, tại mắt chúng ta là nhãn thức, tại tai tức nhĩ thức. Trong sáu căn, tại nơi nào thì chúng ta gọi nó thức đó. Đó là gì? Đó đều gọi là kiến phần. Lúc nó khởi tác dụng kiến phần của nhĩ thức thì gọi là văn, tác dụng của nghe. Kiến phần nhãn thức là tác dụng của thấy, thấy tướng phần của nó. Kiến phần của tai là thấy tướng phần của nó, tức là nghe âm thanh của nó. Đây đều gọi là vọng kiến, vọng văn, không phải là chân thật. Vậy chân thật là gì? Tánh thấy, thấy đó mới là chân thật.

Quí vị nếu đến cảnh giới này rồi, vậy thì có thể phàm sở hữu tướng giai thị thật tướng, không phải là hư vọng. Chưa đến cảnh giới này thì phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Cách nói này nếu như chư vị vẫn không hiểu, tôi nêu thêm một ví dụ. Chẳng hạn như chúng ta mắt tốt nhìn thấy tướng cảnh giới bên ngoài này là thật tướng, chư vị mở mắt ra nhìn rất rõ ràng, phàm có hình tướng đều là thật tướng. Giả sử như chúng ta đeo đôi mắt kiếng râm màu xanh, vừa nhìn bên ngoài mặt của mỗi người đều là màu xanh. Tôi đeo đôi mắt kiếng màu hồng thì mặt quí vị đều là màu hồng, vậy thì phàm có hình tướng đều là hư vọng. Quí vị hiểu được ý nghĩa này chăng? Chúng ta hiện tại đeo lên tánh thấy một nhãn thức, nhãn thức đó chính là đeo lên đôi mắt kiếng tâm, tâm sở, nhìn thấy tướng bên ngoài đều là hư vọng. Nếu như lấy hết tất cả tâm, tâm sở thì tướng mà quí vị nhìn thấy đều là thật tướng. Chính là ý nghĩa như vậy.

Nếu hỏi bí quyết của tu hành, yếu lĩnh của tu hành thì chẳng có gì khác, chính là bảo trì đệ nhất niệm, không nên để rơi vào đệ nhị niệm, chính là đệ nhất nghĩa. Đệ nhất nghĩa là gì? Kiến tánh thấy, văn tánh nghe, Quán Thế Âm Bồ Tát chính là như vậy. Biện pháp này chính là ‘đàn chỉ siêu vô học’, cần gì phải ba đại a tăng kỳ kiếp. Trong kinh Di Đà nói một ngày đến bảy ngày là nhiều quá rồi, làm gì cần đến thời gian dài như vậy!

Chư vị nghĩ xem kinh Đại thừa nếu không nghiên cứu thì chúng ta làm sao có thể hiểu được đạo lý này, sao có thể hiểu được con đường này? Thường ngày dụng công, chúng ta sẽ hiểu được nên dụng công như thế nào. Không hiểu được đạo lý, phương pháp thì hằng ngày dụng công thật là tu mù luyện bậy. Vừa nói chúng ta tu mù luyện bậy lập tức hỏa khí nổi lên, có thể thấy đó là tu mù luyện bậy. Nếu như lúc thật tu thật luyện thì tám gió thổi không động, như như bất động. Khen vài câu thì vui mừng, đắc ý vô cùng, hủy báng vài câu thì tức giận dữ. Có thể thấy được cảnh giới nhỏ gió vừa thổi liền động, vậy quí vị không phải là tu mù luyện bậy thì là gì? Đương nhiên là tu mù luyện bậy rồi.

“Diệu diệu văn tâm” chính là phản văn văn tự tánh. Trên thực tế, trước đây đã nói qua phản là gì? Phản là quay đầu lại, cách quay đầu như thế nào thì điều này phải hiểu được, tâm chúng sanh tùy theo cảnh giới bên ngoài mà lưu chuyển.

Đoạn trước nói, nhĩ thức của chúng ta, thức thứ sáu, tâm tâm sở này. Chúng ta lấy nhĩ thức mà nói ‘lưu dật bôn thanh”, lưu đến cảnh giới thanh trần bên ngoài, nhãn thức là lưu dật đến sắc. Lưu giống như nước vậy, chảy ra bên ngoài, dật là phóng dật, phóng dật vào trong sắc tướng. Căn tánh của sáu căn bị sáu thức che đậy, bình thường vọng tâm khởi tác dụng phản văn, không phải nói tánh văn phản trở lại, văn tánh không có phản, văn tánh là chân thường, nó phản gì vậy? Nó tại thánh không tăng, tại phàm không giảm, là thường trú chân tâm, vậy nó phản điều gì? Có thể thấy phản đó là tâm, tâm sở phản trở lại, không hướng ra lục trần mà lưu dật, phản chính là điều này. Cho nên hai chữ phản văn có hai ý nghĩa.

Chữ phản này là đối với tâm, tâm sở mà nói. Tâm, tâm sở phản trở lại rồi không còn phan duyên cảnh giới sáu trần bên ngoài nữa, lúc này văn tánh đã hiện tiền rồi. Xả thức dùng căn, phản đó chính là xả thức, vì sao vậy? không dùng nó nữa.

Thông thường phàm phu lúc đang mê dùng tâm tâm sở thấy sắc, tôi nói như vậy tương đối dễ hiểu một chút. Bởi vì thấy sắc đích thực rất phức tạp, chớ cho rằng thấy sắc, tức nhãn thức này nhìn thấy sắc trần. Kỳ thật nó và thức thứ sáu có liên quan, thức thứ sáu khởi phân biệt, thức thứ bảy chấp trước, thức thứ tám ghi ấn tượng. Hơn nữa cùng với thức thứ sáu, thứ bảy, thứ tám và năm thức trước tương ưng, những tâm sở này trong khoảng sát na đồng thời đều khởi tác dụng, phức tạp vô cùng.

Tâm sở thì tất cả tâm hành phức tạp đều có thể bao quát ở trong đó, tâm tâm sở khởi tác dụng. Hiện tại chúng ta tâm tâm sở này không khởi tác dụng, thì đây chính là ý nghĩa của ‘phản’, tức là ý nghĩa của chữ ‘xả’, xả thức. Ở đây là dùng ‘phản’ này.

Dùng căn thì sao, dùng căn tánh này chính là văn. Vậy nếu xả thức dùng căn trong kinh này dùng hai chữ phản văn. Đoạn trước nói phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo, công phu này đích thực phải trải qua một thời gian tương đối dài để rèn luyện. Hơn nữa dụng công, tôi nói thêm với quí vị là bất luận người nào, bất luận hoàn cảnh nào đều không có chướng ngại nữa, điều này quả thật không thể nghĩ bàn. Cổ nhân nói “không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm” đây là yếu lĩnh dụng công. Vì sao vậy? Vì niệm đó vừa khởi thì rơi vào tâm ý thức rồi, trong tâm ý thức mới có vọng niệm.

Giác là chánh niệm, niệm là vọng niệm. Phật Bồ Tát giác ngộ họ có chánh niệm, họ không có vọng niệm. Vừa có một vọng niệm khởi lên lập tức liền giác ngộ, vừa giác ngộ là gì? Vọng niệm này không tồn tại nữa, làm cho vọng niệm này bị đánh tan.  Cổ nhân nói, nhất niệm tương ưng nhất niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật. Đây là phương pháp dụng công của chúng ta.

Mắt thấy sắc vừa khởi tâm, vừa động niệm lập tức giác ngộ, lại rơi vào tâm ý thức rồi. Tai nghe thanh, mới vừa khởi niệm rơi vào tâm ý thức. Loại nguyên tắc nguyên lý này chúng tôi trên giảng tòa đã nói qua với chư vị rất nhiều, hi vọng mọi người phải ghi nhớ, phải biết dùng. Đây hoàn toàn là giảng về điều gì? Nói về tự thọ dụng. Vậy tha thọ dụng thì sao? Tha thọ dụng phải ở trong chánh niệm lại biến hiện ra vọng niệm này, là tha thọ dụng.

Thí dụ như mắt chúng ta nhìn thấy tách trà này, chúng ta tại trên đây khởi một ý niệm cái tách này cũng đẹp, vậy là sai, đây chính là mê, rơi vào tâm tâm sở mất rồi. Trong chân như bản tánh vốn là vô nhất vật, làm gì có cái gì đẹp hay không đẹp? Không có, tâm địa sạch sẽ không nhiễm mảy trần nào. Cái tách này khá đẹp, đây chính là rơi vào tâm ý thức, lúc người khác thọ dụng, người khác, chúng tôi giới thiệu với quí vị cái này khá đẹp, đẹp thế nào, không phải là tự thọ dụng, là bản thân từ trong tâm thanh tịnh biến hiện ra tâm tâm sở là tha thọ dụng. Chư vị phải hiểu được đạo lý này.

Tự thọ dụng và tha thọ dụng phải vạch ra cho rõ ràng, đem tha thọ dụng làm thành tự thọ dụng là phàm phu. Đem tự thọ dụng xem thành tha thọ dụng là A la hán nhập niết bàn. Vì sao vậy? Vì tâm của họ bất động. Họ cũng không giáo hóa chúng sanh nữa, nhìn thấy chúng sanh cũng không mở mạng internetet nữa, đều không cần nữa. Bồ Tát sở dĩ xưng Bồ Tát vì tự thọ dụng không phải tha thọ dụng, tha thọ dụng không phải tự thọ dụng, điều này không thể nghĩ bàn! Biểu hiện của tha thọ dụng và phàm phu không có gì khác, kết thành một khối, hòa quang đồng trần. Tuy hòa quang đồng trần trong tha tự thọ dụng, họ không khởi tâm động niệm, không rơi vào trong tâm ý thức. Vậy là cao minh cực điểm rồi.

Lúc muốn tu học bất luận là tu pháp môn nào, tám vạn bốn ngàn pháp môn quá ít, Quán Thế Âm Bồ Tát ở đây nói 62 ức hằng hà sa pháp môn, một vị Bồ Tát đại biểu một pháp môn, 62 ức hằng hà sa pháp môn, chỉ một câu danh hiệu, một câu nguyên lý, chính là nguyên lý phản văn này. Phản văn chính là nguyên lý xả thức dùng căn này.

Cho nên trong Kinh Viên Giác chúng tôi đặc biệt nói với mọi người tu hành là tu điều gì? Tu tâm viên giác, tịnh viên giác. Đề Kinh Viên Giác này chúng tôi chưa giảng hết. Chúng ta thấy chương thứ nhất của kinh, trong chương này Bồ Tát Văn Thù vừa khai khẩu đã nói những gì? Tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh chính là tâm viên giác. Chúng ta nên tu những gì? Tu tâm thanh tịnh.

Ở trong cảnh giới khởi tâm động niệm, tâm thanh tịnh không còn nữa, lúc bản thân không thành tựu, đừng quan tâm người khác. Bản thân tâm thanh tịnh còn chưa đạt được, ta ngày ngày đi quan tâm người khác ư, bản thân mình tâm thanh tịnh rồi, tu thêm vô lượng a tăng kỳ kiếp còn chưa đạt được. Đó chính là điều trong nhà Phật thường nói “ Bồ Tát đất qua sông tự thân khó giữ”, còn muốn độ người khác, làm gì có được đạo lý này!

Bản thân thanh tịnh rồi lại độ chúng sanh, lúc quí vị độ chúng sanh sẽ không hại họ, sẽ không làm trở ngại chúng sanh. Vì sao vậy? Vì lý luận thực sự thông đạt, pháp môn đã hiểu được, bản thân lúc tu hành thực sự đã có thành tựu. Nói cách khác, phương pháp lý luận này bản thân đã thử nghiệm qua rồi, không sai, mới dám dạy cho người khác. Bản thân chưa thử nghiệm qua thì không đáng tin, bản thân làm hỏng bản thân vậy thì đáng đời. Bản thân quí vị lại đi làm hỏng việc người khác, thì tội nghiệp này lớn quá rồi.

Cho nên nói tự tu còn quan trọng hơn dạy người khác, tu gì vậy? Chính là tu tâm thanh tịnh. Tất cả chúng sanh tu xả thức dùng căn, tất cả cảnh giới dùng phương pháp phản văn văn tự tánh này. Trong đoạn này ý nghĩa rất sâu sắc, chúng tôi vừa rồi chỉ nói về một điều sơ hoạch, chỉ mới giảng đến chữ sơ này. Tiếp đó còn có ‘diệu diệu văn tâm’, trong đó còn có ý nghĩa rất tinh túy.

Hôm nay thời gian hết rồi, lần sau chúng tôi vẫn bắt đầu giảng từ đoạn này. Tức là từ “nhất giả, do ngã sơ hoạch diệu diệu văn tâm’, giảng tiếp từ đoạn này.

Hết giờ rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây.

Hết tập 13

Trích từ: Kinh Thủ Lăng Nghiêm Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương

Từ Ngữ Phật Học
nghiệp
(業) Phạm: Karman. Pàli: Kamma. Hán âm: Yết ma. Nghĩa là sự tạo tác, tức chỉ cho những hoạt động của thân tâm như hành vi, hành động, tác dụng, ý chí, hoặc chỉ cho những hoạt động của thân tâm do ý chí sinh ra. Nếu kết hợp với quan hệ nhân quả thì nghiệp là năng lực được hình thành bởi những hành vi từ quá khứ kéo dài đến hiện tại và cho mãi tới vị lai. Ngoài ra, Nghiệp cũng bao hàm tư tưởng nhân quả báo ứng về hành vi thiện ác như khổ vui và tư tưởng luân hồi trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Nghiệp vốn là tư tưởng cố hữu của Ấn độ, Phật giáo dùng nó làm căn cứ để khuyên con người nỗ lực hướng tới vị lai.

Trong Phật học, hàm ý và giới thuyết của nghiệp được chia làm 3 loại: Thân nghiệp, Ngữ nghiệp, và Ý nghiệp. Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc Tiểu thừa tiến thêm bước nữa mà giải thích rằng, ý chí trong nội tâm muốn làm 1 việc gì đó gọi là ý nghiệp; còn dùng hành động và lời nói của thân thể để bày tỏ ý chí thì gọi là Thân nghiệp, Ngữ nghiệp (Khẩu nghiệp). Nghiệp cũng còn được chia làm 2 loại là Tư nghiệp và Tư dĩ nghiệp. Tư nghiệp chỉ cho những hoạt động của ý chí; Tư dĩ nghiệp chỉ cho trong Tư nghiệp đã có các hành động. Ở đây, Tư nghiệp đồng với Ý nghiệp, Tư dĩ nghiệp đồng với Thân nghiệp và Ngữ nghiệp. Về bản thể (nghiệp thể, nghiệp tính) của 3 nghiệp thì Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Ý nghiệp thuộc về tâm pháp (ý chí), còn Thân nghiệp, Ngữ nghiệp thì thuộc về sắc pháp (vật chất). Nhưng Phật giáo Đại thừa và Kinh bộ thì chủ trương tất cả các nghiệp đều thuộc về hoạt động của tâm, đây mới chính là lập trường cơ bản của Phật giáo.Thuyết nhất thiết hữu bộ còn chia Thân nghiệp và Ngữ nghiệp làm 2 loại là Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp là nghiệp biểu hiện ra bên ngoài khiến người khác thấy được, còn Vô biểu nghiệp là không hiện bày ra bên ngoài, người khác không thấy được.

Vô biểu nghiệp cũng gọi là Vô biểu sắc, bản thể của nó là 1 loại sắc pháp, khởi lên nghiệp thiện, ác rất mãnh liệt, nhưng về tính chất thì bao hàm cả Thân biểu nghiệp, Ngữ biểu nghiệp và Định. Vô biểu nghiệp được chia làm 3 loại: 1. Luật nghi: Thiện nghiệp do giới, định phát khởi. 2. Bất luật nghi: Ác nghiệp do tập quán phát khởi và có tính quyết đoán rất mạnh. 3. Phi luật nghi phi bất luật nghi: Nghiệp thiện, nghiệp ác tùy lúc mà phát khởi theo tác dụng vô biểu. Thiện vô biểu có tác dụng ngăn ngừa điều ác, ác vô biểu có tác dụng chướng ngại việc thiện, chính do đây mà tính cách hậu thiên của con người được hình thành. Thân nghiệp và Ngữ nghiệp, mỗi nghiệp đều có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, cộng với Ý nghiệp thành là 5 nghiệp. Nếu tạo ác nghiệp, thiện nghiệp thì về sau chắc chắn sẽ chiêu cảm quả báo (dị thục) khổ, vui tướng ứng. Vì có nghiệp nhân cho nên chiêu cảm nghiệp quả. Còn nghiệp vô kí chẳng thiện chẳng ác thì không có sức chiêu cảm quả báo. Về mối quan hệ giữa nghiệp nhân và nghiệp quả thì quan điểm của Thuyết nhất thiết hữu bộ như sau: Nghiệp có liên quan đến 3 đời là nghiệp hiện tại có khả năng trở thành nhân quyết định (thủ quả) dẫn đến quả báo vị lai. Mặt khác, nghiệp từ quá khứ do sức tác dụng mãnh liệt mà mang lại quả báo (dữ quả)trong hiện tại.

Ở đây, Kinh lượng bộ cho rằng nghiệp tiêu diệt trong khoảnh khắc, nhưng nó đã gieo chủng tử (hạt giống) chiêu cảm quả báo vào trong tâm thức, lại do chủng tử này dẫn sinh ra quả báo. Loại tư tưởng chủng tử này rất giống với thuyết Vô biểu nghiệp của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Có nhiều cách phân loại nghiệp, nhưng nói một cách tổng quát thì quả báo trong 1 đời người hoàn toàn do nghiệp dẫn dắt, tức Dẫn nghiệp (khiên dẫn nghiệp, tổng báo nghiệp, dẫn nhân) có sức tác dụng mạnh mẽ và có thể khiến cho người sinh vào 1 cõi nào đó như người, súc sinh hoặc các loài khác... Nếu sinh vào cõi người thì sự khác nhau về các căn, hình lượng, sắc lực trang nghiêm... của mỗi cá thể là do Mãn nghiệp (viên mãn nghiệp, biệt nghiệp) hình thành. Quả báo của Dẫn nghiệp gọi là Tổng báo, quả báo của Mãn nghiệp gọi là Biệt báo, 2 nghiệp này hợp lại gọi chung là Tổng biệt nhị báo. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng 1 Dẫn nghiệp dẫn sinh ra 1 lần, nhưng lại có rất nhiều Mãn nghiệp để hoàn thành đời sống con người, bởi thế, nhiều nghiệp dẫn sinh 1 đời hoặc 1 nghiệp dẫn sinh nhiều đời là việc tuyệt đối không thể có. Nghiệp lại có 2 loại là Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp. Cộng nghiệp chỉ cho quả báo chung, như núi sông đất đai (thế giới vật lí), vô số sinh vật v.v...

Còn Bất cộng nghiệp là quả báo riêng của mỗi sinh vật (như thân thể đẹp, xấu, giàu nghèo, sang hèn v.v...). Lại nữa, nghiệp có 3 tính chất: Thiện (nghiệp yên ổn) do tâm thiện sinh khởi, Bất thiện (nghiệp không yên ổn) do tâm ác sinh khởi; Vô kí (không thiện không ác) do tâm vô kí sinh khởi. Nghiệp ác chắc chắn sẽ bị trừng phạt, cho nên gọi là Phạt nghiệp(hoặc là phạt), 3 nghiệp thân, khẩu, ý gọi là Tam phạt. Trong 3 nghiệp thì Ý nghiệp quan trọng nhất. Nghiệp được tạo tác qua 1 quá trình suy tư chín chắn rồi mới quyết đoán thực hiện, gọi là Cố tư nghiệp, Cố tác nghiệp (cố ý làm). Ngược lại, nghiệp do lầm lỡ, không cố ý gây ra, gọi là Bất cố tư nghiệp, Bất cố tác nghiệp. Vô kí nghiệp và Bất cố tư nghiệp đều không dẫn sinh quả báo. Cố tư nghiệp được thực hiện với tinh thần tích cực, mạnh mẽ, gọi là Tăng trưởng nghiệp; còn Cố tư nghiệp được tạo tác với tâm yếu ớt, không nhiệt thành thì cùng với Bất cố tư nghiệp gọi chung là Bất tăng trưởng nghiệp. Nghiệp tăng thêm sức mạnh dần dần gọi là Tăng thượng nghiệp, Tăng trưởng nghiệp, trái lại thì gọi là Tạo tác nghiệp. Nghiệp ác do chúng sinh tạo tác ở cõi Dục thường chiêu cảm quả báo khổ khiến cho 5 thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân phải chịu, cho nên gọi là Thân thụ nghiệp.

Còn nghiệp thiện do chúng sinh tạo tác ở cõi Sắc (ngoại trừ Sơ thiền thiên) và cõi Vô sắc thường chiêu cảm quả báo vui khiến ý thức hưởng thụ, cho nên gọi là Tâm thụ nghiệp. Thân thụ nghiệp và Tâm thụ nghiệp gọi chung là Nhị thụ nghiệp. Lại nữa, nghiệp thiện mang lại hạnh phúc, nên gọi là Phúc nghiệp, còn nghiệp ác dẫn đến bất hạnh, khổ đau, nên gọi là Phi phúc nghiệp. Thiện nghiệp cũng gọi Bạch nghiệp, ác nghiệp cũng gọi là Hắc nghiệp, còn Vô kí nghiệp thì gọi là Phi hắc phi bạch nghiệp. Lại tùy theo sự chịu báo mau hay chậm mà nghiệp được chia ra 4 loại: Đời này tạo nghiệp, đời này chịu báo gọi là Thuận hiện nghiệp, Thuận hiện pháp thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp, đời sau chịu báo gọi là Thuận sinh nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp đến đời thứ 3 về sau mới chịu báo gọi là Thuận hậu nghiệp, Thuận hậu thứ thụ nghiệp. Sự chịu báo của 3 thời nghiệp nói trên có thời kì nhất định, cho nên cũng gọi là Định nghiệp. Còn nghiệp mà quả báo không xác định thời gian thì gọi là Bất định nghiệp, Thuận bất định nghiệp. Y cứ vào nội dung quả báo (định hoặc bất định) của Bất định nghiệp, lại có 2 loại khác nhau: Xác định quả báo nhưng không xác định lúc nào thì chịu báo, gọi là Dị thục định thời bất định. Quả báo và thời gian chịu báo đều không xác định, gọi là Dị thục thời câu bất định. Ba thời nghiệp và 2 nghiệp Bất định gọi chung là Ngũ nghiệp. Ba thời nghiệp, mỗi nghiệp chia ra 2 loại là Thời định dị thục định (thời gian xác định, quả báo cũng xác định) và Thời định dị thục bất định (thời gian nhất định, quả báo không nhất định), cộng chung có 6 loại, 6 loại này cộng chung với 2 nghiệp Bất định nói trên thành là 8 nghiệp. Chỗ y cứ của tác dụng nghiệp là con đường chung dẫn đến quả báo khổ, vui của loài hữu tình, gọi là Nghiệp đạo(Căn bản nghiệp đạo), có 2 loại là Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo. Vấn đề này, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ và Duy thức Đại thừa trình bày có hơi khác nhau. Nghiệp là nhân sinh ra quả báo (dị thục), vì thế cũng gọi là Nghiệp nhân, hoặc Nhân nghiệp.

Quả do nghiệp mang lại, gọi là Nghiệp quả, Nghiệp báo. Cái sức dắt dẫn nghiệp quả, gọi là Nghiệp lực. Do nghiệp mà đưa đến quả báo khổ, gọi là nghiệp khổ. Ác nghiệp và phiền não gọi chung là Nghiệp kết, Nghiệp não. Chướng ngại do nghiệp ác sinh ra, gọi là Nghiệp chướng, Nghiệp lụy. Vì nghiệp có khả năng chiêu cảm báo ứng, cho nên cũng gọi là Nghiệp cảm. Nghiệp được tạo tác ở đời quá khứ, gọi là Túc nghiệp, hoặc Tiền nghiệp. Thọ mệnh do túc nghiệp đền trả, gọi là Nghiệp thọ, Nghiệp thụ. Trọng bệnh do nhân của Túc nghiệp gây ra, gọi là Nghiệp bệnh. Những tai ách do ảnh hưởng của túc nghiệp, gọi là Nghiệp ách. Lại vì nghiệp đeo theo con người giống như bóng với hình, cho nên cũng gọi là Nghiệp ảnh. Nghiệp có năng lực trói buộc chúng sinh ở cõi mê, cho nên gọi là Nghiệp hệ, Nghiệp quyên, Nghiệp phược, Nghiệp thằng. Nghiệp giống như tấm lưới vít kín chúng sinh trong cõi mê, vì thế gọi là Nghiệp võng. Ác nghiệp giống như bụi nhơ, hay làm bẩn thân người nên gọi là Nghiệp cấu, Nghiệp trần. Cũng có chỗ ví dụ tác dụng của Nghiệp ác giống như lửa, ma, giặc, cho nên gọi là Nghiệp hỏa, Nghiệp ma (1 trong 10 loại ma), Nghiệp tặc v.v... Tấm gương, cái cân, cuốn sổ... trong địa ngục dùng để soi rọi, cân lường và ghi chép nghiệp thiện, ác của chúng sinh được gọi là Nghiệp kính, Nghiệp xứng, Nghiệp bạ... Sức của Nghiệp ác mạnh như gió, cho nên gọi là Nghiệp phong. Sức thần thông có được nhờ túc nghiệp, gọi là Nghiệp thong (Báo thông).

Nghiệp có năng lực chiêu cảm (quả báo) địa ngục Vô gián, gọi là Vô gián nghiệp. Nghiệp trói buộc hữu tình chúng sinh trong 3 cõi, gọi là Tam giới hệ nghiệp. Nghiệp chiêu cảm quả báo khiến hữu tình chúng sinh sinh vào các cõi trong vị lai, gọi là Nhuận nghiệp, Nhuận sinh nghiệp. Ngoài ra, nghiệp do mình tự tạo, mình chịu quả báo, gọi là Tự nghiệp tự đắc. Chi Hữu trong 12 nhân duyên được gọi là Nghiệp hữu. Sau hết, pháp tu niệm Phật A di đà nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ được gọi là Tịnh nghiệp. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, 37, 49; kinh Trung a hàm Q.3, 58; kinh Trường a hàm Q.11; kinh Bản sự Q.1; kinh Chính pháp niệm xứ Q.34; Duy thức luận đồng học sao Q.1; Phật pháp khái luận chương 7 (Ấn thuận); Thành Phật chi đạo Ngũ thừa cộng pháp chương (Ấn thuận); Phật học Kim thuyên (Trương trừng cơ); Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận thiên 2 chương 4 (Mộc thôn Thái hiền); Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận thiên 5 chương 5 (Mộc thôn Thái hiền)]. (xt. Nghiệp Đạo).
Ta Bà
(s, p: sahā, j: saba, 娑婆): âm dịch là Sa Ha (娑訶), Sách Ha (索訶), ý dịch là nhẫn (忍), nói cho đúng là Ta Bà Thế Giới (s, p: sahā-lokadhātu, 娑婆世界), ý dịch là thế giới chịu đựng (nhẫn độ, nhẫn giới), tức chỉ thế giới, cõi đời này, thế giới mà đức Thích Tôn giáo hóa. Nó còn được gọi là Nhân Gian Giới (人間界, cõi con người), Tục Thế Giới (世俗界, thế giới phàm tục), Hiện Thế (現世, cõi đời này). Chúng sanh ở trong thế giới này chịu đựng các phiền não, vì vậy mới có tên là thế giới chịu đựng. Bên cạnh đó từ này còn được dịch là Tạp Hội (雜會) hay Tập Hội (集會). Nguyên ngữ của từ tập hội là sabhā, muốn ám chỉ sự tập hội phức tạp của các tầng lớp như con người, trên trời, Sa Môn, Bà La Môn, Sát Đế Lợi, cư sĩ, v.v. Người ta cho rằng nguyên lai từ sahā cũng phát xuất từ sabhā, là thế giới có nhiều loại người khác nhau làm đối tượng hóa độ của đức Phật Thích Ca. Thiền sư Chơn Không (眞空, 1045-1100) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Diệu bổn hư vô minh tự khoa, hòa phong xuy khởi biến Ta Bà, nhân nhân tận thức vô vi lạc, nhược đắc vô vi thỉ thị gia (妙本虛無明自誇、和風吹起遍娑婆、人人盡識無爲樂、若得無爲始是家, diệu bản thênh thang sáng tự khoa, gió hòa thổi khắp cõi Ta Bà, người người thảy biết vô vi lạc, nếu đạt vô vi mới là nhà).” Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) cũng có hai câu đối như sau: “Ta Bà giáo chủ bi nguyện hoằng thâm thệ độ khổ nhân ly hỏa trạch, Cực Lạc đạo sư từ tâm quảng đại thường nghinh mê tử nhập Liên Trì (娑婆敎主悲願宏深誓度苦人離火宅、極樂導師慈心廣大常迎迷子入蓮池, Ta Bà giáo chủ bi nguyện rộng sâu thề độ người khổ xa nhà lửa, Cực Lạc đạo sư từ tâm rộng lớn thường đón kẻ mê vào Liên Trì).”
thần thức
(神識) Cũng gọi Linh hồn. Tâm thức của loài hữu tình linh thiêng mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là Thần thức. Thần thức giới không thể dùng vật chất mà thấy được, cũng không đến được bằng thể vật chất, chỉ có thể dùng hành vi thể nhập để thể hiện. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 144 trung) nói: Lúc lâm chung trước hết thấy lửa hừng khắp các thế giới trong 10 phương, thần thức người chết bay đi, theo khói mà rơi vào địa ngục Vô gián. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.7; kinh Đại bảo tích Q.109].
tâm sở
(心所) Phạm: Caitta, Caitasika. Pàli:Cetasika. Cũng gọi Tâm số, Tâm sở hữu pháp, Tâm sở pháp, Tâm số pháp. Những tác dụng của tâm, tương ứng và tồn tại cùng lúc với tâm, 1 trong 5 vị. Về mối quan hệ tương ứng giữa Tâm vương(tâm) và Tâm sở thì có 5 nghĩa bình đẳng(sở y bình đẳng, sở duyên bình đẳng, hành tướng bình đẳng, thời bình đẳng và sự bình đẳng), vì thế nên Tâm sở cũng gọi là Tương ứng pháp, Tâm tương ứng pháp. Về vấn đề lìa Tâm vương thì Tâm sở có tự thể riêng hay không thì Hữu bộ chủ trương là có và lập ra thuyết Biệt thể, còn các bộ phái khác thì có nhiều dị thuyết. Về số lượng của Tâm sở và cách phân loại cũng có nhiều thuyết. Luận Câu xá thuộc Tiểu thừa, lập 6 vị, 46 Tâm sở: 1. MườiĐại địa pháp(những Tâm sở tương ứng với tất cả tâm): Thụ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải và tam ma địa.2. Mười Đại thiện địa pháp (những Tâm sở tương ứng với tất cả tâm thiện): Tín, bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại và cần. 3. Sáu Đại phiền não địa pháp(những Tâm sở ô nhiễm tương ứng với tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí): Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm và trạo cử. 4. Hai Đại bất thiện địa pháp(là Tâm sở chỉ tương ứng với tất cả tâm bất thiện): Vô tàm vàvô quí. 5. Mười Tiểu phiền não địa pháp (những Tâm sở tương ứng với vô minh, nhưng không khởi 2 thứ trở lên cùng 1 lúc): Phẫn, phú, khan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu.6. TámBấtđịnhđịa pháp(những Tâm sở ngoài 5 loại trên): Ác tác, thụy miên, tầm, tứ, tham, sân, mạn và nghi. Ngoài ra, kinh Chính pháp niệm xứ quyển 33, trong các Đại thiện địa pháp nói trên, đem vô si thay cho vô sân; luận Đại tì bà sa quyển 42 thì nêu 7 loại Tâm sở là: Đại địa pháp, Đại thiện địa pháp, Đại phiền não địa pháp, Đại bất thiện địa pháp, Tiểu phiềnnão địa pháp, Đại hữu phú vô kí địa pháp và Đại vô phú vô kí địa pháp, đồng thời liệt kê 49 Tâm sở. Luận Thành duy thức thuộc Đại thừa thì chia Tâm sở làm 6 vị: Biến hành, Biệt cảnh, Thiện, Phiền não, Tùy phiền não và Bất định. Đối lại với 6 vị này mà lập ra 4 thứ Nhất thiết nghĩa: Nhất thiết tính (cùng chung với cả 3 tính thiện, ác và vô kí mà khởi), Nhất thiết địa(cùng chung với 3 địa: Hữu tầm hữu tứ, vô tầm duy tứ và vô tầm vô tứ mà khởi), Nhất thiết thời(từ vô thủy đến nay thường hằng tương tục), Nhất thiết câu(tất cả Tâm sở sinh khởi cùng lúc). Trong đó, nói một cách đại thể Tâm sở biến hành có đủ 4 nhất thiết nghĩa; Tâm sở biệt cảnh có 2 nhất thiết nghĩa là Nhất thiết tính và Nhất thiết địa; Tâm sở Thiện chỉ có 1 nhất thiết nghĩa là Nhất thiết địa; Tâm sở bất định chỉ có 1 nhất thiết nghĩa là Nhất thiết tính; còn Tâm sở phiền não và Tâm sở tùy phiền não thì không có Nhất thiết nghĩa nào. Biến hành gồm 5 thứ: Tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư. Biệt cảnh cũng có 5 thứ: Dục, thắng giải, niệm, định, tuệ; cộng chung cả 2 thì tương đương với 10 Đại địa pháp. Thiện có 11 thứ: Tín, tàm, qui, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả và bất hại. Phiền não có 6 thứ: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Tùy phiền não gồm 20 thứ: Phẫn, hận, phú, não, tật, khan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn và bất chính tri. Bất định gồm có 4 thứ: Hối(ác tác), thụy miên, tầm, tứ. Trong đó, Tùy phiền não lại được chia làm 3 loại: 10 tùy phiền não đầu tiên(từ phẫn đến kiêu) khởi lên riêng biệt, nên gọi là Tiểu tùy phiền não(Tiểu tùy hoặc). Hai tùy phiền não kế tiếp (vô tàm, vô quí) khởi lên với tất cả tâm bất thiện, vì thế gọi là Trung tùy phiền não(Trung tùy hoặc). Tám tùy phiền não sau cùng(từ trạo cử đến bất chính tri)khởi lên với tất cả tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí, cho nên gọi là Đại tùy phiền não(Đại tùy hoặc). Luận Du già sư địa quyển 1, ngoài 20 Tùy phiền não nêu trên, còn lập tà dục và tà thắng giải, tổng cộng thành 53 pháp Tâm sở. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì chia ác kiến trong 6 phiền não căn bản thành 5 thứ như thân kiến... nên tổng cộng là 55 pháp Tâm sở. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Câu xá Q.4; luận Thuận chính lí Q.10; luận Giới thân túc Q.thượng; luận Thành thực Q.5, 7; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.3, hạ]. (xt. Tam Tâm Sở, Tâm Vương).
bồ tát
(菩薩) Từ gọi tắt của Bồ đề tát đỏa. Bồ đề tát đỏa, Phạm: bodhi-sattva. Pàli: bodhisatta. Cũng gọi Bồ đề sách đa, Mạo địa tát đát phược, Phù tát. Dịch ý: Đạo chúng sinh, Giác hữu tình, Đại giác hữu tình, Đạo tâm chúng sinh. Hàm ý là người cầu đạo, cầu đại giác, người có tâm cầu đạo rộng lớn. Bồ đề nghĩa là giác, trí, đạo. Tát đỏa nghĩa là chúng sinh, hữu tình. Bồ tát cùng với Thanh văn, Duyên giác gọi chung là Tam thừa. Cũng là một trong 10 giới. Bồ tát là chỉ cho người tu hành trên cầu vô thượng bồ đề bằng trí tuệ, dưới hóa độ chúng sinh bằng tâm từ bi, tu các hạnh ba la mật và trong vị lai sẽ thành tựu quả Phật. Cũng tức là người dũng mãnh cầu bồ đề, tròn đủ hai hạnh lợi mình và lợi người. Nếu đứng trên quan điểm cầu bồ đề (trí giác ngộ) mà nói, thì Thanh văn, Duyên giác cũng có thể được gọi là Bồ tát; bởi vậy, để phân biệt, mới gọi những người tu hành Đại thừa cầu vô thượng bồ đề là Ma ha tát đỏa (Phạm: mahà-sattva, maha nghĩa là lớn), Ma ha tát, Bồ tát ma ha tát, Bồ đề tát đỏa ma ha tát, Ma ha bồ đề chất đế tát đỏa v.v...… Những tên khác của Bồ tát được ghi trong kinh điển là: Khai sĩ (Bồ đề tát đỏa), Đại sĩ (Ma ha tát đỏa), Tôn nhân (Đệ nhất tát đỏa), Thượng nhân (Thượng tát đỏa), Vô thượng (Vô thượng tát đỏa), Lực sĩ (Lực tát đỏa), Vô song (Vô đẳng tát đỏa), Vô tư nghị (Bất tư nghị tát đỏa), Phật tử, Phật trì, Đại sư, Đại thánh, Đại công đức, Đại tự tại, Chính sĩ, Thủy sĩ, Cao sĩ, Đại đạo tâm thành chúng sinh, Pháp thần, Pháp vương tử, Thắng sinh tử, Quảng đại tát đỏa, Cực diệu tát đỏa, Thắng xuất nhất thiết tam giới tát đỏa, Thân nghiệp vô thất ngữ nghiệp vô thất ý nghiệp vô thất (ba nghiệp không có lỗi), Thân nghiệp thanh tịnh ngữ nghiệp thanh tịnh ý nghiệp thanh tịnh, Thân nghiệp vô động ngữ nghiệp vô động ý nghiệp vô động, Thành tựu giác tuệ (Phạm: dhìmat, người có trí tuệ), Tối thượng chiếu minh (Phạm:uttama-dyuti, thành tựu cao tột), Tối thắng chân tử (Phạm: jina-putra, người con hơn hết, người con hàng phục), Tối thắng nhậm trì (Phạm: jinàdhàra, chỗ nương tựa hơn hết, nắm giữ hàng phục), Phổ năng hàng phục (Phạm: vijetf, người sai khiến hơn hết, hay hàng phục), Tối thắng manh nha (Phạm: jinàíkura, cái mầm mống hơn hết), Dũng kiện (Phạm: vikrànta, mạnh mẽ), Tối thánh (Phạm: paramàzcarya, bậc thầy khuôn phép cao hơn hết, Thượng thánh), Thương chủ (Phạm:sàrthavàha, thầy dẫn đường), Đại xưng (Phạm: mahà-yazas, bậc có danh tiếng lớn), Lân mẫn (Phạm:kfpàlu, thành tựu tình thương), Đại phúc (Phạm: mahàpuịya, phúc đức lớn), Tự tại (Phạm: ìzvara), Pháp sư (Phạm:dhàrmika) v.v…...

Lại vì Bồ tát là những vị phát đại Bồ đề tâm, đầy đủ các nguyện thù thắng thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi chúng Bồ tát là Thắng nguyện Bồ đề đại tâm chúng. Bồ tát được chia làm nhiều chủng loại, tùy theo sự liễu ngộ có cạn có sâu không giống nhau mà Bồ tát có những giai vị bất đồng. Ngoài điểm khác biệt này ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 8 phẩm Bồ tát công đức còn nêu ra mười loại Bồ tát: Chủng tính (Phạm: gotra-stha), Nhập (Phạm: avatìrịa), Vị tịnh (Phạm:a-zuddhà-zaya), Vị thục (Phạm:a-paripakva), Thục (Phạm: paripakva), Vị định (Phạm: a-niyatipatita), Định (Phạm: niyati-patita), Nhất sinh (Phạm:eka-jàti-pratibaddha), Tối hậu thân (Phạm: carama-bhavika). Trong mười loại Bồ tát trên đây, loại chưa được tâm thanh tịnh, gọi là Chủng tính; phát tâm tu học, gọi là Nhập (vào); vào rồi mà chưa đạt đến địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Vị tịnh (Chưa thanh tịnh); đã vào địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Tịnh; người tâm đã thanh tịnh nhưng chưa vào được địa vị rốt ráo, gọi là Vị thục (chưa chín); đã vào địa vị rốt ráo, gọi là Thục; thục rồi nhưng chưa vào địa vị định, gọi là Vị định (chưa Định); vào địa vị định rồi thì gọi là Định. Thục lại có hai loại: 1. Nhất sinh, là theo thứ lớp được Vô thượng bồ đề. 2. Tối hậu thân, là được Vô thượng bồ đề ngay trong đời này. Ngoài ra, Bồ tát cũng còn được chia làm tại gia và xuất gia, bệ bạt trí (trở lui) và a bệ bạt trí (không trở lui), sinh thân (người chưa dứt phiền não), và pháp thân (người đã đoạn trừ phiền não, được sáu thần thông), sinh tử nhục thân và pháp tính sinh thân, đại lực và tân phát tâm, đốn ngộ và tiệm ngộ, trí tăng và bi tăng v.v…...

Thuyết trí tăng bi tăng là chủ trương của tông Pháp tướng, nghĩa là theo sự phân loại Bồ tát từ địa vị thứ tám trở về trước, thì Bồ tát Trực vãng (bồ tát đốn ngộ) chế phục sự hiện hành của phiền não Câu sinh khởi, liền chịu thân Biến dịch, thành là Trí tăng thượng Bồ tát. Đến địa vị thứ bảy (Mãn tâm), sau khi chế phục hết phiền não, chịu thân phần đoạn, thì thành là Bi tăng thượng Bồ tát hoặc Đại bi Bồ tát. Đối với các Bồ tát hồi tâm (hướng về Đại thừa, tức các Bồ tát tiệm ngộ), thì người hồi tâm từ Bất hoàn và A la hán, do đã dứt hết phiền não ở cõi Dục, cho nên là Trí tăng; còn người hồi tâm từ Dự lưu và Nhất lai thì là Trí tăng hoặc Bi tăng. Ngoài ra, còn có Bồ tát Trí bi bình đẳng. Đồng thời, Bồ tát của giai vị Thập tín gọi là Tân phát ý Bồ tát, Trụ tiền tín tướng Bồ tát, Giả danh Bồ tát v.v...… Hạnh Bồ tát tu, gọi là Bồ tát hạnh, tất cả phép tắc nghi thức liên quan đến Bồ tát, gọi là Bồ tát pháp thức; giáo pháp nhằm đạt đến quả vị Phật, gọi là Bồ tát thừa; kinh điển của Bồ tát thừa, gọi là Bồ tát tạng. Kinh Phạm võng nói về giới Bồ tát do Bồ tát nhận giữ. Tên các vị Bồ tát thường được nói đến trong các kinh gồm có các bồ tát Di lặc, Văn thù, Quán thế âm, Đại thế chí v.v…...

Trong giới tăng sĩ hoặc cư sĩ thuộc Đại thừa, cũng có các vị được tôn thành Bồ tát, như các học giả Long thụ, Thế thân v.v... …của Phật giáo Đại thừa Ấn độ đã được tôn là Bồ tát. Ở Trung quốc thì ngài Trúc pháp hộ được tôn là Đôn hoàng Bồ tát, ngài Đạo an là Ấn thủ Bồ tát. Tại Nhật bản cũng có các vị cao tăng được vua ban hiệu Bồ tát. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.5; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.12; kinh Đại a di đà Q.thượng; kinh Hoa nghiêm (dịch cũ) phẩm Li thế gian; kinh Hoa nghiêm (dịch mới) phẩm Phổ hiền hạnh; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức; kinh Đại bảo tích Q.3; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.7; kinh Phạm võng Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.176; luận Đại trí độ Q.4, Q.41, Q.44, Q.71, Q.94; luận Du già sư địa Q.46; Đại nhật kinh sớ Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.17; Khuyến phát bồ đề tâm tập Q.hạ; Đại tống tăng sử lược Q.hạ]. (xt. Tam Thừa, Bồ Tát Giai Vị).
pháp vương tử
(法王子) Phạm: Kumàrabhùta. Hán âm: Cứu ma la phù đa, Cưu ma la phù.Hán dịch: Đồng chân. Con bậc Pháp vương, là tên khác của Bồ tát. Bồ tát là người kế thừa ngôi vị của Phật, Phật là Pháp vương, nên Bồ tát được gọi chung là Pháp vương tử. Sự quan hệ giữa Pháp vương Như lai và Bồ tát cũng giống như quan hệ giữa Quốc vương và Vương tử ở thế gian, vì thế gọi Bồ tát là Pháp vương tử. [X. kinh A di đà; phẩm Báo ân trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.2; luận Đại trí độ Q.4, 32; Chú duy ma kinh Q.1].
pháp vương
(法王) Phạm: Dharma-ràja. I. Pháp Vương. Vua pháp. Danh từ tôn xưng đức Phật. Vương có nghĩa tối thắng, tự tại. Phật là chủ các pháp môn, có năng lực tự tại giáo hóa chúng sinh, vì thế gọi là Pháp vương. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 275 trung), nói: Phật là Pháp vương, tôn quí hơn hết trong hàng Thánh chúng, là bậc Thầy của tất cả trời người. Thích ca phương chí quyển thượng (Đại 51, 950 thượng) nói: Địa vị cao nhất của người phàm là Luân vương; địa vị cao nhất của Thánh nhân là Pháp vương. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3; phẩm Phật quốc kinh Duy ma Q.thượng; phẩm An lạc hạnh kinh Pháp hoa Q.5]. II. Pháp Vương. Danh từ tôn xưng Bồ tát. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 27 thì khi nhận ngôi vị, Bồ tát được chư Phật dùng nước trí tuệ rưới lên đỉnh đầu (quán đính), nhờ đó, Bồ tát có đầy đủ Thập lực của đức Phật, cũng có khả năng chuyển Thập thiện đạo, cho nên gọi là Quán đính pháp vương. Lại theo phẩm Mật tích lực sĩ trong kinh Đại bảo tích quyển 9, thì vì Bồ tát có đủ 4 việc nên được tôn xưng là Pháp vương. Bốn việc ấy là: 1. Không bỏ đạo tâm. 2. Khuyến hóa chúng sinh phát tâm. 3. Dùng các thiện căn công đức khuyến giúp đạo tâm, làm cho người nghe mở rộng tâm ý. 4. Khiến cho Đế thích, Phạm thiên, Tứ thiên vương, các vị Thanh văn và Duyên giác đến được đạo nghiệp rộng lớn vô cùng, không hoại diệt. [X.phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa Q.6]. III. Pháp Vương. Tên khác của vua Diêm ma ở cõi U minh. Vua Diêm ma y theo pháp mà phán xét tội của chúng sinh ở cõi U minh, nên gọi là Pháp vương. IV. Pháp Vương. Hiệu vua phong cho vị thủ lãnh của Phật giáo do Tây tạng truyền. Bắt đầu vào năm Chí nguyên thứ 7 (1270) đời vua Thế tổ nhà Nguyên, ngài Bát tư ba –thủ lãnh của phái Tát ca– được phong Đại Bảo Pháp Vương. Năm Vĩnh lạc thứ 4 (1406) đời Minh, vua Thành tổ dẫn binh đem lễ vật đi mời Lạt ma Cáp lập ma thuộc phái Ca nhĩ cư đến Bắc kinh, năm sau, vua phong ngài Cáp lập ma là Vạn Hạnh Cụ Túc Thập Phương Tối Thắng Viên Giác Diệu Trí Tuệ Thiện Phổ Ứng Hựu Quốc Diễn Giáo Như Lai Đại Bảo Pháp Vương Tây Thiên Tự Tại Phật gọi tắt là Đại Bảo Pháp Vương. Sau đó, vua lại phong cho vị Lạt ma Thượng thủ của phái Tát ca là Đại Thừa Pháp Vương và vị Lạt Pháp Vương. (xt. Đại Bảo Pháp Vương). V. Pháp Vương. Tên 1 chức quan được đặt ra ở khoảng thời đại Nại lương của Nhật bản. Thiếu tăng đô tên Đạo kính ra vào trong cung, được Thiên hoàng yêu mến và ban cho hiệu Đại Thần Thiền Sư. Rồi vào năm Thiên bình hộ thứ 2 (766), vua trao ngôi vị Pháp Vương cho sư. Ngoài ra, Thái tử Thánh đức được tôn xưng là Thánh Đức Pháp Vương hoặc Đại Pháp Vương Hoàng Thái Tử.
nhân duyên
(因緣) Phạm: Hetu-pratyaya. Từ gọi chung nhân và duyên. Nhân là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả. Duyên chỉ cho nguyên nhân gián tiếp giúp đỡ bên ngoài. Do vậy mà Nhân duyên còn được gọi là Nội nhân ngoại duyên, Thân nhân sơ duyên. Và nói theo nghĩa rộng thì Nhân hàm ý là Nhân và duyên, bao gồm Nội nhân ngoại duyên. Hết thảy muôn vật đều tùy thuộc vào sự tan hợp của nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh, Duyên sinh, Duyên thành, Duyên khởi. Tất cả pháp do nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh diệt pháp; còn cái kết quả do nhân và duyên hòa hợp mà sinh ra thì gọi là Nhân duyên hòa hợp. Hết thảy vạn hữu đều do nhân duyên hòa hợp mà giả sinh, không có tự tính, đó chính là lí Nhân duyên tức không. Nếu lấy phiền não làm nhân, lấy nghiệp làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi mê; còn nếu lấy trí làm nhân, lấy định làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi ngộ. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6, quyển 7 có nêu thuyết 6 nhân 4 duyên. Sáu nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Tương ứng nhân, Đồng loại nhân, Biến hành nhân và Dị thục nhân. Bốn duyên: Nhân duyên, Sở duyên duyên, Đẳng vô gián duyên và Tăng thượng duyên. Trong đó, Năng tác nhân trong 6 nhân là Tăng thượng duyên trong 4 duyên, còn 5 nhân kia thì là Nhân duyên trong 4 duyên. Nhưng tông Duy thức thì cho rằng Đồng loại nhân trong 6 nhân là chung cho cả Nhân duyên và Tăng thượng duyên, còn 5 nhân kia là Tăng thượng duyên. Đồng loại nhân là nguyên nhân dẫn sinh ra quả Đẳng lưu, vì thế cũng gọi là Tự chủng nhân. Cũng như luận Câu xá cho rằng nhân khác tính dẫn sinh ra quả khác tính là nhân duyên. [X. kinh Tạp a hàm Q.1; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; phẩm Quán tứ đế trong Trung luận Q.4; luận Đại tì bà sa Q.16; luận Đại thừa khởi tín; luận Thành duy thức Q.2; luận Du già sư địa Q.3, 5, 38;luận Hiển dương thánh giáo Q.18]. (xt. Nhân, Duyên). II. Nhân Duyên. Nhân tức là duyên, chỉ cho Nhân duyên trong 4 duyên. (xt. Tứ Duyên). III. Nhân Duyên. Phạm: Nidàna. Cũng gọi Duyên khởi.Thể tài thứ 6 trong 12 thể tài kinh. (xt. Ni Đà Na).