Đối với chữ Ngũ Ấm trong kinh Phật, xét theo lối cựu dịch, có hai cách nói: Một là “che lấp”, hai là “tích tụ”. Tức là: Một là đọc theo giọng bình thanh, hai là đọc theo giọng khứ thanh. Theo lối tân dịch là Uẩn (蘊), chỉ có nghĩa “tích tụ”, chẳng có nghĩa “che lấp”, do chữ Ấm trong tiếng Phạn phải là Bát La Bà Đà, chẳng phải là Tắc Kiện Đà (Skandha). [Điều này] vẫn còn đang tranh luận. Lối tân dịch cũng chấp nhận cách hiểu là Âm Dương. Do đa số đọc [chữ này] theo giọng bình thanh, biết là còn có cách đọc khác mà thôi. Chữ này thuộc loại dịch nghĩa, nhưng đối với cách hiểu lại có những tranh luận cho rằng [cổ nhân] đã hiểu lầm tiếng Phạn. Nếu chẳng thông hiểu sâu xa tiếng Phạn, sẽ chẳng dám đoán định Tắc Kiện Đà và Bát La Bà Đà, chữ nào là Tích Tụ, chữ nào là Che Lấp. Vậy thì đối với chữ Ấm (陰) đọc giọng bình thanh hay khứ thanh cũng nên tồn nghi, hãy thuận theo cách đọc của đa số. Nhưng đối với câu đối do ông đã làm, đọc [chữ Ấm] theo giọng bình thanh (tức Âm) hoàn toàn chẳng có gì là không được!