Lễ bái là để tỏ lòng cung kính và biết ơn đối với chư Phật, chư Bồ Tát và Hiền, Thánh, Tăng. Lễ bái còn là phương pháp tiến đức, tiêu nghiệp và diệt trừ cống cao ngã mạn. Con người ở đời có nhiều lý do, và nhiều phương diện mà sinh ngã mạn: Hoặc cậy mình là quý phái mà ngã mạn; hoặc cậy mình là bực cao mà ngã mạn; hoặc cậy mình học rộng mà ngã mạn; hoặc cậy mình nhiều tài mà ngã mạn; hoặc cậy mình giàu có mà ngã mạn v.v… Ngã mạn là một căn bệnh phổ thông mà trầm trọng của mọi người, nên đức Phật đặt tên nó là Mạn sơn, nghĩa là sự kiêu mạn của con người cao to như quả núi.
Không những người thế gian, mà đến ngay những vị tu hành cũng khó thoát khỏi được ngã mạn. Kinh Dược su nói: “…cũng có người giới đức hoàn toàn, oai nghi đầy đủ, học rộng biết nhiều, có đủ chính kiến, mà mắc phải tăng thượng mạn!.
Vì tăng thượng mạn nên thân tâm mờ tối, ỷ mình chê người hủy báng chánh pháp. Kẻ ngu si ấy tự tạo tà kiến, lại còn dắt dẫn biết bao người lăn xuống hố sâu! Cũng vì thế mà họ chịu luân hồi nơi địa ngục, bàng sinh, ngạ quỷ đau khổ không biết ngày nào thoát được!”
Chính muốn phá trừ ngã mạn cho chúng sinh, nên trong Phật pháp có đặt thành sự lễ bái. Nhưng xin nhớ rằng, lễ bái đây là lễ bái Phật, pháp, Tăng, Tam Bảo, chứ không phải gặp đâu lễ đấy, bất kể gốc mít cây đa!...
Kinh Nghiệp báo sai biệt nói: “ lễ Phật một lễ, từ chổ quỳ gối xuống đến kim cang tế, cứ mỗi hạt bụi là một ngôi Chuyển luân vương; lại được thêm mười công đức: 1. Sắc thân tốt đẹp, 2. Nói ai cũng tin, 3. Ðối với đại chúng không sợ sệt, 4. Ðược Phật thường hộ niệm cho, 5. Có oai nghi đầy đủ, 6. Mọi người thân thiện, 7. Các vị trời kính yêu, 8. Phúc đức ngày càng lớn, 9. Lúc mệnh chung được vãng sinh, 10. Chóng được đạo quả Niết bàn.
Vì thế nên nói rằng lễ bái là một phương pháp tiến đức tiêu nghiệp.
VUA A DỤC LỂ TĂNG : Vua A Dục là một ông vua tàn bạo, nhưng khi đã thấm nhuần ân đức Tam Bảo, ông lại là một người nhân từ và thâm tín Phật pháp. Ông nghĩ rằng cũng là con người, mà có người sinh ra bị bần cùng, hèn hạ, ngu si đần độn bị người đời khinh bỉ…; có người thì tôn vinh sung sướng, thông minh trí tuệ, được người kính yêu. Tại sao có sự chênh lệch khác nhau như vậy, nếu không phải do thiện, ác nhân quả của mỗi người như lời của đức Phật đã dạy? Thực vậy, ta được sinh vào dòng quốc vương đế chúa, phúc như bốn biển, mọi người bái phục, dĩ nhiên đời trước ta đã trống nhân lành nên nay mới được quả phúc như vậy. Từ nay ta phải thực hành tu phúc nghiệp.
Ông chăm bố thí cúng dàng, tôn kính Tam Bảo. Mỗi khi ra đường gặp các vị Tăng, ông quỳ bên đường, đợi cho các Ngài đi qua rồi ông mới đứng dậy. Khi đến chùa, ông lễ các vị sư một cách rất cung kính, và cứ thường thường như vậy.
Một hôm ông có một ông quan đại thần tâu với vua rằng:
Tâu Bệ hạ, các vị sư có người con nhà quý phái, cũng có người con nhà nghèo hèn, xin Bệ hạ đừng lễ bái như vậy. Bệ hạ là một vị vua cao cả, một người cha của tất cả bá quan và thần dân, nay Bệ hạ lễ các vị sư, hạ thần tự thấy nhục cho bá quan và thần dân lắm.
Vua A Dục nghe nói, Ngài mỉm cười làm thinh. Qua ngày sau, vua ra lệnh cho bá quan văn võ, hạn trong ba ngày, mỗi ông phải dâng một đầu con thú, riêng ông Ðại thần nói trên, vua bắt phải tìm dâng một cái đầu người mới chết.
Sau khi các quan đã dâng đủ số đầu, vua hạ lệnh đem bán. Các quan đều bán được đầu thú phần mình, duy ông Ðại thần đi bán đầu người đi bán mãi không ai dám mua; bất đắc dĩ ông phải đem về, tâu vua rằng:
Tâu Bệ hạ, hạ thần đi bán mãi không ai dám mua, mà còm ghê tởm, la ó là đằng khác.
Cái đầu người này không ai thèm mua, chứ những đầu người khác, nếu có chắc bán được chứ?
Tâu Bệ hạ, không phải chỉ đầu này mà những đầu người khác nếu có, cũng chẳng ai thèm mua.
Thế đầu ta đây, nếu bán cũng không ai them mua sao?
Ông Ðại thần bối rối và sợ hãi không dám trả lời.
Vua truyền:
Ông cứ việc nói, ta cho phép.
Tâu Bệ hạ, thật thế. Ðầu Bệ hạ giả sử đem bán cũng chẳng ai mua.
Bấy giờ vua A Dục nghiêm giọng phán bảo ông Ðại thần:
Cái đầu ta đây, cũng là một vật tầm thường, vô giá trị như tất cả những đầu người khác. Vậy ta đem cái đầu này lễ bái các vị sư để tiêu tội, tăng phúc, là một việc làm có ý nghĩa và hữu ích, sao ngươi lại can ta?! Ðức Phật có dạy “ Người có trí, thì vật không giá trị, cũng làm nên có giá trị”.
Vậy từ nay ông không nên khuyên can ta nữa.
Ông Ðại thần vội vàng quỳ xuống tạ tội, và từ đấy ông phát tâm tôn sùng
Tam Bảo…
TỤNG KINH: Ta tụng kinh, Phật có nghe biết không ? và sự tụng kinh đem lại cho ta những lợi ích gì?
Sự ta tụng kinh Phật nghe biết hay không chúng ta hãy dùng trí tuệ để nhận xét. Ðức Phật có dạy rằng: “Âm thinh chu biến pháp giới”, không còn là vấn đề nan giải nữa.
Vấn đề thứ hai, đức Phật đã thành tựu trí tuệ viên mãn, sự thấy, nghe, hiểu biết của Ngài quán triệt mười phương thế giới. Kinh Bảo Tích nói: “ từ một tư tưởng hoặc một lời nói của chúng sinh, chư Phật ở mười phương đều hiểu biết”. Kinh Pháp Hoa cũng nói: “chúng sinh có bao nhiêu tâm niệm, Như Lai đều thấy hết biết hết”. Vậy thì ta tụng kinh, lời cầu nguyện rung cảm, dâng lên pháp giới, lẽ nào đức Phật lại không nghe thấy?
Và đây là một chứng nghiệm: Ngài Xá Lợi Phất là một đệ tử bực nhất của đức Phật. Muốn thí nghiệm âm thinh chu biến thế nào, Ngài hiện thần thông bay sang một thế giới cách cõi ta vô biên vô số quốc độ. Ở đấy Phật và chúng Tăng (con người) to lớn lắm, đến nỗi ông đi trên cái miệng bát của chúng Tăng, và các vị bên ấy chỉ thấy ông như một con kiến mặc cà sa! Các vị hỏi Phật, Phật nói: “đó là đệ tử của Ðức Phật Thích Ca ở thế giới ta bà”.
Phật bảo ông hiện thần thông, ông liền hiện thân to lớn hơn các vị Bồ Tát bên đó nữa.
Trong khi ở đấy, ông vẫn nghe tiếng thuyết pháp của đức Phật ở cõi này, và chứng nghiệm thật âm thinh chu biến như lời Phật dạy.
Còn tụng kinh được lợi ích gì? Thì, mỗi khi ta tụng kinh ta cầu gì hơn là được thấm nhuần lời Phật dạy, rõ sự lý tu hành, nhân quả tội phúc, minh tâm kiến tánh giác ngộ thành Phật.
Tụng kinh lại có thể tiêu trừ nghiệp chướng từ bao kiếp dẫn lại.
Tụng kinh cũng tức là chuyển pháp luân cho chúng sinh trong muôn nghìn triệu thế giới…
Phật là một vị đại sư của cả ba cõi, là đấng cha lành của bốn loài, hết thảy trời, người, phàm, thánh đều quy kính. Mỗi khi ta tụng những lời của Ngài, âm thinh rung động, thì tất cả thiên long bát bộ, Hộ pháp thiện thần đều tới chầu nghe và phù trì, ủng hộ cho ta những điều sở cầu được như ý…