Đó là cách nói dùng để phá chấp của người xưa.
Phàm phu không biết Phật chân thật của mình, một bề hướng ngoại tìm cầu, chấp chặt vào sự tướng chẳng rõ chỗ chân thật, lo phân biệt cảnh giới bên ngoài, chẳng vì để trợ giúp cho đạo, chỉ lo mong cầu phước báo. Giống như bắn mũi tên vào hư không, như người đi vào chỗ tối tăm, do đó chuốc lấy quả báo sanh diệt, chẳng vượt khỏi tâm trần.
Nếu thấu suốt Duy tâm thì thấy tất cả đều là tướng phần của tâm, hoàn toàn không chấp là vật ở bên ngoài. Song, chẳng phá hoại nhân duyên, Sự Lý vô ngại.
Hòa thượng Thần Giai nói:
“Thấu rõ chúng sanh vốn rỗng không chẳng bỏ tâm đại bi, quán xét Như Lai vốn lặng lẽ mà chẳng sơ thất đối với việc cung kính cúng dường. Bàn về Thật tướng chẳng hủy hoại giả danh, luận về sai biệt mà chẳng phá trừ bình đẳng”.
Vả lại trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát Bát Địa thân chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, vào chỗ vô công dung đạo, thấu rõ tất cả pháp như tánh hư không, cho đến tâm Niết Bàn vẫn chẳng hiện tiền, mới thấy vô lượng Phật, tận tâm thành kính cúng dường.
Lại nói, nếu người kia thường cung kính cúng dường nơi Tam Bảo, không biết mỏi mệt chán nản, có thể vượt khỏi bốn cảnh ma, nhanh chóng thành tựu Giác ngộ Vô thượng.
Kinh Hiền Ngu nói:
“Nước Xá Vệ có một Trưởng giả sanh một nam tử. Ngay lúc sanh ra, trời mưa xuống bảy loại báu, do đó bé ấy có tên Bảo Thiên. Về sau gặp Đức Phật xuất gia đắc đạo.
Phật bảo:
Lúc Đức Phật Tỳ Bà Thi xuất hiện ở đời, có một người nghèo, tuy lòng hoan hỷ mến thích Đức Phật, nhưng không có phẩm vật để cúng dường. Người ấy lấy một mảnh đá trắng nghĩ là ngọc dùng cúng dường chúng Tăng, người ấy nay chính là Tỳ kheo Bảo Thiên. Nhờ vậy ông được hưởng vô lượng phước, y phục và thức ăn đều tự nhiên có. Nay lại gặp ta, được đạo chứng quả”.
Đại sư Chơn Giác nói:
“Tin sâu chánh pháp, siêng thực hành Lục độ, đọc tụng Đại thừa, hành đạo lễ bái, dùng vị ngon, hương hoa, âm thanh tán thán tụng chú, đèn đuốc, đền đài, chùa chiền, núi non, biển cả, rừng suối, hư không, đất đai, tất cả từ vi trần trở lên ở thế gian thảy đều cúng dường, tập hợp công đức hồi hướng để hỗ trợ Bồ đề”.
Do đó nên biết, chỉ là phá trừ sự chấp trước “các pháp ở ngoài tâm” của phàm phu mà thôi.
Ngoài ra, hoặc là tham lợi để cúng dường, trì giới bằng tâm nóng giận; làm phước mà kiêu mạn, bố thí để tỏ ra hơn người; không có tâm ân trọng, chẳng phải ý rộng lớn, nếu thực hành như thế khó mà chiêu vời tịnh nghiệp.
Không nên hiểu lầm ý của bậc Thánh, phán đoán theo phàm tình, sanh khởi tâm cho là đoạn diệt, làm hư hạt giống Bồ đề.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói:
“Nếu ở trong định, các thiện nam tử thấy sắc ấm tiêu diệt, thọ ấm rõ ràng, tự cho là đã được đầy đủ, bỗng nhiên vô cớ sanh tâm đại ngã mạn như thế cho đến tâm mạn và quá mạn hoặc tăng thượng mạn, hoặc ty liệt mạn nhất thời đều phát khởi. Người này trong lòng còn xem thường các Đức Như Lai khắp mười phương, huống gì là các bậc thấp như Thanh Văn, Duyên Giác. Đó gọi là kiến chấp hơn người, không có trí tuệ tự cứu mình, nếu tỏ ngộ thì không có lỗi lầm, chẳng phải là chứng quả Thánh. Nếu cho là chứng Thánh thì có một phần ma đại ngã mạn nhập vào tâm. Người này chẳng lễ bái chùa tháp, hủy hoại kinh tượng, họ nói với Đàn việt:
“Đó là đồng, vàng hoặc là gỗ đất; kinh là lá cây hoặc là điệp hoa, nhục thân này là chân thật thường còn mà không cung kính, lại tôn sùng gỗ đất”.
Thật là điên đảo! Những người tin theo họ, hủy hoại kinh tượng, chôn vùi xuống đất, khiến cho chúng sanh nghi ngờ lầm lạc rơi vào địa ngục Vô gián, khi mất chánh định sẽ đọa vào trầm luân”.
Chỉ cần khi thực hành các việc lành, tất cả đều không vướng mắc, hoan hỷ vui vẻ, tận lực chân thành hướng về đạo Giác ngộ Vô thượng. Ban cho khắp cả chúng sanh trong pháp giới thì một mảy may thiện đều là nhân viên mãn, hoàn toàn chẳng rơi vào nhân quả của trời người.
Vả lại, phước nghiệp rộng sâu, trợ giúp cả phàm lẫn Thánh. Phước là cội gốc của an lạc, trí là cánh cửa dẫn đến giải thoát. Do đó, hai pháp này không thể tạm thời sơ thất. Chúng chính là con đường chân chánh đưa đến thành Phật, thật là nhân sâu xa để giải trừ đau khổ. Ngưỡng trông Vô thượng Bảo vương, bậc cha lành trong mười phương làm vô lượng phước lành, đầy đủ thân công đức. Ngài còn đích thân đảnh lễ đống xương khô, tự mình vì đệ tử mà xỏ kim. Huống chi kẻ phàm phu thấp kém, phước ít đức mỏng.
Hàng Xiển đề không tin ngã mạn cống cao, lại hổ thẹn cam chịu làm kẻ thấp hèn, dứt bỏ những việc lành nhỏ hay sao?
Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi Đức Phật bảo rằng:
“Nếu có người thấy có người khác tu phước và bố thí cho kẻ bần cùng, chê bai hủy báng rằng:
Người tà mạn kia vì tìm cầu danh lợi, kẻ xuất gia cần gì bố thí, chỉ cần tu thiền định và trí tuệ. Cần gì lăng xăng làm những việc vô ích.
Người suy nghĩ như thế là quyến thuộc của ma, người ấy lúc mạng chung sẽ đọa vào đại địa ngục thọ khổ lâu dài. Khi ở địa ngục ra lại rơi vào ngã quỷ, trong năm trăm đời đọa thân chó. Khi thoát khỏi thân chó, trong năm trăm đời thường sanh vào hạng nghèo hèn chịu mọi thứ khổ. Vì ở đời trước thấy người khác bố thí mà không tùy hỷ”.
Trong Luận nói:
“Phước đức là cội gốc của Đại Bồ Tát, nó hay làm mãn nguyện. Tất cả các bậc Thánh đều khen ngợi, kẻ vô trí lại chê bai. Người trí thì thực hành, kẻ vô trí lại rời xa.
Do nhân duyên phước đức mà làm Đế Vương, Chuyển Luân Thánh Vương, Thiên Vương, A La Hán, Độc Giác, các pháp Đại từ Đại bi, Thập lực, Tứ vô sở úy, Nhất thiết Chủng trí, tự tại vô ngại của chư Phật, Thế Tôn đều nơi phước đức sanh ra”.
Còn nói:
Tu Bồ Đề hỏi:
“Trong tánh không rốt ráo không có phước và chẳng phước. Tại sao chỉ do phước đức mà được thành Phật?”.
Đáp: “Từ mặt Thế đế mà nói, có phước nên được thành Phật”.
Tu Bồ Đề vì chúng sanh chấp trước vào chỗ không có gì nên hỏi, Đức Phật vì người không chấp trước vào có mà đáp. Bảo rằng tinh tấn tu phước còn không thể được, huống gì không tu phước đức. Như đạo nhân khất thực đi vào trong xóm làng, từ nhà này đến nhà khác mà khất thực không được. Đạo nhân thấy một con chó đói nằm, bèn lấy gậy đánh nó. Nói rằng:
“Ngươi là súc sanh vô trí, ta dùng nhiều nhân duyên tìm cầu thức ăn nơi mọi nhà còn không được, huống gì ngươi nằm nơi đây mà mong được thức ăn hay sao?”.
Đến như việc luôn thắp sáng đèn đuốc quý báu cúng dường Phật nên thường được tăng trưởng trí tuệ, nơi thân thường tỏa sáng. Nhân chân chánh, quả ắt viên mãn; hạnh trọn vẹn thì nghiệp thành tựu. Thế nên kẻ cướp ngẫu nhiên khêu ngọn lửa sắp tàn mà được thiên nhãn thường sáng tỏ; cô gái nghèo do cúng dường ngọn đèn nhỏ, được thọ ký về sau thành Phật.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Lại phóng ánh sáng tên là Chiếu Diệu át cả ánh sáng của hết thảy chư Thiên, dứt trừ tất cả sự tối tăm và chướng ngại, làm lợi ích khắp chúng sanh. Ánh sáng này giác ngộ tất cả mọi người. Bảo cầm đèn sáng cúng dường Phật sẽ được thành tựu ngọn đèn trí tuệ vô thượng. Thắp các ngọn đèn dầu, đèn quí, cũng thắp các loại đuốc sáng, các thứ hương, diệu dược, đuốc quí báu, dùng những sự cúng dường ấy mà được ánh sáng này”.
Kinh Phổ Quảng nói:
“Đốt đèn cúng dường soi sáng nơi U Minh, nhưng chúng sanh đau khổ nhờ ánh sáng này, được nhìn thấy lẫn nhau. Do phước đức này cứu giúp chúng sanh kia được dừng nghỉ sự đau khổ”.
Kinh Thí Đăng Công Đức nói:
“Đức Phật bảo Xá Lợi Phất:
Nếu người cúng dường đèn sáng nơi chùa tháp, lúc lâm chung được thấy bốn loại ánh sáng.
1. Thấy mặt trời tròn đầy nhô lên.
2. Thấy mặt trăng tròn đầy sáng tỏ nhô lên.
3. Thấy chư Thiên ngồi chung một nơi.
4. Thấy Như Lai Chánh Biến Tri ngồi nơi cội Bồ đề thành tựu đạo quả.
Tự thấy thân mình đứng chắp tay cung kính tôn trọng Như Lai; hoặc rải hoa cúng dường, làm trang nghiêm đạo tràng, làm hết những nhân duyên Bồ đề, thành tựu hạnh chân chánh của Phật”.
Kinh Pháp Hoa nói:
“Nếu người tâm tán loạn, cho đến đem một hoa, cúng dường nơi tượng vẽ, lần thấy vô số Phật”.
Kinh Đại Tư Duy nói:
“Nếu không rải hoa dâng Phật, dù được vãng sanh nhưng y báo không đầy đủ”.
Kinh Hiền Ngu nói:
“Trong nước Xá Vệ có Trưởng giả giàu có, sanh một nam nhi diện mạo đoan chánh. Khi sanh, trời mưa các loại hoa đầy cả nhà. Cha mẹ liền đặt tên là Hoa Thiên. Về sau nam nhi ấy xuất gia đắc quả A La Hán.
Ngài A Nan bạch Phật:
Hoa Thiên có phước gì được như thế?
Đức Phật nói:
Vào thời Đức Phật Tỳ Bà Thi, thuở quá khứ có một người nghèo thấy chư Tăng thì rất hoan hỷ. Người ấy liền hái những hoa cỏ nơi đồng nội để rải cúng dường đại chúng. Người nghèo lúc đó nay chính là Tỳ kheo Hoa Thiên. Do công đức của việc tán hoa mà trong chín mươi mốt kiếp được thân thể đoan chánh, mong muốn việc gì đều được như ý”.
Trong kinh nói:
“Nếu dùng một đóa hoa rải trong hư không cúng dường chư Phật mười phương, sẽ được dứt trừ đau khổ, phước báo vô tận”.
Luận nói:
“A La Hán Ức Nhĩ xưa dùng một cành hoa cúng dường tháp Phật, được thọ hưởng niềm vui trong cõi trời người trải qua chín mươi mốt kiếp, do sức mạnh của phước báo ấy mà được thành tựu quả A La Hán”.
Hoặc dùng hương đốt, hương xoa trang nghiêm Phật sự; dâng một nén hương, về sau vẫn có thể được quả vị Diệu Giác; thoa hương lên một ngôi tháp cũ mà thân thoảng thơm mùi Chiên đàn.
Thuở xưa lúc Đức Phật còn ở đời, có một Trưởng giả tên là Chiên Đàn Hương, thời quá khứ ông đã từng dùng hương thoa lên ngôi tháp cũ, từ đó trải qua chín mươi mốt kiếp các lỗ chân lông trên người đều tỏa mùi thơm Chiên Đàn, từ miệng thoảng ra mùi thơm hoa sen xanh.
Hoặc treo phan nơi chùa tháp, treo bảo cái nơi Thánh tượng bày tỏ lòng thành, tuy vì giúp người khác được phước nhưng đều trở thành quả báo nơi chính mình.
Do đó khi Đức Phật còn tại thế, có một người tên là Bà Đa Ca, thời quá khứ từng làm một lá phan dài treo trên tháp Phật Tỳ Bà Thi. Từ đó về sau trải qua chín mươi mốt kiếp, ở trong cõi trời hay loài người thường có lá phan lớn treo ở phía trên, hưởng phước vui vẻ, về sau xuất gia đắc đạo.
Trong kinh còn nói, nếu có người treo phan, mỗi lần gió thổi lay động là mỗi lần được quả vị Luân Vương, cho đến khi lá phan tan nát thành bụi, mỗi hạt bụi đều là ngôi vị Tiểu Vương.
Kinh Bách Duyên nói:
“Có một Trưởng giả tên là Bảo Cái, thời quá khứ từng đem một viên bảo châu Ma Ni đặt trên đỉnh tháp xá lợi của Phật Tỳ Bà Thi. Từ đó về sau trải qua chín mươi mốt kiếp, ở trên cõi trời hay trong loài người tự nhiên luôn có bảo cái che trên đầu, cho đến khi gặp Phật xuất gia, thành tựu quả Phật”.
Hoặc xưng dương đức hạnh của Phật, tán thán Đại thừa được quả báo thù thắng vô biên. Đó là nhân lành vi diệu rất lớn. Tán thán một bài kệ còn có công năng vượt qua kiếp số mà thành Phật; tụng một lời kinh được quả báo tướng lưỡi phát diệu âm.
Kinh Quán Phật Tam Muội nói:
Thời quá khứ xa xưa vô lượng kiếp về trước, có Đức Phật ra đời hiệu là Bảo Oai Đức Thượng Vương.
Lúc ấy có vị Tỳ kheo và chín mươi đệ tử đi đến tháp Phật lễ bái tượng Phật, thấy một bảo tượng nghiêm trang rất đẹp. Các vị này lễ bái rồi nhìn kỹ nói kệ tán thán, về sau mạng chung đều sanh về cõi Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương ở phương Đông, bỗng nhiên hóa sanh trong sen lớn. Từ đó về sau hằng được gặp Phật, thành tựu Niệm Phật Tam Muội, được Phật thọ ký, đều thành Phật ở khắp mười phương”.
Kinh Pháp Hoa nói:
“Ví như hoa Ưu Đàm tất cả mọi người đều ưa thích, là loài hoa hiếm có trong cõi trời người, đúng thời mới xuất hiện một lần.
Nghe pháp hoan hỷ tán thán, cho đến phát một lời khen ngợi là đã cúng dường khắp cả chư Phật trong mười phương ba đời. Người ấy rất là hiếm có, còn hơn cả hoa Ưu Đàm”.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Lại phóng ánh sáng tên là Diệu Âm. Ánh sáng này khai ngộ các vị Bồ Tát, có thể làm cho người nghe tất cả âm thanh trong ba cõi đều là âm thanh của Như Lai.
Dùng âm thanh lớn xưng tán Phật và bố thí linh mỏ các loại âm nhạc khiến cho khắp thế gian được nghe âm thanh của Phật, do đó thành tựu ánh sáng này”.
Còn như dùng Phạm âm vi diệu ca dương phúng tụng, vịnh xướng, chúc tụng thì thuở xưa Bà Đề chúc tụng tiếng vang thấu đến tận trời Tịnh Cư. Thích Tôn nhập định, tiếng đàn lời ca xưng tán vang dội cả thạch thất.
Vườn rừng, lầu các đều vào trong môn pháp giới, âm thanh ngôn ngữ trở thành Phật sự trợ giúp giác ngộ.
Kinh Tỳ Ni Mẫu nói:
“Đức Phật bảo các Tỳ kheo: Cho phép các ông chúc tụng. Chúc tụng tức là từ ngữ ngôn thuyết”.
Luận Thập Tụng nói:
“Vì chư Thiên nghe chúc tụng thì tâm hoan hỷ; hoặc dùng âm nhạc, ca múa, loa, nao bạc, tiêu, thiều, phát tâm hoan hỷ dùng mọi cách cúng dường”.
Kinh Pháp Hoa nói:
“Nếu bảo người ca hát
Đánh trống thổi sừng ốc
Tiêu, địch, cầm không hầu
Tỳ bà, chập chả đồng
Các tiếng hay như thế Đều đem cúng dường Phật.
Hoặc dùng tâm hoan hỷ
Ca tCho ụđếng công n một tiđứếng nhc Phậỏt Đều đã thành Phật đạo.
Hoặc khuyến thỉnh chư Phật
Chuyển bánh xe giáo pháp Chẳng vào nơi Niết Bàn Từ bi độ chúng sanh”.
Luận Đại Trí Độ nói:
“Pháp của Bồ Tát vốn như vậy, sáu thời khuyến thỉnh chư Phật khắp mười phương. Nếu chư Phật ở trước mắt thì có thể thỉnh. Nay vô lượng Phật ở mười phương không thể tận mắt thấy, làm sao thỉnh được?
Đáp:
Cũng như tâm từ bi nghĩ khiến cho chúng sanh được vui vẻ, tuy chúng sanh không được gì nhưng người nghĩ như thế được phước rất lớn. Việc thỉnh Phật thuyết pháp cũng vậy. Vả lại tuy chúng sanh không tận mắt thỉnh Phật nhưng Phật thường thấy tâm họ và cũng nghe lời thỉnh mời, hoặc tùy hỷ tán thán điều lành, hỗ trợ duyên thù thắng cho người. Giống như người đứng bên cạnh kẻ mua hương được xông mùi hương, dù không đích thân làm nhưng đồng được căn lành”.
Luận nói rằng:
“Nếu có người làm công đức, người khác thấy tâm vui theo, khen rằng: Lành thay! Ở trong thế giới vô thường bị si mê tăm tối che đậy có thể mở tâm rộng lớn kiến lập phước đức này”.
Bồ Tát chỉ dùng tâm tùy hỷ còn vượt trên hàng Nhị thừa, huống chi tự thân thực hành.
Vả lại, Bồ Tát ngày đêm sáu thời thường thực hành ba việc:
1. Lễ lạy chư Phật khắp mười phương, sám hối tội lỗi trong ba đời.
2. Tùy hỷ công đức mà chư Phật trong ba đời mười phương đã làm.
3. Khuyến thỉnh chư Phật xoay chuyển bánh xe giáo pháp lần đầu và ở nơi thế gian lâu dài.
Thực hành ba điều ấy công đức vô lượng, càng gần với quả vị Phật hơn. Nếu làm các việc lành thảy đều hồi hướng thành tựu Bồ đề để khỏi rơi vào sanh diệt. Như âm thanh nhỏ dội vào tường vách bèn vang xa, tợ giọt nước gieo xuống lòng sông liền tan hòa cùng khắp. Dùng việc lành nhỏ mà đưa đến quả vị cùng tột, vận dụng ý niệm thiện nhỏ mà thành tựu tâm rộng lớn.
Hoặc phát đại nguyện, đó là nhân của vạn hạnh hay trưởng dưỡng từ bi, chẳng đoạn mất hạt giống Phật. Đại sự thành tựu, việc làm trọn nên, thành đạo làm lợi ích chúng sanh đều do nguyện lớn.
Thế nên, có hạnh mà không có nguyện, hạnh ấy ắt trơ trọi; có nguyện mà không có hạnh, nguyện ấy trở thành nguyện suông. Hạnh nguyện theo nhau, mình và người đều lợi ích.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Chẳng phát đại nguyện là việc làm của ma; ưa ở nơi lặng lẽ đoạn trừ phiền não là việc làm của ma, dứt hẳn sanh tử là việc làm của ma; bỏ hạnh Bồ Tát là việc làm của ma; chẳng giáo hóa chúng sanh là việc làm của ma”.
Luận Đại Trí Độ nói:
“Làm phước mà không có nguyện, không thể dựng lập được gì. Nguyện là thầy dẫn đường, có thể đạt được thành tựu. Ví như việc lọc vàng trong quặng, tùy theo cách làm của người thợ mà vàng không nhất định.
Bồ Tát cũng vậy, tu tập về nguyện của Tịnh độ, rồi sau đó mới được thành. Vì thế nên biết, do nguyện mà đạt được kết quả”.
Lại nói, nếu có thể phát tâm một lần nói rằng:
“Nguyện tôi sẽ thành Phật, diệt trừ đau khổ của tất cả chúng sanh. Dù chưa dứt phiền não, chưa làm được việc khó nhưng do tâm miệng mạnh mẽ nên hơn tất cả chúng sanh”.
Luận Đại Trang Nghiêm nói:
“Thanh tịnh cõi Phật là việc lớn, thực hành công đức của một hạnh không thể thành tựu, cần phải có nguyện lực. Ví như trâu có sức kéo xe nhưng cần phải có người đánh xe mới có thể đi đến nơi. Làm thanh tịnh cõi Phật do nguyện dẫn đến thành tựu, bởi nguyện lực nên phước đức tăng trưởng, vì chẳng mất chẳng hoại nên thường thấy Phật”.
Hoặc tu sửa tạo lập hình tượng Phật, xây dựng già lam trang nghiêm đất phước.
Kinh Pháp Hoa nói:
“Nếu có người vì Phật
Tạo lập các hình tượng
Điêu khắc thành các tướng Đều đã thành Phật đạo.
Hoặc dùng bảy báu làm
Thau, đồng bạch, đồng đỏ
Chất nhôm cùng chì kẽm
Sắt gỗ cùng với bùn, Hoặc dùng keo sơn vải
Nghiêm sức làm tượng Phật
Những người như thế ấy Đều đã thành Phật đạo.
Vẽ vời làm tượng Phật
Trăm phước tướng trang nghiêm
Tự làm hoặc bảo người Đều đã thành Phật đạo”.
Kinh Tạo Hình Tượng Phật nói:
“Vua Ưu Trấn đến chỗ Đức Phật bạch rằng:
Thưa Thế Tôn! Nếu sau khi Phật diệt độ, có chúng sanh tạo tượng Phật sẽ được phước gì?
Đức Phật bảo nhà vua rằng:
Nếu có người tạo hình tượng Phật thì công đức vô lượng. Người ấy ở trên cõi trời, trong loài người hưởng thọ các điều vui thích, thân thể thường có màu sắc vàng. Nếu ở trong loài người, thường sanh trong gia đình Đế vương, Trưởng giả hiền thiện, cho đến hoặc làm Đế vương thì là bậc tôn quí trong hàng vua chúa, hoặc làm Chuyển Luân Thánh Vương thống lãnh tứ thiên hạ, tự nhiên có bảy loại báu, đầy đủ ngàn người con. Cho đến hoặc sanh lên cõi trời thì làm Thiên chủ sáu cõi trời Dục, hoặc sanh lên cõi Phạm Thiên thì làm Phạm Vương.
Về sau, đều được sanh lên cõi Vô Lượng Thọ, làm Đại Bồ Tát, rốt cuộc sẽ thành Phật được đạo Niết Bàn. Nếu có người tạo hình tượng Phật sẽ được phước như thế”.
Kinh Hoa Thủ nói:
“Đức Phật bảo Xá Lợi Phất:
Bồ Tát có bốn pháp hoàn toàn chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề. Bốn pháp ấy là:
1. Nếu thấy chùa tháp hư hoại thì sẽ tu sửa, hoặc dùng bùn đất cho đến một viên gạch.
2. Hoặc ở nơi ngã tư đường, chỗ nhiều người qua lại dựng tháp tạo tượng làm duyên phước thiện niệm Phật.
3. Nếu thấy hai bộ Tỳ kheo Tăng tranh cãi, cố gắng tìm phương tiện làm cho hòa hợp.
4. Nếu thấy Phật Pháp sắp hoại thì có thể đọc tụng, giải thích cho đến một bài kệ, khiến cho chẳng đoạn dứt. Vì hộ pháp nên cung kính cúng dường Pháp sư, chuyên tâm hộ pháp chẳng tiếc thân mạng.
Nếu Bồ Tát thành tựu bốn pháp này, đời đời sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương được thân đại lực sĩ như Na La Diên, bỏ tứ thiên hạ mà xuất gia, có thể tùy ý tu bốn phạm hạnh, lúc mạng chung sanh lên cõi trời làm Đại Phạm Vương, cho đến rốt ráo thành tựu đạo Vô thượng”.
Khỉ vượn đùa giỡn chồng lên nhau làm tháp còn được sanh lên cõi trời; tiều phu xưng niệm sai danh hiệu Phật còn được hóa độ, huống chi chí thành lẽ nào không có quả báo thù thắng hay sao?
Hoặc xây dựng bảo tháp, đúc hồng chung, cho đến việc lành nhỏ như ngón tay vẫn được phước sanh lên Thiên giới; hoặc tạm thời đánh một tiếng chuông mà cõi U Minh dứt khổ.
Kinh Vô Thượng Y nói:
“Đức Phật bảo A Nan: Như trụ xứ thiên cung của Đế Thích, có lầu Đại Phi tên là Điện Thường Thắng dùng tám vạn bốn ngàn vật báu trang nghiêm.
Nếu có thanh tín nam tử, nữ nhân xây dựng cung điện quí báu thù thắng như thế, trăm ngàn câu chi cúng dường cho chúng Tăng khắp bốn phương.
Nếu lại có người sau khi Như Lai nhập Niết Bàn lấy viên xá lợi nhỏ như hạt cải, tạo tháp nhỏ như trái A Ma La, nâng cây phướng nhỏ như kim, làm bánh xe pháp luân nhỏ như lá táo, tạo hình tượng Phật nhỏ như hạt lúa. Công đức này hơn công đức của người trước trăm phần chẳng bằng, ngàn muôn ức phần, cho đến A tăng kỳ số phần chẳng bằng một phần. Tại sao? Vì Như Lai có vô lượng công đức”.
Kinh Niết Bàn nói:
“Khéo giữ đồ vật của Phật và chư Tăng lau quét đất của Phật và chư Tăng, tạo tháp nhỏ như ngón tay, thường sanh tâm hoan hỷ cũng được sanh về cõi Bất Động. Đó tức là Tịnh độ thường trang nghiêm chẳng bị tam tai làm loạn động”.
Hoặc biên chép Đại tạng kinh, khải phát chơn lý, hoặc khắc kinh trên đá, hoặc dùng vàng làm chữ, hoặc lột da chích máu khiến cho mọi người nghe thấy đều tùy hỷ. Dùng mười loại hoằng truyền* lưu thông Phật Pháp, thệ nguyện báo đáp bốn ân, tuân theo lời dạy từ bi của Đức Thế Tôn.
Thế nên, trí Phật tán thán không hết, phước báo cõi trời vô cùng, sánh bằng với công đức của Thiện Thệ, làm sứ giả của Đức Như Lai.
Kinh Pháp Hoa nói:
“Nếu người nghe kinh này, hoặc tự chép hoặc bảo người chép thì được công đức. Nếu dùng trí tuệ Phật lường xét nhiều ít cũng không biết được bờ mé”.
Hoặc sùng hưng Tam Bảo, thổi ngọn gió từ bi rộng khắp; hoặc làm tường vách cho ngôi nhà Phật Pháp; dùng oai lực ủng hộ bên ngoài khiến cho chánh pháp tồn tại lâu dài, Phật đạo mãi hưng thịnh. Chiêu cảm bên ngoài, mưa thuận gió hòa, nước nhà an vui; quả báo bên trong cấu nhiễm diệt trừ, đạo hạnh thành tựu, nhân quả tròn đầy. Có thể tuân theo ân đức phó chúc thì chẳng mất lời thọ ký về Bồ đề.
Hoặc cởi mở cho người bị ràng buộc, thả cho xuất gia; hoặc trợ giúp để người được làm Tăng Ni tiếp nối hưng thịnh dòng dõi Phật, khai mở đạo xuất ly, ban cho môn tiếp dẫn. Lường xét nhân thù thắng, các kinh điển đều khen ngợi.
Kinh Xuất Gia Công Đức nói: “Nếu phóng thích nam nữ nô tỳ, nhân dân xuất gia công đức vô lượng”.
Kinh Bản Duyên nói: “Xuất gia trong một ngày đêm, hai mươi kiếp không rơi vào ba đường ác”.
Luật Tăng Kỳ nói:
“Xuất gia tu phạm hạnh trong một ngày một đêm được lìa ba đường khổ trong sáu trăm sáu ngàn sáu mươi năm”.
Cho đến cạo tóc lúc say, khoác y khi đùa giỡn, trong khoảng thời gian rất ngắn nhưng cũng sẽ được đạo quả; huống gì cắt ái từ thân, đầy đủ chánh nhân trở thành Bồ Tát Tăng, phước báo chẳng có bờ mé.
Hoặc quên thân vì pháp, dứt tuyệt thầy tà, dựng ngọn cờ chánh pháp, cắt đứt lưới ma, soi sáng mặt trời trí tuệ trong căn nhà vô minh tăm tối, che phủ mây từ bi trong rừng rậm phiền não, khiến cho người tin theo tà tiến vào Tam giải thoát môn, giúp cho kẻ kiến chấp phá nát mạng lưới bát điên đảo.
Hoặc làm nên sự nghiệp lớn cho người, trợ giúp phát tâm Bồ đề, tạo nhân duyên tăng thượng, làm người bạn không đợi mời thỉnh.
Kinh Niết Bàn nói: “Trợ giúp người phát tâm Bồ đề thì cho phá năm giới”.
Thế nên biết tổn hại mình mà vì người khác, đó là hạnh của bậc Đại Sĩ.
Hoặc dâng cúng trai phạn cho chư Tăng, trợ giúp đầy đủ phương tiện để các Ngài tu hành, mở cửa bố thí rộng lớn, thiết lập đại hội Vô Giá. Thế nên giảm một muỗng cơm được sanh lên cõi trời bảy lần; bố thí một miếng lương khô hiện đời bước lên vương vị.
Hoặc tạo phòng kinh, thiền thất, hoặc cúng hoa trái vườn rừng, cung cấp vật cần dùng trợ giúp thành đạo nghiệp. Thuở xưa trợ giúp những vị tu thiền mà tự nhiên được niềm vui cõi trời. Mỗi ngày cung cấp thức ăn cho vị Sa di tụng kinh mà được Tổng trì bậc nhất.
Kinh Đại Báo Ân nói:
“Nếu đem cơm và ngọc anh lạc bố thí cho người trừ bỏ tâm sân hận, nhờ nhân duyên ấy mà được hai tướng tốt:
1. Thân tướng sắc vàng.
2. Thường có ánh sáng”.
Cho đến quét tháp, lau chùa, phụng sự chúng Tăng, khởi tâm cung kính thành khẩn quí trọng, phát một tâm lành nhỏ nhiệm, thành nhân duyên thanh tịnh vô biên.
Kinh Bồ Tát Bản Hạnh nói:
“Thuở xưa lúc Đức Phật còn ở đời, có vị A La Hán tên là Bà Đa Kiệt Lê quán xét nhân địa thấy từng quét dọn cổ tháp của Phật Định Quang, làm cỏ đốn cây sạch sẽ rồi vô cùng hoan hỷ, đi kinh hành tám vòng, làm lễ rồi đi. Sau khi mạng chung sanh lên cõi trời Quang Âm, hưởng hết tuổi thọ cõi trời cho đến trở lại nhân gian làm Chuyển Luân Thánh Vương một trăm lần, dung mạo đoan chánh, người thấy đều hoan hỷ. Khi muốn đi, đường sá tự nhiên sạch sẽ. Trong chín mươi kiếp ở cõi trời hay nhân gian đều được giàu sang vui sướng, tôn quí vinh hiển khôn cùng.
Nay thân rốt sau gặp Phật Thích Ca, bỏ sự giàu sang, xuất gia đắc quả A La Hán”.
Nay có người có thể làm việc lành nhỏ chừng bằng mảy tơ ở nơi Phật Pháp Tăng thì sanh ra được hưởng thọ quả báo rộng lớn không cùng tận.
Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói:
“Nếu chúng sanh dùng tâm thanh tịnh cúng dường chúng Tăng, quét tháp Như Lai, lúc mạng chung sanh về cõi trời Ý Lạc. Thân không có xương thịt cũng không cấu uế, mùi hương có thể xông đến một trăm do tuần. Thân người ấy thanh khiết giống như gương sáng”.
Phó Pháp Truyện nói:
“Có một Tỳ kheo tên là Cầu Đa quán xét người kia không có phước nên không thể được đạo, bảo rằng phải giáo hóa, cúng dường chư Tăng. Người ấy thực hành theo bèn chứng quả A La Hán.
Lại có một vị La Hán tên là Kỳ Dạ Đa đầy đủ Tam minh Lục thông, quán xét thấy đời trước từng làm thân chó, chưa hề tạm thời có một bữa no, thường chịu đựng đói khát. Vị A La Hán ấy bèn tự thân thường nấu nướng cung cấp cho chúng Tăng”.
Kinh Đại Báo Ân nói:
“Tư duy nghĩa lý sâu xa của các pháp, ưa thích tu tập pháp lành, cúng dường cha mẹ, hòa thượng, sư trưởng, những bậc có đức hạnh. Nếu đi trên đường gặp tháp Phật phòng Tăng nhơ uế, sỏi đá, gai góc ngổn ngang thì liền dọn dẹp. Do nhân duyên ấy mà được một tướng lông xoay về bên phải trong ba mươi hai tướng tốt”.
Cho đến thăm bệnh, cúng dường phương tiện cho chư Tăng tắm rửa, đào giếng, dựng nhà xí công cộng, giúp nguy cứu gấp, cứu tế kịp thời, đều là tâm Đại Bồ Tát, trở thành hạnh chẳng thể nghĩ bàn, đã làm lợi ích rộng rãi mọi người thì được quả báo rộng lớn. Hoặc mãi thọ thân hình kiên cố bất hoại, hoặc thường được thân thể tướng hảo thanh tịnh, hoặc vãng sanh thế giới Cam Lộ Phật Quốc, hoặc chóng được thân an nhàn tự tại.
Những việc làm trên đều là nhân thù thắng của ba mươi hai tướng tốt, quả vi diệu của tám mươi vẻ đẹp.
Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân nói:
“Ba nghiệp thân, miệng, ý thanh tịnh, xem bệnh cho thuốc, diệt kiêu mạn, ăn uống biết đủ. Vì nhân duyên đó mà được tướng bàn chân bằng phẳng trong ba mươi hai tướng”.
Kinh Phước Điền nói:
“Đức Phật bảo Thiên Đế:
Thuở xưa ta ở nước Ba La Nại dựng lập nhà xí công cộng, do công đức đó nên đời đời thanh tịnh, hành đạo trải qua nhiều kiếp không nhiễm sự cấu uế, sắc vàng rạng rỡ, bụi nhơ không dính; khi ăn tự tiêu hóa, không có sự lo lắng về đại tiểu tiện”.
Kinh Bách Duyên nói:
“Tỳ kheo Tôn Đà Lợi, trong thời quá khứ làm Trưởng giả. Do dâng cúng nước thơm cho chúng tăng tắm rửa, lại đem trân bảo bỏ vào trong nước. Vì vậy đời này khi sanh ra trong nhà tự nhiên có dòng suối vọt lên, nước thơm ngọt ngào mát mẻ, có các trân bảo dẫy đầy trong đó, thân hình đoan chánh, đẹp đẽ trang nghiêm. Về sau xuất gia, tu hành đắc đạo”.
Kinh Hiền Ngu nói:
“Thuở xưa có năm trăm khách thương buôn vào biển tìm châu báu, thỉnh một vị Ưu Bà Tắc ngũ giới làm thầy dẫn đường.
Thần biển lấy một vóc nước hỏi Ưu Bà Tắc rằng:
Nước trong vóc tay nhiều hay nước biển nhiều?
Ưu Bà Tắc đáp:
Nước trong vóc tay nhiều. Nước biển tuy nhiều nhưng đến khi kiếp sắp tận ắt sẽ khô kiệt. Nếu người có thể lấy một vóc nước cúng dường Tam Bảo, hoặc phụng dưỡng cha mẹ, hoặc cho kẻ xin ăn bần cùng, cầm thú. Công đức ấy trải qua nhiều kiếp cũng không hết. Do đó mà biết, nước biển là ít còn nước trong vóc tay thì nhiều.
Thần biển hoan hỷ liền đem trân bảo tặng cho Ưu Bà Tắc”.
Thế nên biết, tất cả vạn vật chỉ có lợi ích khi cứu giúp lúc cấp bách. Nếu như lúc không cần dù có nhiều cũng vô ích.
Trong Kinh nói:
“Nếu như gieo trồng cây vườn rừng, đào giếng, dựng nhà xí công cộng, bắc cầu, phước báo mà người đó làm ngày đêm thường tăng trưởng”.
Cao Tăng Truyện nói:
“Pháp sư Đạo An trong mộng cảm ứng một vị Thánh tăng nói với Ngài rằng:
Ông đối với sự hiểu biết và tu hành hơn người, nhưng lại ít phước. Nếu ông có thể phụng sự chúng Tăng, sở nguyện ắt được thành tựu”.
Hoặc lấp bằng hầm hố, khai thông đường lộ, tu sửa cầu, đóng thuyền làm bè; hoặc như xây dựng nhà mát nơi nghỉ chân; hoặc trồng cây hoa trái ven đường dùng để tiếp tế mọi người mỏi mệt khi đi lại; cung cấp đầy đủ những phương tiện trên đường đi cho người và súc vật.
Trong môn Lục độ phát khởi chí nguyện hoằng dương sâu xa; trong mảnh ruộng tám loại phước, vận dụng tâm từ bi tế độ rộng lớn. Một niệm nhân lành có thể dẫn đến hai loại quả báo:
1. Hoa báo: thọ hưởng niềm vui của người và trời.
2. Quả báo: chứng ngộ nguồn chân của Phật Tổ.
Hoặc như cung cấp thức ăn cho người đói khát, phát thuốc cho người bệnh tật. Phàm cơm áo chỗ ở mà mọi người cần thiết đều dốc sức cung cấp đầy đủ, làm an lạc loài hữu tình.
Những điều đó là gia nghiệp của chư Phật, an ủi người chìm đắm là việc làm thường ngày của bậc Đại Sĩ. Nếu làm được như thế, giả sử có phát cho người bệnh một ít thuốc cũng sẽ được phước lạc lâu dài trong chín mươi kiếp, cung cấp một bữa ăn cho người đói khát cũng sẽ được quả báo nhiều của cải gấp ngàn lần.
Trong kinh nói:
Bố thí thức ăn được năm điều lợi ích:
1. Sống lâu.
2. Sắc đẹp.
3. Sức mạnh.
4. An ổn.
5. Tài hùng biện.
Luận Đại Trí Độ nói: “Quỷ thần được một bữa ăn của loài người thì biến hóa ra gấp ngàn vạn lần”.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Lại phóng ánh sáng tên An ổn
Ánh sáng này soi người tàn tật
Khiến trừ tất cả các đau khổ
Đều được vui chánh định Tam Muội
Bố thí lương dược cứu các bệnh
Dầu tô, sữa mật, thức ăn uống
Do đó được thành ánh sáng này”.
Hoặc bố thí sự vô úy, khéo điều hòa tranh cãi, thương xót kẻ nghèo hèn cô độc, cứu giúp nguy nan. Làm những việc này được phước báo sanh về cõi Phạm Thiên, hạnh sánh bằng bậc Đại Giác. Nhân mạnh mẽ thì quả thù thắng; đức cao dày ắt quả sâu rộng.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Lại phóng ánh sáng tên Vô úy
Ánh sáng này chạm người sợ hãi Phi nhân đem các thứ độc hại Khiến tất cả đều mau trừ diệt.
Hay thí Vô úy cho chúng sanh
Gặp sự não hại đều khuyên dừng
Cứu giúp kẻ nguy nan cùng khốn Do đó được thành ánh sáng này.
Vả lại, thực hành từ bi hỷ xả, các việc lợi ích giúp người nghèo, thay thế chịu đau khổ, dũ lòng thương xót và bố thí một ít thức ăn cho súc sanh. Những điều đó đều là việc làm của Phật, đều là nhân của lòng từ bi không điều kiện.
Kinh Pháp Cú nói: Thực hành từ bi có mười một điều lợi. Đức Phật nói kệ rằng:
“Thực hành nhân từ, bác ái giúp người
Mười một điều khen, phước thường theo mình
Nằm an ngủ yên, không thấy ác mộng
Trời hộ người mến, độc binh chẳng hại
Nước lửa không chết, hiện tại được lợi Chết sanh Phạm Thiên, đó là mười một”.
Thế nên trong kinh nói, mọi căn lành của tất cả Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chư Phật đều lấy từ bi làm gốc.
Luận Tỳ Bà Sa nói:
“Nếu người tu tập từ bi, lửa không thể thiêu đốt, đao không thể làm tổn thương, độc không thể hại, nước không thể cuốn trôi, người khác không thể sát hại. Sở dĩ được vậy là vì Định Tâm Từ, là pháp bất hại nên có uy thế lớn, chư Thiên ủng hộ không gì hại được”.
Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi, Đức Phật bảo rằng:
“Nếu người ở trong A tăng kỳ kiếp dùng thân cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát và chúng Thanh Văn trong khắp mười phương, chẳng bằng có người thí cho súc sanh một bữa ăn, phước ấy còn hơn người kia gấp trăm ngàn muôn lần vô lượng vô biên”.
Luận Đại Trượng Phu nói:
“Dùng tâm từ bi bố thí cho một người, công đức rộng lớn như mặt đất. Vì mình mà bố thí tất cả, được quả báo nhỏ như hạt cải. Cứu giúp một người mắc nạn nguy cấp hơn tất cả sự bố thí khác. Các vì sao tuy có ánh sáng, chẳng bằng ánh sáng của một mặt trăng”.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Bồ Tát thí cho súc sanh một vắt cơm, hoặc một hạt gạo, đều phát nguyện thế này:
Sẽ khiến cho chúng thoát khỏi đường súc sanh, được lợi ích an vui, giải thoát rốt ráo, qua hẳn biển khổ, diệt hẳn khổ thọ, trừ hẳn khổ uẩn, đoạn hẳn khổ giác, khổ tụ, khổ hạnh, khổ bổn và các chỗ thống khổ. Nguyện các chúng sanh kia đều được lìa bỏ mọi sự đau khổ.
Bồ Tát chuyên tâm buộc niệm như thế đối với tất cả chúng sanh, do căn lành ấy mà từ bi được gọi bậc nhất. Vì nó mà hướng về Nhất thiết Chủng trí”.
Kinh Đại Niết Bàn nói:
“Đức Phật thuở quá khứ chỉ tu một hạnh từ bi mà trải qua bảy lần thế giới này thành hoại đều chẳng sanh trở lại. Khi thế giới này hoại thì sanh lên cõi trời Quang Âm; lúc thế giới này thành, sanh vào cõi Phạm Thiên làm Đại Phạm vương; ba mươi sáu lần trở lại làm Thiên Đế Thích; vô lượng trăm ngàn đời làm Chuyển Luân Thánh Vương, cho đến thành Phật”.
Vả lại, vua A Xà Thế thả voi say định dẵm nát Đức Phật. Bầy voi thấy trong tay Phật hiện ra năm con sư tử, chúng đều quỳ lễ dưới chân Ngài. Những việc như hiền gặp con, người mù được sáng, thành trì biến thành vàng bạc lưu ly, Thế Tôn nâng tảng đá, Thích Nữ được lành vết thương, Đề Bà Đạt Đa bệnh tình thuyên giảm, đều là do sức mạnh huân tu căn lực từ thiện trong nhiều kiếp nên có thể khiến cho những người đau khổ thấy các việc như thế.
Nay đã noi theo Đức Phật, nên đi trên con đường huyền diệu này. Cho đến phóng sanh chuộc mạng, ngăn chặn sát hại, dứt trừ việc nấu nướng chúng sanh, phóng thích kẻ bị giam cầm, nối tiếp sanh mạng dài lâu, tạo thành nhân huệ mạng. Khiến cho chúng được toàn vẹn thân hình, trên đất bằng dưới nước chấm dứt nỗi khổ rơi vào lưới bẩy, lưỡi câu, mặc tình bay lượn lội bơi, thoát khỏi nỗi lo lắng cháy rừng khô đầm, tránh khỏi nạn thai mới bị hư, trong tổ không có trứng cũ, chẳng còn sự đau khổ do cắt thịt nấu nung trong dầu sôi lửa bỏng.
Kinh Phạm Võng nói:
“Nếu là Phật tử do lòng từ bi nên thực hành phóng sanh. Vì tất cả nam tử là cha ta, tất cả nữ nhân là mẹ ta. Ta đời đời từ họ mà thọ sanh. Cho nên chúng sanh trong sáu nẽo đều là cha mẹ của ta. Nếu giết hại và ăn thịt chúng tức là giết hại cha mẹ, cũng là giết hại thân cũ của ta.
Tất cả đất nước là thân trước kia của ta, tất cả gió lửa là bản thể của ta. Vì vậy thường thật hành phóng sanh, cho đến nếu không như thế thì phạm tội khinh cấu”.
Nên biết hữu tình và vô tình chúng sanh đều không thể tổn hại chúng.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Phật tử Đại Bồ Tát làm Đại quốc vương, đối với pháp luật tự tại, ra lệnh thực hành phổ biến khiến cho trừ bỏ nghiệp sát. Trong cõi Diêm Phù Đề nơi thành ấp, xóm làng, tất cả lò sát sanh, quốc vương đều ra lệnh ngăn cấm. Bố thí rộng rãi sự không sợ hãi cho các loại chúng sanh không chân, hai chân, chẳng có tâm dối lừa chiếm đoạt, tu rộng rãi tất cả hạnh. Nhân từ đến mọi vật, chẳng làm việc tổn hại đau buồn; phát tâm cao quý làm an ổn chúng sanh.
Ở chỗ chư Phật lập chí nguyện ưa thích sâu xa, tự mình thường an trụ nơi ba loại tịnh giới, cũng khiến chúng sanh đều an trụ như thế. Đại Bồ Tát khiến chúng sanh thực hành năm giới, dứt hẳn nghiệp sát, dùng căn lành này hồi hướng như thế. Gọi là nguyện tất cả chúng sanh phát tâm Bồ Tát đầy đủ trí tuệ, giữ gìn mãi mạng sống không cùng tận. Cho đến thấy chúng sanh ôm lòng tàn nhẫn làm tổn hại người vật khiến thân thể chúng khuyết giảm chịu những sự khổ sở và độc hại, thấy việc đó rồi khởi tâm đại từ bi thương xót cứu độ, khiến tất cả người dân trong cõi Diêm Phù Đề đều bỏ nghiệp sát”.
Kinh Niết Bàn nói:
“Ai cũng tiếc thân mạng Mọi người sợ dao gậy
Từ mình mà suy người Chớ giết chớ đánh đập”.
Xưa có Thiền tăng tên Đặng Ẩn Phong. Khi chưa xuất gia làm nghề thợ săn, từng bắn một con vượn. Vượn ấy rơi xuống đất mà chết. Giây lát, vượn mẹ cũng rơi xuống đất mà chết. Nhân đó Đặng Ẩn Phong mổ bụng vượn mẹ mới thấy ruột gan đã đứt từng đoan. Do vậy ông bèn bỏ nghề thợ săn mà xuất gia.
Thế nên biết thân người, thân thú chịu quả báo ngàn sai muôn khác, nhưng cội gốc tình ái giống nhau như một. Cho nên cọp mất rừng cùng đường mới gởi mạng sống trong chuồng, chim lông vũ xác xơ hoảng kinh mới gieo mình bên áng.
Đến như Vương Sanh nuôi chim én đâu có ý mong vòng ngọc, Khổng Thị thả rùa đâu có tâm cầu kim ấn. Sanh mạng đã không phân biệt lớn nhỏ, lẽ nào tội lại ngăn cách nơi trí ngu?
Hành vi của ba nghiệp cần phải thận trọng, làm tổn thương hoặc lầm giết còn đền trả tai ương; cố ý gây tạo thì làm sao tránh khỏi nghiệp báo?
Hoặc thọ giới một ngày, hoặc trì bát quan trai, hoặc không ăn thịt chúng sanh, hoặc dứt hẳn máu huyết, hành tỏi, thì tránh khỏi vùng đất có tam tai, được sanh lên sáu cõi trời Dục. Như thế, đã làm nhân duyên trường thọ mà còn tích lũy hạt giống đại từ bi.
Trong kinh nói:
“Thuở xưa có một người tên Ca La Việt thiết lập trai đàn lớn thỉnh Phật và chúng Tăng. Lúc ấy có một người bán tô lạc đi đến. Ca La Việt mời ông ấy ở lại dùng cơm và khuyên trì trai nghe kinh đến tối mới về. Về tới nhà, người vợ nói rằng:
Tôi từ sáng đến giờ chưa ăn để đợi ông đến giờ này.
Ông ta bèn phạm giới trai. Về sau lúc lâm chung nhờ phước ấy nên được sanh cõi trời. Lúc phước hết sanh xuống nhân gian, bảy đời thường được cơm áo tự nhiên đầy đủ”.
Phước của nửa ngày trai còn được sanh về Thiên giới. Một ngày trì trai tự nhiên sáu mươi vạn năm lương thực dư thừa. Lại có năm điều phước:
1. Ít bệnh.
2. Thân tâm an ổn.
3. Ít dâm dục.
4. Ít ngủ nghỉ.
5. Sau khi mạng chung thần thức được sanh lên cõi trời, biết được việc trong những đời trước.
Hoặc ôm lòng hổ thẹn, thường sanh tâm vui mừng, biết phận mình tri ân, luôn khởi ý tưởng báo đáp.
Kinh Tạp A Hàm nói:
“Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ kheo: Có hai pháp thanh tịnh có thể bảo hộ thế gian. Hai pháp ấy là hổ và thẹn. Giả sử thế gian không có hai pháp thanh tịnh này thì mọi người cũng không biết có cha mẹ, anh chị em, vợ con, tôn nhân, sư trưởng, tôn ti lộn lạo hỗn loạn giống loài cầm thú.
Đức Phật bèn nói lời kệ:
“Nếu thế gian không có
Hai pháp hổ và thẹn Trái ngược đạo thanh tịnh Tới sanh, già, bệnh, chết.
Nếu thế gian thành tựu
Hai pháp hổ và thẹn Tăng trưởng đạo thanh tịnh Mãi đóng cửa sanh tử”.
Hoặc thay thế hình phạt tru diệt cho người, gánh lấy tội lỗi của kẻ khác, xả thân cứu giúp. Hoặc phóng thích kẻ lao tù, xá tội hình phạt. Hoặc quy tụ kẻ lang thang, trợ giúp những người trốn nợ. Hoặc ngăn chặn cửa ải nơi biên giới, xóa bỏ thuế má cho những người buôn bán. Hoặc chu cấp giúp đỡ những người bần cùng bệnh tật, cứu trợ những kẻ cô độc. Thường ôm lòng nhân từ, thương người như thương thân mình; thường tâm niệm thương yêu và ban bố ân huệ đến mọi người. Hoặc thức hoặc mộng chẳng quên lòng từ, thậm chí đến các loài bọ bay máy cựa cũng đều chở che bảo hộ.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Này Phật tử! Đại Bồ Tát thấy có người bị giam cầm, trói buộc tay chân, chịu những sự đau khổ độc hại. Những kẻ canh gác áp bức người kia cận kề cái chết mạng sống sắp đoạn dứt. Thậm chí Bồ Tát còn tự bỏ thân mạng, thay thế người kia chịu mọi sự đau khổ độc hại. Khi ấy Bồ Tát nói với người chủ rằng:
Tôi nguyện xả thân để thế mạng cho người kia. Những điều đau khổ ấy, tôi xin nhận lấy, tùy ý ông hành hạ. Dù hơn người kia gấp muôn vạn lần, tôi cũng sẽ chịu được, để cho họ giải thoát. Nếu tôi thấy người kia sắp bị sát hại mà không xả thân mạng để cứu giúp sự đau khổ cho họ thì chẳng gọi là trụ ở nơi tâm Bồ Tát. Tại sao? Tôi vì cứu hộ tất cả chúng sanh nên phát tâm Bồ đề Nhất thiết trí”.
Kinh Chánh Pháp Niệm xứ nói: “Dựng một ngôi chùa chẳng bằng cứu một mạng người”.
Trong kinh Đọa Lam Bản so sánh các loại phước báo đều chẳng bằng tâm từ bi. Thương xót tất loại bò bay máy cựa, phước ấy là hơn hết.
Hơn tận trung trọn hiếu, giúp nước trị nhà, thực hành nếp sống khiêm nhường, thi hành đạo ôn hòa cung kính, phụng dưỡng cha mẹ thành tựu phước điền bậc nhất, phụng sự những bậc tôn đức hiền tài, khai mở con đường trong sáng dẫn đến cõi trời.
Kinh Hiền Ngu nói:
“Đức Phật bảo A Nan: Người xuất gia và tại gia thực hành từ tâm hiếu thuận cúng dường cha mẹ, công đức thù thắng ấy khó mà lường xét được.
Tại sao?
Nhớ lại thời quá khứ, ta thực hành từ tâm hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ, cho đến dùng thịt nơi thân mình cứu sống cha mẹ lúc nguy cấp. Do công đức ấy nên sanh lên cõi trời thì làm Thiên Đế, sanh xuống nhân gian thì làm Thánh Vương, cho đến thành Phật. Làm bậc tôn quí trong ba cõi đều do phước báo này”.
Hoặc khen ngợi đức hạnh của người khác, nêu cao việc thiện. Hoặc tán thán danh tiếng của người, mở đường tiến cử hiền tài. Ưa thích làm nên việc tốt đẹp cho người, giúp đỡ họ phát tâm mạnh mẽ; vui mừng khi người khác được vinh dự, cùng giúp nhau làm việc tốt. Như thế có thể dẹp trừ lòng tật đố, giúp bỏ thân phẫn hận, đồng thời lại phát khởi bốn tâm vô lượng, xem muôn vật như mình, thành tựu bốn hạnh an lạc, làm lợi ích tất cả hữu tình.
Thế nên, chư vị Bồ Tát thường nghĩ nhớ về đời quá khứ. Ở trong biển khổ mênh mông mà làm những việc không lợi ích, phí tổn công sức, chỉ tăng trưởng thêm mầm nhân nghiệp chướng. Nay tỉnh xét lại sự sai lầm trước kia, nhanh chóng thực hành Phật đạo, khoác áo giáp tinh tấn, phát tâm kim cang, thực hành mọi việc lành, đem giáo pháp làm lợi ích chúng sanh.
Ở giữa thế gian mà thường an trụ trong chánh định, thị hiện thần thông khéo léo, hòa quang đồng trần, âm thầm tu hành tác dụng sâu kín. Dập tắt ngọn lửa vô minh, bẻ gãy ngọn cờ kiêu mạn; uyển chuyển tùy thuận thích nghi căn cơ, dáng vẻ hài hòa khéo léo dạy bảo. Dùng ái ngữ thâu nhiếp, đem ánh mắt từ bi mà nhìn mọi người; khai thị cho kẻ ngu mê, an ủi cho người đang sợ hãi. Treo mặt trời soi sáng thế gian, thắp ngọn đèn xua tan tăm tối; mở cánh cửa ngục tù ba cõi, rưới nước dập tắt ngôi nhà lửa. Làm mãn nguyện những người mong cầu, giống như ngọc Như Ý; giải trừ cội gốc của bệnh tật, cũng như thuốc Thiện Kiến. Làm khô biển dục trở thành biển từ bi, nghiền nát bánh xe đau khổ tạo thành bánh xe trí giác, cứu giúp những kẻ bần cùng làm thành bến bờ phước đức, chuyển đổi cánh đồng sanh tử trở thành con đường Bồ đề.
Trong pháp của chư Phật thực hành tất cả. Trong cõi chúng sanh cứu độ không sót một ai. Giống như đất chuyên chở, như chiếc cầu đưa người, như sức gió duy trì, như nước thấm nhuần, như lửa làm chín, như mùa xuân giúp muôn vật sinh trưởng, như hư không dung nạp, như mây che phủ.
Được vậy mới khiến cho người nghe danh thoát khổ, người thấy bóng được an, chạm đến ánh sáng thì trần cấu nơi thân được thanh tịnh, nghĩ nhớ thì tâm vượn được điều phục. Như thế đều là từ nơi nhỏ nhiệm mà đến chỗ rõ ràng, lần lần tích lũy căn lành, công hạnh viên mãn thành tựu đại sự.
Tạo sao lại hủy báng con đường nghiệp lành, mở ra cánh cửa trong nẻo ác, gây tạo nghiệp ma đoạn diệt hạt giống Phật?