Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Thu-Tra-Loi-Phap-Su-Hang-Tam-Thu-Thu-Nhat

Thư Trả Lời Pháp Sư Hằng Tàm Thư Thứ Nhất
Đại Sư Thích Ấn Quang | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Nhận được thư biết những sách đã gởi năm ngoái ông đều nhận được hết, an ủi vô cùng. Gần đây, Diệu Cát cũng gởi một lá thư cho biết sách gởi cho ông ta cũng nhận được rồi. Ông và tôi quen nhau trên tình đạo, há nên học thói tục ngoài đường ngoài chợ khen ngợi quá lố khiến Quang không có chỗ để dung thân ư? Đấy có phải là điều nên làm của bậc trực tâm tu đạo đâu? Còn như ông nói tuy thiếu tinh tấn, nhưng trì danh khá đủ lòng ưa - chán, thì cần phải biết rằng một pháp Tịnh Độ là quả núi nương tựa lớn lao cho chúng ta; nếu lúc bình thường coi rẻ, chắc là đến khi lâm chung sẽ chẳng đắc lực đâu!

Sư Hiển Ấm thiên tư rất cao, các tông Hiển - Mật đều hiểu được cương lãnh trọng yếu, nhưng do chí còn phù phiếm, khoa trương, chẳng trọng chân tu, lúc mất chẳng hề được hưởng lợi ích nơi Hiển, nơi Mật! Đối với chuyện niệm Phật ông ta còn chưa thấu hiểu nên cũng không có hiệu quả gì. Tuy có nhiều người trợ niệm cho ông ta, nhưng chính ông ta đã mê man, không còn tỉnh táo nữa. Đấy chính là một sự cảnh tỉnh, nhắc nhở lớn lao cho những kẻ tuổi trẻ thông minh vậy. Ấy là vì Hiển Ấm thiên tư tuy cao, nhưng bụng dạ quá hẹp, không chân tu hàm dưỡng ẩn kín tài năng, có tánh bộp chộp, kiêu căng, phô trương, khoe khoang, bộc lộ (từ Nhật Bản trở về nước, đến Ninh Ba gặp thầy, ngày hôm ấy liền ngã bệnh, hôm sau liền đi qua Thượng Hải) là vì nghe thầy dạy một câu “hãy nên bế quan tịnh tu”, ngay hôm đó liền ngã bệnh, ngày hôm sau đi liền, rốt cuộc đến nỗi bệnh tật dây dưa đến chết, chẳng đáng buồn sao?

Những điều ông đã hỏi vốn chẳng cần phải hỏi, [sở dĩ ông vẫn phải hỏi] chỉ vì ông chưa đọc kỹ các trước thuật Tịnh Độ nên trở thành một vấn đề lớn! Nếu đọc kỹ rồi sẽ tự bật cười! Ông chẳng những chưa đọc kỹ các trước thuật Tịnh Độ mà ngay cả Văn Sao của Quang cũng chẳng đọc kỹ. Nếu lắng lòng đọc kỹ, chắc chắn chẳng đến nỗi phải hỏi mãi câu này. Câu hỏi này thường được giải thích trong Văn Sao, nay lại trình bày đại lược. Cõi Phật có bốn, tức là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Phương Tiện Hữu Dư Độ, Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ, Thường Tịch Quang Độ.

1) Phàm Thánh Đồng Cư Độ: Thế giới Sa Bà tuy thuộc uế độ, nhưng cũng có Phật, Bồ Tát, thánh nhân Nhị Thừa cùng sống trong ấy. Tuy vậy, cảnh được thấy cũng như sự thọ dụng giữa thánh và phàm khác biệt vời vợi một trời, một vực! Ở Tây Phương, luận theo phía những người đới nghiệp vãng sanh thì họ sẽ sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư Độ, nhưng cõi ấy vi diệu thanh tịnh như đã nói trong A Di Đà Kinh và Vô Lượng Thọ Kinh. Cõi ấy tuy là chỗ của người đới nghiệp vãng sanh sống, nhưng cũng có Pháp Thân Bồ Tát và Phật cùng sống trong ấy, thuyết pháp cho họ, nên cũng gọi là Phàm Thánh Đồng Cư độ. Nhưng do cõi ấy là cõi dành cho người vãng sanh Tịnh Độ, nên tuy chưa thể thù thắng nhiệm mầu như trong sự thấy biết và thọ dụng của Phật, Bồ Tát, nhưng khá giống nhau về mọi phương diện, chẳng hoàn toàn khác biệt như trong cõi Sa Bà. Cõi này cũng chia thành chín phẩm. Nếu là sáu phẩm Trung Hạ thì phần nhiều cần phải mất cả thời kiếp [mới giác ngộ], còn ba phẩm Thượng thì sẽ ngộ Vô Sanh Nhẫn nhanh chóng (ngộ Vô Sanh Nhẫn mới vào được cõi Thật Báo), chứng địa vị Bất Thoái, chứng nhập Thật Báo, Tịch Quang.

2) Phương Tiện Hữu Dư Độ: Chính là cõi dành cho người đã đoạn Kiến Hoặc, Tư Hoặc, nhưng chưa phá được vô minh. Nói “Phương Tiện” là vì những gì họ tu đều thuộc về phương tiện trước khi chứng nhập Chân Thật. Nói “Hữu Dư” là vì tuy đã đoạn Kiến Hoặc, Tư Hoặc, nhưng chưa phá vô minh (Trần Sa không có thể tánh, nói hay không nói đều được. Nếu nói thì người thuộc vào chín phương tiện này đã phá được Trần Sa Hoặc rồi), vì thế gọi là “Hữu Dư”. Nếu phá vô minh thì được gọi là Phần Chứng Vô Dư. Nếu vô minh hết sạch (chín phương tiện chính là Nhị Thừa trong Tạng Giáo, Tam Thừa trong Thông Giáo[31], Tam Hiền[32] trong Biệt Giáo[33], Thập Tín trong Viên Giáo. Chín hạng người này cùng đoạn Kiến Hoặc và Tư Hoặc, chưa phá vô minh) sẽ là Vô Dư rốt ráo.

 3) Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ: Chính là báo độ được cảm bởi phước huệ trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn của Phật, Bồ Tát.

 4) Thường Tịch Quang Độ: Chính là lý tánh được chứng bởi Phật, Bồ Tát.

Hai cõi này (tức Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ và Thường Tịch Quang Độ) vốn thuộc về cùng một cõi. Nếu nói theo cõi do quả báo cảm được thì gọi là Thật Báo, nếu luận trên lý tánh đã chứng thì gọi là Tịch Quang. Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo mới phá được một phẩm vô minh, chứng một phần Tam Đức, liền nhập cõi Thật Báo, cũng gọi là Phần Chứng Tịch Quang. Nếu đạt đến Phật quả Diệu Giác thì là Thượng Thượng Thật Báo, Tịch Quang rốt ráo vậy. Muốn cho người khác dễ ngộ nên người giảng mới gộp “người phần chứng” về Thật Báo, gom “người rốt ráo chứng” về Tịch Quang. Chứ thật ra hễ Phần Chứng thì hai cõi đều Phần Chứng, rốt ráo thì hai cõi đều rốt ráo vậy.

Cõi Thật Báo thì chỉ có người phá vô minh, chứng pháp tánh thấy được, há nên cho rằng người đới nghiệp vãng sanh sẽ sanh vào Thật Báo ư? Sanh về cõi Đồng Cư là do tín nguyện niệm Phật, được Phật tiếp dẫn mà sanh [về đấy]. Tuy họ chưa đoạn được Phiền Hoặc, nhưng do trong được nương vào sức tự tánh của đức Phật trong tâm, ngoài được sức từ bi của A Di Đà Phật cảm ứng đạo giao, nên tuy chưa đoạn được Phiền Hoặc mà Phiền Hoặc chẳng còn có tác dụng nữa! Vì thế được sanh về cõi Đồng Cư thanh tịnh tột bậc!

Ông nghi “sẽ sanh về cõi chẳng thanh tịnh và chẳng thể thấy ngay được sắc thân thắng diệu của Phật A Di Đà và những chúng sanh cõi ấy” là vì ông tưởng cách hiểu của ông là đúng, còn thệ nguyện của đức Di Đà, ngôn giáo của Phật Thích Ca, những trước thuật nhằm nêu tỏ của các vị Bồ Tát, tổ sư, thiện tri thức đều sai be bét, chỉ có hiểu như ông mới là đích xác nhất, cao siêu nhất! Ông thấy biết như vậy tức là báng Phật, báng Pháp, báng Tăng, tương lai sẽ cùng Đề Bà Đạt Đa hưởng Cực Lạc trong đại địa ngục A Tỳ, vui sướng chẳng thể nào ví dụ được! Sợ rằng đến hết đời vị lai vẫn thọ dụng chẳng gián đoạn những sự vui sướng ấy! Ông muốn hưởng sự vui ấy, xin hãy y theo tri kiến của ông mà nói. Còn nếu chẳng muốn hưởng sự vui ấy, dẫu cho bị oai thế bức bách cũng chớ nên nói [những lời lẽ ấy].

Hạ Phẩm Hạ Sanh là hạng tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cực nặng, do khi lâm chung tướng địa ngục đã hiện, sanh lòng sợ hãi lớn lao, gặp thiện tri thức dạy niệm Phật, do cái tâm sợ khổ cầu cứu mạnh mẽ, tha thiết cùng cực, nên tuy niệm không nhiều, mà trong một niệm tâm quang đã cảm được Phật. Vì thế, đức Phật liền rủ lòng tiếp dẫn để ứng, bèn được vãng sanh. Họ ở trong hoa [sen] mười hai đại kiếp là vì lúc sống tội nghiệp nặng nề, thiện căn nông cạn, vì thế hoa sen chậm nở nhất. Nhưng sự sung sướng của những người ấy ở trong hoa còn hơn sự vui trong Tam Thiền Thiên! (Sự vui trong thế gian thì Tam Thiền thật là bậc nhất), nào có thiếu sót, tiếc nuối chi đâu? Cõi Thật Báo chỉ hàng Pháp Thân Đại Sĩ mới thấy được, cố nhiên không phân chia Sa Bà, Cực Lạc! Thệ nguyện từ bi của đức Phật chính là vì kẻ chưa đoạn Hoặc không có cách gì liễu sanh tử được, nên riêng lập ra pháp môn đặc biệt cậy vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phương này để những ai có tâm sẽ tu được, phàm những ai có tín nguyện niệm Phật đều được vãng sanh. Đấy chính là tâm đại từ bi phổ độ chúng sanh của đức Thích Ca và Di Đà. Nghĩ đến điều này sẽ cảm kích cùng cực, rơi lệ, lẽ nào còn rảnh rỗi để suy cuồng nghĩ loạn, cậy vào những thứ tri kiến của chính mình để bắt bẻ nữa ư?

Ông Cương Dã Tăng Thứ Lang, hòa thượng Viên Sơn chẳng coi rẻ bộ Văn Sao hủ bại, nhơ bẩn của Quang là do đời trước từng có duyên với nhau mà ra. Ông chỉ cầm theo một bộ thì những vị ấy khó thể xem trọn, nay riêng gởi tới hai gói, tổng cộng là sáu bộ, xin hãy chuyển lại cho hai vị ấy và những người hữu duyên. Nói đến chuyện dịch ra cho người phương Đông xem thì tôi trộm nghĩ rằng một chữ “dịch” ấy tợ hồ không cần phải quan tâm đến, vì sao vậy? Do họ có túc duyên với Quang. Nếu là ai vô duyên thì sợ rằng trông thấy [Văn Sao] sẽ dùng để thay củi, bịt vò[34]. Hơn nữa, nếu nói là lợi lạc cho kẻ sơ cơ thì hãy nên đem in giống y như vậy để được lợi ích rộng khắp. Nếu in kèm thêm Hòa văn[35] vào thì chỉ có thể khiến cho người ở phương Đông biết Hòa văn đọc được. Nếu là người Hoa và Hoa kiều ở các nơi không biết Hòa văn thì họ đều chẳng thể xem được. Huống chi Đại Tạng Kinh của hội Nhật Bản Thư San thì một là bản khắc ván, hai là bản đúc kẽm, và bản Đại Tạng Kinh do Đại Chánh San Kinh Hội[36] ấn hành lần này đều toàn bằng Hoa văn, chẳng ghi kèm Hòa văn vào. Vì thế, được nhiều người Hoa thỉnh về. Nếu in xen lẫn Hòa văn vào thì sự lưu thông sẽ bị úng tắc. Theo ngu kiến của Quang, nếu muốn lưu thông, chẳng cần phải dịch.

Còn như hòa thượng Viên Sơn tài lẫn đức đều dồi dào, sao lại muốn hạ mình đến thăm Quang? Vì Quang là một ông Tăng chỉ biết cơm cháo, không đạo, không đức, không hay, không biết. Qua một bộ Văn Sao đã đem hết những thứ rơm rác trong bụng mửa sạch ra hết cả rồi, gặp mặt nhau nào có ích gì đâu? Huống chi Quang đã suy nhược, già cả chẳng thể siêng học được! Nếu Quang sắc lực mạnh mẽ, Ngài đến Trung Hoa, Quang sẽ học được sở đắc của Ngài. Nay đã già rồi, ngoài việc trì danh ra, chẳng nên học một pháp nào bởi kỳ hạn chết sắp đến, sợ rằng sở học càng nhiều, tâm thức càng khó được thuần tịnh, đến nỗi chẳng cảm ứng đạo giao được Phật. Hễ chẳng được vãng sanh sẽ muôn kiếp lưu chuyển, há đáng buồn lắm hay sao? Ông tuổi hãy còn trẻ, cố nhiên hãy nên siêng học. Nhưng chớ nên xem thường một tòa núi Tu Di đáng nương tựa rồi bỏ qua, ngõ hầu chẳng giẫm theo vết xe đổ của Hiển Ấm, chẳng được cùng các vị thượng thiện nhân thân cận đấng Di Đà Nguyện Vương vậy!
 
Trích từ: Ấn Quang pháp sư Văn Sao Tam Biên Quyển 1

Từ Ngữ Phật Học
thông giáo
(通教) Một trong 4 giáo của tông Thiên thai, tức giáo thứ 2 của 4 giáo Hóa pháp trong 5 thời 8 giáo. Giáo này lấy nhân duyên tức không nói trong 2 thời Phương đẳng, Bát nhã và Tứ đế vô sinh làm giáo chỉ. Trong Tứ giáo nghĩa quyển 1, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3 hạ và Tứ niệm xứ quyển 2 của ngài Trí khải, chữ Thông của Thông giáo có các giải thích khác nhau: Cứ theo Tứ giáo nghĩa quyển 1 thì Thông của Thông giáo có 8 nghĩa: 1. Giáo thông: Đây là giáo pháp 3 thừa cùng tu. 2. Lí thông: Ba thừa cùng thấy lí thiên chân(thiên về bên không). 3. Trí thông: Ba thừa cùng được Nhất thiết trí khéo độ. 4. Đoạn thông: Ba thừa cùng đoạn trừ Kiến hoặc, Tư hoặc trong 3 cõi. 5. Hạnh thông: Ba thừa cùng tu hạnh kiến, tư vô lậu. 6. Vị thông: Ba thừa cùng trải qua các giai vị Can tuệ cho đến Bích chi Phật. 7. Nhân thông:Ba thừa cùng lấy 9 vô ngại làm nhân. 8. Quả thông: Ba thừa cùng được 9 thứ giải thoát và 2 thứ Niết bàn. Sở dĩ giáo pháp này được gọi là Thông giáo chứ không gọi là Cộng giáo là vì giáo ý chẳng những gần thì chung cho Nhị thừa, mà xa còn thông với Biệt giáo, Viên giáo.Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 3 hạ thì Thông của Thông giáo có 2 nghĩa: 1. Nghĩa ba thừa cùng học: Tức 3 thừa của Tạng giáo đều có sở học khác nhau là Tứ đế, Thập nhị nhân duyên và Lục độ; còn 3 thừa của Thông giáo cùng tu Đế, Duyên, Độ, đều thấy lí Đương thể tức không nên gọi là Thông. 2. Nghĩa riêng về Bồ tát có Thông tiền Thông hậu: Bồ tát của Thông giáo có 2 loại là Lợi và Độn, Bồ tát độn căn và Bồ tát của Tạng giáo nói trên, cùng chứng Niết bànđãn không, gọi là Thông tiền Tạng giáo, Độn đồng Nhị thừa(độn căn giống như Nhị thừa); còn các Bồ tát lợi căn khi nghe thuyết Đương thể tức không thì biết ngay nghĩa bất đãn không, thông với lí Trung đạo thực tướng nói trong Biệt giáo và Viên giáo sau đó, gọi là Thông hậu Biệt, Viên. Như vậy chỉ riêng với Bồ tát mới có nghĩa Thông tiền thông hậu, cho nên gọi là Thông giáo.Cứ theo Tứ niệm xứ quyển 2 thì Thông có 3 nghĩa, gọi là Tam thông. Đó là: 1. Nhân quả đều thông: Chỉ cho hàng Tam thừa cùng tu nhân và cùng được quả giống nhau. 2. Nhân thông quả không thông: Chỉ cho hàng Bồ tát lợi căn, ban đầu thì Tam thừa cùng học, về sau theo thứ tự được tiếp nhập vào Biệt giáo, Viên giáo. 3. Thông Biệt Thông Viên: Chỉ cho người mượn Thông giáo để mở đường, tuy vốn là căn cơ Biệt, Viên, nhưng dùng Đương thể tức không của Thông giáo làm phương tiện để mở đường cho trí hiểu biết về Trung đạo của Biệt giáo, Viên giáo. Trong 4 giáo Hóa pháp thì Tạng giáo và Thông giáo có khác nhau, vì Tạng giáo cho rằng giáo pháp của mỗi thừa trong 3 thừa đều khác nhau, quán pháp cũng bất đồng, như Thanh văn quán 4 đế, Duyên giác, quán 12 nhân duyên, Bồ tát tu hạnh 6 độ; giai vị tu hành cũng đều khác nhau, mục đích chính là giáo hóa Nhị thừa, mục đích phụ là giáo hóa Bồ tát; còn Thông giáo thì 3 thừa cùng tu Bát nhã, cũng quản lí nhân duyên tức không, đoạn hoặc, chứng trí và giai vị tu hành đều giống nhau, mục đích chính là giáo hóa Bồ tát, mục đích phụ là giáo hóa Nhị thừa, vì thế nên Tạng giáo và Thông giáo khác nhau. Nhưng tông Thiên thai cho rằng Tạng giáo và Thông giáo đều là giáo thuộc 3 cõi, đều đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, thấy Không lí thiên chân, chỉ ra khỏi Phần đoạn sinh tử trong 3 cõi; trong đó, căn cơ của Tạng giáo thuộc về độn căn, tức chia chẻ sắc mới biết không, nên gọi là Chuyết độ(vụng độ)trong 3 cõi; đối lại với hàng độn căn của Tạng giáo, căn cơ của Thông giáo thuộc về lợi căn, tức quán đương thể chính là không, chứ không cần chia chẻ sắc mới thấy không, cho nên được gọi là Xảođộ(khéo độ) trong 3 cõi. Hơn nữa, Thông giáo tuy nói Không nhưng trong đó tự bao hàm lí Trung đạo, cho nên Bồ tát thấy lí ấy mà được tiếp nhận vào Biệt giáo, Viên giáo ở sau, gọi là Biệt tiếp Thông, Viên tiếp Thông. Đây chính là lí do cắt nghĩa tại sao Thông giáo lại được xem là cánh cửa đầu tiên của Đại thừa. Ngoài ra, nếu phối hợp giai vị tu hành của các Bồ tát nói trên thì Thập địa là 10 địa của 3 thừa tu chung, Thanh văn và Bồ tát độn căn ở Địa thứ 7, Duyên giác ở Địa thứ 8 đều là khôi thân diệt trí. Trong hàng Bồ tát lợi căn thì các vị thuộc về Thượng căn ở Địa thứ 4, các vị thuộc trung căn ở Địa thứ 5 hoặc Địa thứ 6, các vị thuộc hạ căn ở Địa thứ 7, hoặc Địa thứ 8 được tiếp nhập vào Biệt giáo, Viên giáo sau Thông giáo, cho nên Bồ tát Địa thứ 9 và Phật Địa thứ 10 không có Phật và Bồ tát thực tại gọi là Hữu giáo vô nhân, Quả đầu vô nhân. [X. Tam luận huyền nghĩa; Pháp hoa huyền luận Q.3]. (xt. Thập Địa, Hóa Pháp Tứ Giáo].
tam hiền
(三賢) Chỉ cho 3 giai vị tu hành các thiện căn để ức chế phiền não, khiến cho tâm được điều hoà. Tam hiền có Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau. 1. Tiểu thừa tam hiền vị (cũng gọi Ngoại phàm vị): Giai vị tu các thiện căn hữu lậu,(tức Thuận giải thoát phần), có 3 vị: a. Ngũ đình tâm quán vị: Giai vị dùng Ngũ đình tâm quán để ngăn dứt tham, sân, si, ngã kiến và tâm tán loạn. b. Biệt tướng niệm trụ vị: Giai vị quán riêng các tự tướng: Bất tịnh, khổ, vô thường và vô ngã thuộc thân, thụ, tâm, pháp, đồng thời, quán các cộng tướng: Vô thường, khổ, không, và vô ngã. c. Tổng tướng niệm trụ vị: Giai vị quán chung các cộng tướng: Vô thường khổ, không và Vô ngã thuộc Tứ niệm trụ.Ba giai vị trên đầy và 4 giai vị Thiện căn hợp lại gọi chung là Thất phương tiện vị, là giai vị tu hành chuẩn bị vào Kiến đạo. Giai vị Ngũ đình tâm quán thành tựu Xa ma tha(Chỉ), 2 giai vị còn lại thì thành tựu Tì bát xá na(Quán). 2. Đại thừa tam hiền vị(cũng gọi Tam thập tâm): Chỉ cho hàng Bồ tát trước Thập địa, giai vị này có 3 bậc Thập tâm khác nhau. a. Thập trụ: Tâm lãnh hội được lí, an trụ chẳng động, gọi là Trụ. Thập trụ gồm có: Phát tâm trụ, Trị địa trụ, Tu hành trụ, Sinh quí trụ, Cụ túc phương tiện trụ, Chính tâm trụ, Bất thoái trụ, Đồng chân trụ, Pháp vương tử trụ và Quán đính trụ. b. Thập hạnh: Tu hành 10 hạnh này sẽ có năng lực tiến tới quả, gọi là Hạnh. Thập hạnh gồm có: Hoan hỉ hạnh, Nhiêu ích hạnh, Vô vi nghịch hạnh, Vô khuất náo hạnh, Vô si loạn hạnh, Thịện hiện hạnh, Vô trước hạnh, Nan đắc hạnh, Thiện pháp hạnh, và Chân thực hạnh. c. Thập hồi hướng: Hồi nhân hướng quả, gọi là Hồi hướng. Thập hồi hướng gồm có: Cứu chư chúng sinh li chúng sinh tướng hồi hướng, Bất hoại hồi hướng, Đẳng nhất thiết chư Phật hồi hướng, Chí nhất thiết xứ hồi hướng, Vô tận công đức tạng hồi hướng, Nhập nhất thiết bình đẳng thiện căn hồi hướng, Đẳng tùy thuận nhất thiết chúng sinh hồi hướng, Chân như tướng hồi hướng, Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng, và Nhập pháp giới vô lượng hồi hướng. Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là Tam hiền vị của kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp, còn Tam hiền vị của kinh Nhân vương bát nhã ba la mật là Thập tín tập chủng tính, Thập chỉ tính chủng tính, Thập kiên tâm đạo chủng tính và Tam hiền vị của kinh Phạm võng quyển thượng là Thập phát thú Thập trưởng dưỡng, Thập kim cương... [X. Tứ giáo nghĩa Q.5; Bồ tát anh lạc bản nghiệp kinh sớ Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Ngũ Thập Nhị Vị, Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Niệm Trụ, Bồ Tát Giai Vị).
biệt giáo
(別教) I. Biệt giáo. Một trong bốn giáo hóa pháp: Tạng, Thông, Biệt, Viên do tông Thiên thai thành lập. Biệt giáo tuyên nói ý chỉ trong các kinh Đại thừa riêng cho hàng Bồ tát, như kinh Hoa nghiêm v.v... Riêng đối với hàng Bồ tát, Biệt giáo nói hằng sa lí Tục đế, như dùng đạo chủng trí dứt trừ ba hoặc trần sa, kiến tư, vô minh (Kiến tư , vô minh thuộc ngoài ba cõi), tu các hạnh ba la mật tự hành hóa tha (tu cho mình hóa độ người khác), lập các ngôi Tam hiền, Thập thánh, lấy định vị như kim cương của đạo vô ngại làm nhân, lấy bốn đức Niết bàn (thường lạc ngã tịnh) của đạo giải thoát làm quả. Giáo này không làm lợi ích chung cho hai thừa Thanh văn, Duyên giác, mà chỉ làm lợi ích riêng cho hàng Bồ tát, vì thế gọi là Biệt giáo (giáo pháp riêng biệt). Lại vì nó không chung với hai thừa nên gọi là Bất cộng giáo (giáo pháp không chung). Trong bốn giáo hóa pháp, Biệt giáo là sự giáo thuộc ngoài ba cõi, cho nên tuy rõ thực tướng Trung đạo, nhưng lí Đãn trung không viên dung tương tức, mà cần phải theo thứ lớp tu ba quán Không Giả Trung, theo thứ lớp chiếu lí ba đế, thứ lớp qua 52 giai vị, thứ lớp phá ba hoặc kiến tư, trần sa và vô minh, để thứ tự được ba trí: Nhất thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí. [X. Quán âm huyền nghĩa Q.hạ; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần dưới, Q.2 phần dưới đến Q.5;Tứ niệm xứ Q.3, Q.4; Tứ giáo nghĩa Q.2, Q.3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ; Thiên thai bát giáo đại ý; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng huyết Q.6 phần 4]. (xt. Hóa Pháp Tứ Giáo). II. Biệt giáo. Từ gọi tắt của Biệt giáo nhất thừa do tông Hoa nghiêm thiết lập. Giáo nghĩa Nhất thừa của Hoa nghiêm khác biệt với căn cơ tam thừa, mà chỉ thích hợp với căn cơ Đại thừa viên đốn, vì thế nên gọi là Biệt giáo nhất thừa. (xt. Đồng Biệt Nhị Giáo).
thật báo vô chướng ngại độ
(實報無障礙土) Gọi tắt: Thực báo độ. Đồng nghĩa: Thụ dụng độ. Một trong 4 độ do tông Thiên Thai thành lập, chỉ cho cõi nước an trụ của các Bồ tát Pháp thân từ sơ địa trở lên. Cũng tức là Quả báo độ của các bậc đã đoạn trừ vô minh và chứng được 1 phần lí trung đạo, là nơi an trụ của các BồtátBiệt giáo từ sơ địa trở lên và Bồtát Viên giáo từ sơ địa trở lên. Nhờ tu hành nhân chân thực mà được quả báo chân thực nên gọi Thực báo; lại do sắc tâm vô ngại, một thế giới thu nhiếp tất cả thế giới, nên gọi là Vô chướng ngại. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.1]. (xt. Tứ Độ).
thập tín
(十信) Gọi đủ: Thập tín tâm. Gọi tắt: Thập tâm. Chỉ cho 10 tâm mà Bồ tát của 10 giai vị đầu tiên trong 52 giai vị tu hành. Mười tâm này thuộc Tín vị, có khả năng giúp cho hành giả thành tựu hạnh tín. Về tên gọi và thứ tự thì các kinh điển ghi có hơi khác nhau. Cứ theo phẩm Hiền thánh danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng thì 10 tâm là: 1. Tín tâm: Nhất tâm quyết định, mong muốn thành tựu. 2. Niệm tâm: Thường tu 6 niệm: Phật, Pháp, Tăng,giới,thí vàthiên. 3. Tinh tiến tâm: Nghe Bồ tát tạng, siêng năng tu tập thiện nghiệp không gián đoạn. 4. Định tâm: Tâm an trụ nơi sự và nghĩa, xa lìa tất cả hư ngụy, vọng tưởng phân biệt. 5. Tuệ tâm: Nghe Bồ tát tạng, tư duy quán sát, biết tất cả pháp vô ngã, vô nhân, tự tínhrỗng lặng. 6. Giới tâm: Thụ trì luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thân, khẩu, ý thanh tịnh, không phạm các lỗi, nếu có phạm thì sám hối trừ diệt. 7. Hồi hướng tâm: Đem các thiện căn đã tu được hồi hướng về bồ đề, không nguyện sinh vào các cõi hữu lậu, hồi thí cho chúng sinh,không vì riêng mình; hồi hướng cầu chứng được thực tế, không chấp danh tướng. 8. Hộ pháp tâm: Phòng ngừa tâm mình, không khởi phiền não, lại tu 5 hạnh: Mặc hộ, niệm hộ, trí hộ, tức tâm hộ và tha hộ. 9. Xả tâm: Không tiếc thân mệnh, tài vật, tất cả những gì có được đều buông bỏ.10. Nguyện tâm:Thường tu các nguyện thanh tịnh. Mười tâm được liệt kê trong phẩm Bồ tát giáo hóa kinh Nhân vương quyển thượng do ngài Cưu ma la thập dịch là: Tín tâm, Tinh tiến tâm, Niệm tâm, Tuệ tâm, Định tâm, Thí tâm, Giới tâm, Hộ tâm, Nguyện tâm và Hồi hướng tâm, cho đó là 10 tâm của Tập chủng tính. Kinh Phạm võng quyển thượng thì nêu 10 tâm là: Xả tâm, Giới tâm, Nhẫn tâm, Tiến tâm, Định tâm, Tuệ tâm, Nguyện tâm, Hộ tâm, Hỉ tâm, Đính tâm và cho đó là 10 tâm Phát thú trong Kiên tín nhẫn. Còn kinh Lăng nghiêm quyển 8 thì gọi đó là Thập tâm trụ, tức Tín tâm trụ, Niệm tâm trụ, Tinh tiến tâm trụ, Tuệ tâm trụ, Định tâm trụ, Bất thoái tâm trụ, Hộ pháp tâm trụ, Hồi hướng tâm trụ, Giới tâm trụ và Nguyện tâm trụ. Về việc phối hợp Thập tínvớinày các vị thứ của Bồ tát thì xưa nay cũng cócác thuyết khác nhau. Tứ giáo nghĩa quyển 5 phối Thập tín với 10 giai vị đầu tiên trong 52 giai vị của Biệt giáo; Viên giáo lại lập riêng Lục tức, phối Thập tín với Tương tự tức, là giai vị Nhu thuận nhẫn 6 căn thanh tịnh. Hoa nghiêm ngũ giáo chương dẫn dụngluậnNhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) cho rằng như trước Tu đà hoàn đạo có 4 giai vị là Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp, đối với hàng Nguyện lạc hành thì có 4 loại là Thập tín, Thập giải, Thập hành, Thập hồi hướng; Thủy giáo thì cho rằng 4 giai vị Thập tín, Thập giải, Thập hành, Thập hồi hướng là Tư lương vị. Trong Chung giáo thì trước Sơ địa chỉ có Tam hiền (Thập giải, Thập hành, Thập hồi hướng), là vì Thập tín chưa đạt đến giai vị Bất thoái. Các nhà Duy thức cũng cho rằng trước Thập địa chỉ có 30 tâm, chứ không lập giai vị Thập tín. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Nhân vương kinh hợp sớ Q.trung; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1 hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần cuối]. (xt. Bồ Tát Giai Vị).
Vô minh
無明; S: avidyā; P: avijjā; dịch theo âm là A-vĩ-di;
Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo (s: triratna) và nguyên lí Nghiệp (s: karma). Vô minh là yếu tố đầu tiên trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), là những nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Vô minh cũng là một trong ba Ô nhiễm (s: āśrava), một trong ba Phiền não (s: kleśa) và khâu cuối cùng của mười Trói buộc (s: saṃyojana).
Vô minh dược xem là gốc của mọi bất thiện trong thế gian và cũng là một đặc tính của Khổ (s: duḥkha). Ðó là tình trạng tâm thức không thấy sự vật »như nó là«, cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra Khổ. Vô minh sinh Ái (s: tṛṣṇā) và đó là yếu tố cơ bản sinh ra sự tái sinh. Theo quan điểm Ðại thừa, vì vô minh mà từ tính Không (s: śūnyatā) thoắt sinh ra hiện tượng, làm cho người còn mê lầm tưởng lầm đó là sự thật và không thấy tự tính (Si).

Trong các trường phái Ðại thừa, vô minh cũng được hiểu khác nhau. Trung quán tông (s: mā-dhyamika) cho rằng, vô minh xuất phát từ quan điểm chấp trước tiên thiên của ý thức, và từ đó mà xây dựng lên một thế giới của riêng mình, cho thế giới đó những tính chất của chính mình và ngăn trở không cho con người thấy thế giới đích thật. Vô minh cũng là không thấy thể tính thật sự, và thể tính đó là tính Không. Như thế vô minh có hai khía cạnh: một là nó che đậy thế giới đích thật, hai là nó xây dựng cái ảo, cái giả. Hai mặt này cứ luôn luôn dựa vào nhau. Ðối với Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) và Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika) thì vô minh là cách nhìn thế giới sai lạc, cho thế giới là thường còn, mà thế giới có thật chất là vô thường. Vô minh làm cho con người tưởng lầm thế giới có một tự ngã. Theo Duy thức tông thì vô minh là Ðảo kiến, cho rằng, thế giới độc lập với ý thức (tâm) mặc dù thế giới và ý thức chỉ là một.
kiến hoặc
(見惑) ..... Tên đầy đủ: Kiến đạo sở đoạn hoặc (Phạm: Darzana-màrga-prahàtavyànuzaya). Cũng gọi Kiến phiền não, Kiến chướng, Kiến nhất xứ trụ địa. Chỉ cho những phiền não được đoạn diệt khi tiến lên giai vị Kiến đạo. Còn những phiền não được đoạn diệt khi đạt đến giai vị Tu đạo, thì gọi là Tu hoặc (hay Tư hoặc). Tông Câu xá cho Kiến hoặc thuộc về mê lí, tức là lầm chấp lí Tứ đế, còn Tu hoặc thì thuộc về mê sự, tức là lầm chấp các sự vật hiện hữu. Còn tông Duy thức thì cho Kiến hoặc là các phiền não sinh khởi ở nơi tâm do sự dẫn dắt của tà sư hay tà giáo, gọi là Phân biệt khởi; còn Tu hoặc là những phiền não tự nhiên, sinh ra đã có, gọi là Câu sinh khởi(xem biểu đồ 1). Đồ Biểu 1: Tông Câu Xá
Tư hoặc (hay tu hoặc) 

Là những sai lầm bẩm sinh, đã có từ nhiều kiếp, khi con người sinh ra thì nó cùng có mặt theo, cho nên thuật ngữ Phật học còn gọi nó là “câu sinh khởi hoặc”. Vì tâm ý mê muội, nên kẻ phàm phu luôn luôn khởi niệm tham đắm đối với mọi sự mọi vật ở thế gian; cái gì vừa ý thì tham lam muốn có, cái gì không vừa ý thì giận hờn oán trách, khiến nên con người gây ra bao nhiêu tội lỗi, đau khổ trong đời sống, đó gọi là “tư hoặc” (cũng gọi là “tu hoặc”). Một cách tổng quát, loại hoặc này có 5 thứ căn bản, là tham (lòng tham lam đối với mọi thứ mình yêu thích), sân (lòng giận hờn oán trách đối với những gì mình không vừa ý), si (tâm mê mờ không thấy rõ được sự thật), mạn (tâm kiêu mạn, tự cao tự đại, cho mình là hơn hết rồi khinh khi người khác), nghi (nghi ngờ, không tin tưởng điều chân thật, nhất là không tin Tam Bảo). Từ 5 thứ hoặc căn bản này mà sinh ra bao nhiêu tính xấu ác khác, như tham lam, ích kỉ, bỏn sẻn, đua đòi, trộm cắp, tà dâm, giận dữ, hờn trách, mắng chưởi, nói năng thô bạo, phỉ báng người hiền, nói xấu kẻ khác, tự thị khinh người, ngu dốt mà cứ cố chấp v.v... 5 thứ hoặc này phát khởi do vì mê đắm sự vật, thuộc về tình cảm, cho nên cũng gọi là “sự hoặc” (sai lầm về sự). Lại nữa, 5 thứ hoặc ấy là những phiền não gây ra đau khổ triền miên, làm cho chúng sinh không thể tu tập để tiến đến bến bờ giải thoát, cho nên Duy Thức Học cũng gọi chúng là “phiền não chướng”. Tư hoặc có sâu có cạn, có phần thô sơ dễ đoạn trừ, có phần vi tế khó đoạn trừ, được chia làm chín phẩm từ nhẹ nhàng nhất đến nặng nề nhất: thượng thượng, thượng trung, thượng hạ, trung thượng, trung trung, trung hạ, hạ thượng, hạ trung, hạ hạ. Sáu phẩm tư hoặc trước (từ thượng thượng đến trung hạ) là các phần dễ đoạn trừ hơn.

Bốn Loại Tịnh Độ Tùy Bạn Thích
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm

Đới Nghiệp Tiêu Nghiệp Sinh Tịnh Độ
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm

Có Cực Lạc Tịnh Độ Hay Không...?
Dân Quốc Tịnh Luật Tự sa-môn Tánh Phạm

Cầu Sanh Tịnh Độ Là Tiểu Thừa Hay Đại Thừa...?
Dân Quốc Tịnh Luật Tự sa-môn Tánh Phạm