Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Dau-Long-Moi-Mieng-Khuyen-Buong-Xuong
Mọi người phải biết học Phật là để làm gì? Phật pháp Tiểu Thừa chỉ nhằm liễu sanh tử cho cá nhân. Phật pháp Ðại Thừa nếu chỉ vì mình liễu sanh tử thì vẫn chưa đủ, phải giúp mọi người liễu sanh tử. Ðó là tự lợi lợi tha. Đạo tràng Lộc Cảng này được thành lập cũng chính yếu vì liễu sanh tử. Sanh tử có “liễu sanh tử thật” và “liễu sanh tử giả”. Thật sự có thể liễu sanh tử thì chỉ có một mình đức Phật. Mọi người học Phật, học liễu sanh tử thì nhất định phải trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp mới có thành tựu. Ngoài ra đức Phật còn phương tiện lập ra phương pháp cứu chúng sanh hoành siêu (vượt ra khỏi tam giới theo chiều ngang), giúp cho chúng sanh ngay trong một đời này có thể thành tựu, đó là pháp môn Tịnh Ðộ.

Pháp môn Tịnh Ðộ là pháp môn tu hành nương nhờ vào hai lực lượng, dựa trên hai lực lượng này tu tập sẽ có thể thành tựu ngay trong một đời này. Đã biết pháp môn này, bất luận quý vị sống đến bảy tám chục tuổi, hoặc trên trăm tuổi, thậm chỉ chỉ sống một tháng, chỉ cần bạn chịu tu, một tháng cũng có thể liễu sanh thoát tử. Pháp môn hay đến như vậy nhưng rất khó hiểu rõ triệt để. Muốn hiểu rõ pháp môn này, phải đọc hết Tam Tạng mười hai bộ kinh thì mới hiểu rõ. Lại nói thêm, những pháp môn khác phải được thân người thì mới có thể tu tập, còn pháp môn Tịnh Ðộ, ngay cả con kiến cũng có thể thành tựu. Ðương nhiên, nếu quý vị  chẳng thành tựu trong đời này thì cũng phải luân hồi, cũng bị mê muội khi chuyển sanh sang đời sau, trong tương lai cơ hội gặp lại pháp môn này vô cùng mù mịt.

Những lời dạy của đức Phật được gọi là Thánh Ngôn Lượng. Nếu có thể tin tưởng thực sự thì tuy chẳng hiểu, vẫn có thể thành tựu. Chỉ sợ là quý vị không hiểu, nhưng cố làm ra vẻ như chính mình rất thông mình. Thí dụ rõ ràng đây là một khúc cây, quý vị lại nói bừa là tấm giấy. Giấy có công dụng của giấy, gỗ có công dụng của gỗ. Dùng khúc cây gõ vào đầu sẽ đau, nhưng dùng tấm giấy gõ sẽ không đau; đồ vật gì cũng có cách dùng riêng của nó, chớ nên dùng sai. Kinh điển càng chẳng thể giảng sai, mỗi chữ Trung Quốc có một âm, mỗi âm có nghĩa khác, nói sai sẽ hại người. Lúc bình thường phàm những người đến đạo tràng này giảng kinh đều phải y theo chú giải của Tổ Sư mà tuyên nói, không thể nói tùy tiện, bừa bãi.

Thông thường, mọi người đều nghe đến hai chữ Ngã Chấp. Nếu người mang bệnh thì phải uống thuốc. Bệnh gì thì uống thuốc trị bệnh đó. Nhưng một thứ thuốc không chỉ trị một loại bệnh, có trăm ngàn cách biến hóa, nếu không bệnh mà uống thuốc bừa bãi sẽ rất phiền phức. Trong Phật pháp thường nói đến một bệnh nặng, đó là tham - sân - si. Người học Phật đều biết, bất kể học theo tông phái nào cũng đều bị bệnh tham - sân - si này. Tâm tham, tâm sân hận, tâm ngu si được gọi là Tam Ðộc. Tam Độc từ đâu đến? Hoàn toàn do cá nhân quý vị mong cầu mà có. Tự mình cầu ư? Nhất định quý vị sẽ nói “chẳng có lẽ ấy!” Đích thực là vô cùng chánh xác, tự mình tìm cầu tham, sân, si rồi giữ chặt nó trong tâm. Nếu vậy thì sẽ chẳng thể liễu sanh tử. Chắc chắn quý vị đã nghe người xưa nói: “Thành Phật chẳng khó, buông dao đồ tể xuống bèn lập tức thành Phật”. Dao đồ tể (đồ đao) là dao dùng để mổ heo, bò; sát sanh chẳng phải là việc tốt, chỉ cần buông dao đồ tể xuống liền thành công. Mọi người phải nhớ “buông xuống”! Tam Độc tức là dao đồ tể. Bất cứ người nào trong chúng ta cũng chuyên cầm con dao đồ tể ấy, sau đó tự giết hại mình, hại người. Như vậy thì làm sao giải thoát cho được? Nếu buông xuống dao đồ tể xong rồi lại cầm cây kéo, như vậy thì cũng không được, nhất định phải buông xuống hoàn toàn. Tu pháp môn Tịnh Ðộ nhất định phải chuyên tâm nơi câu A Di Ðà Phật. Thiền Tông nói: “Nhất niệm chẳng khởi”, người nào có thể một niệm chẳng khởi thì người ấy chính là thật sự buông xuống. Nếu làm chẳng nổi thì phải chuyên niệm A Di Ðà Phật, dựa vào Nhị Lực để tu hành thì mới có thể thành công, mới có hy vọng vãng sanh, liễu sanh tử.
 
Trích từ: Tuyết Lư Lão Nhân Tịnh Độ Tuyển Tập

Từ Ngữ Phật Học
ngã chấp
(我執) Phạm: Àtma-gràha. Cũng gọi Nhân chấp, Sinh chấp. Cố chấp có thực ngã. Thể của chúng sinh chỉ do 5 uẩn giả hợp mà thành, nếu chấp có thực ngã chủ tể tồn tại mà sinh ra vọng tưởng phân biệt ta và của ta, thì gọi là Ngã chấp. Luận Câu xá quyển 29 cho rằng Ngã chấp có 5 lỗi: 1. Khởi ngã kiến và hữu tình kiến thì rơi vào ác kiến. 2. Giống với các ngoại đạo. 3. Cũng như vượt đường mà đi. 4. Đối với tính không, tâm chẳng ngộ nhập, không sinh tịnh tín, không thể an trụ, chẳng được giải thoát. 5. Thánh pháp không thể thanh tịnh. Tiểu thừa xem Ngã chấp là gốc của muôn điều ác, là căn nguyên của tất cả sai lầm và phiền não. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu cũng nói: Phiền não chướng có rất nhiều phẩm loại, nhưng tựu trung đều lấy Ngã chấp làm gốc mà sinh khởi; nếu chẳng chấp ngã thì không có phiền não. Theo luận Thành duy thức quyển 1, Ngã chấp có thể được chia làm 2 loại là : 1. Câu sinh ngã chấp: Ngã chấp bẩm sinh, tức là do sức nội nhân huân tập hư vọng từ vô thủy đến nay, sinh ra đã có, không cần phải học hỏi, tập tành, nên gọi là Câu sinh. 2. Phân biệt ngã chấp: Ngã chấp thuộc về tính hậu thiên tức là do sức tác động của ngoại cảnh mà phát sinh, không cùng có 1 lúc với thân, nhưng phải học hỏi, tập quen và phân biệt mới phát khởi; cho nên gọi là Phân biệt ngã chấp. Phân biệt ngã chấp thường sinh ra tác dụng phát nghiệp, còn Câu sinh ngã chấp thì hay khởi tác dụng nhuận sinh, cả 2 đều có khả năng làm não loạn thân tâm chúng sinh, khiến cho họ cứ mãi phải sinh tử luân hồi. [X. phẩm Phá chấp ngã trong luận Câu xá Q.30; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng phần cuối]. (xt. Nhị Chấp, Ngã).
phật
(佛) Phạm, Pàli: Buddha. Gọi đủ: Phật đà, Hưu đồ, Phù đà, Phù đồ, Phù đầu, Một đà, Bột đà, Bộ tha. Hán dịch: Giác giả, Tri giả, Giác. Người giác ngộ chân lí, cũng tức là bậc Đại thánh đầy đủ tự giác, giác tha, giác hành viên mãn, thấy biết tính tướng của hết thảy các pháp đúng như thật, thành tựu Đẳng chính giác, là quả vị cao nhất của Phật giáo. Trong 3 đức: Tự giác, Giác tha, Giác hành viên mãn, thì phàm phu không có 1 đức nào, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác chỉ có Tự giác, hàng Bồ tát có được Tự giác, Giác tha, chỉ Phật mới có đầy đủ 3 đức. Về nội dung chứng ngộ của đức Phật, trong các kinh luận có nhiều thuyết; đối với Phật thân, Phật độ... thì các tông phái cũng có nhiều thuyết khác nhau, nhưng nói chung thì Đại thừa đều lấy quả Phật làm mục đích tối hậu. Những từ ngữ được dùng để ngợi khen công đức của Phật thì có rất nhiều như 10 danh hiệu: Như lai, Ứng cúng..., hoặc Nhất thiết tri giả, Nhất thiết kiến giả, Tri đạo giả, Khai đạo giả, Thuyết đạo giả, hoặc Thế tôn, Thế hùng (người dứt trừ tất cả phiền não thế gian 1 cách hùng mạnh), Thế nhãn (người dẫn đường cho thế gian), Thế anh (người ưu tú trong thế gian), Thiên tôn, hoặc Đại giác thế tôn, Giác vương (Giác hoàng), Pháp vương, Đại đạo sư, Đại thánh nhân, Đại sa môn, Đại tiên, Đại y vương (người tùy theo tâm bệnh mà nói pháp, cũng như vị thầy thuốc giỏi tùy theo bệnh mà cho thuốc), Phật thiên, Phật nhật (ví dụ Phật như mặt trời), Lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn, Lưỡng túc tiên, Nhị túc tiên, Thiên trung thiên, Nhân trung ngưu vương, Nhân hùng sư tử (người hùng trong loài người giống như sư tử trong loài thú) v.v...

Đức Phật là bậc có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, nên gọi Ngài là Năng nhân¯đ ¤H, do đó, đức Phật A di đà được gọi là An lạc năng nhân (năng nhân của thế giới an vui). Ngoài ra, còn có thuyết lấy Năng nhân ¯đ ¤H làm Năng nhân ¯đ ¤¯ (hay làm điều nhân từ). Chữ Năng nhân sau là dịch ý của từ ngữ Thích ca, cho nên danh hiệu đức Phật Thích ca cũng được dùng để chỉ chung cho tất cả các đức Phật thù thắng. Đức tính thù thắng có đầy đủ trên thân Ngài là 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, ngoài ra còn có 10 lực, 4 vô sở úy và 18 pháp bất cộng. Lại nữa, Phật có 7 công đức thù thắng vượt hơn người thường, gọi là Thất thắng sự, hoặc gọi là Thất chủng tối thắng, Thất chủng vô thượng. Đó là: Thân thắng, Như pháp trụ thắng, Trí thắng, Cụ túc thắng, Hành xứ thắng, Bất khả tư nghị thắng và Giải thoát thắng. Định, Trí, Bi của Phật đều là tối thắng, cho nên gọi là Đại định, Đại trí và Đại bi, phối hợp với Đoạn đức, Trí đức và Bi đức mà gọi chung là Đại định trí bi. Phật xuất hiện ở đời quá khứ gọi là Quá khứ Phật hoặc Cổ Phật. Phật sẽ xuất hiện ở thế giới Sa bà trong vị lai, thì gọi là Hậu Phật hoặc Đương lai Phật (tức Phật Di lặc). Ở thời kì đầu, Phật là chỉ cho Phật lịch sử, cũng tức là chỉ cho đức Phật Thích ca.

Về sau lại phát sinh tư tưởng Quá khứ thất Phật, Vị lai Phật và Di lặc Phật. Khoảng cách giữa đức Phật Thích ca và Phật Di lặc, sẽ không có vị Phật nào khác ra đời. Tiểu thừa cho rằng không thể có 2 đức Phật cùng xuất hiện và tồn tại trong cùng thời đại, vì thế chủ trương thuyết Nhất Phật. Nhưng đến thời kì Phật giáo Đại thừa thì quan niệm về thế giới được mở rộng, nên cho rằng có nhiều đức Phật ra đời trong cùng thời đại. Chẳng hạn như phương Đông có Phật A súc, phương Tây có Phật A di đà và trong những thế giới ở các phương khác còn có vô số chư Phật đồng thời tồn tại mà trong kinh thường nói Thập phương hằng sa chư Phật (Chư Phật trong 10 phương nhiều như số cát của sông Hằng). Vì thế nên Đại thừa chủ trương thuyết Đa Phật. Đại chúng bộ trong Tiểu thừa thì cho rằng trong 3 nghìn thế giới đại thiên đồng thời có chư Phật tồn tại, cho nên bộ này chủ trương thuyết Một thế giới một Phật, nhiều thế giới nhiều Phật. Còn Hữu bộ thì chủ trương thuyết Nhiều thế giới một Phật, tức là trong 3 nghìn thế giới đại thiên chỉ có 1 đức Phật xuất hiện. Ngoài ra, Chư Phật ba đời là chỉ cho 1.000 vị Phật trong kiếp Trang nghiêm ở đời quá khứ, 1.000 vị Phật trong kiếp Hiền ở đời hiện tại và 1.000 vị Phật trong kiếp Tinh tú ở đời vị lai.

Cộng chung 3 kiếp là 3.000 vị Phật. Danh hiệu của các đức Phật này được ghi trong kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh. Phật danh hội là chỉ cho pháp hội căn cứ theo kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh mà được tổ chức. [X. kinh Tạp a hàm Q.12, 20; kinh Hoa nghiêm Q.42 (bản dịch mới); kinh Thiên Phật nhân duyên; phẩm Thán cổ trong kinh Hiền kiếp Q.8; phẩm Xảo tiện hành trong kinh Đại bát nhã Q.365; kinh Thủ lăng nghiêm tam muội Q.thượng; luận Du già sư địa Q.82; luận Đại trí độ Q.9, 29]. (xt. Như Lai, Phật Độ, Phật Thân).
tiểu thừa
(小乘) Phạm: Hìna-yàna. Cũng gọi Thanh văn thừa. Đối lại: Đại thừa, Bồ tát thừa. Tiểu thừa nghĩa là cổ xe nhỏ hẹp, ví dụ giáo pháp cạn hẹp chỉ có thể đưa những căn cơ thấp kém đạt đến tiểu quả, tức giáo, lí, hành, quả sở tu và căn cơ năng tu đều nông cạn, yếu kém. Danh từ Tiểu thừa vốn là lời chê bai mà tín đồ Phật giáo Đại thừa dùng để gọi Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái, về sau, giới học thuật dùng theo chứ hoàn toàn không có ý khen chê. Giáo nghĩa Tiểu thừa chủ yếu lấy việc cầu giải thoát cho chính mình làm mục tiêu, cho nên thuộc về đạo Thanh văn, Duyên giác tự độ (tức diệt trừ phiền não, chứng quả, khai ngộ), khác với đạo Bồ tát Đại thừa kiêm cả 2 việc lợi mình, lợi người. Trong các kinh luận Đại thừa có sự so sánh giữa Tiểu thừa và Đại thừa như sau: 1. Theo luận Đại trí độ quyển 4 và 18 thì Thanh văn thừa nhỏ hẹp, Phật thừa rộng lớn; Thanh văn thừa chỉ làm lợi cho mình, Phật thừa mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh; Thanh văn thừa chỉ nói chúng sinh không, Phật thừa thì nói cả chúng sinh không và pháp không; Tứ thiện căn vị: Noãn, Đính, Nhẫn, Pháp là sơ môn của Tiểu thừa; Bồ tát pháp nhẫn là sơ môn của Đại thừa; trong pháp Thanh văn không bàn về tâm đại từ bi, trong pháp Đại thừa thì thường xem trọng tâm đại từ bi; trong pháp Thanh văn không có tâm muốn biết rộng các pháp, trong pháp Đại thừa muốn biết tất cả pháp; công đức của pháp Thanh văn có hạn lượng, công đức của pháp Bồ tát thì không có hạn lượng. 2. Theo luận Nhập đại thừa quyển thượng, tu học Thanh văn chỉ đoạn kết chướng, quán hành vô thường, nghe pháp từ người; Bồ tát thì đoạn trừ tất cả tập khí nhỏ nhiệm, cho đến quán tất cả pháp không, chẳng nghe pháp từ người, được trí tự nhiên và trí vô sư. Sự giải thoát của Thanh văn gọi là Ái tận giải thoát, chứ không phải Nhất thiết giải thoát, chỉ là tạm lập ra để độ những chúng sinh độn căn tiểu trí; còn giải thoát của Đại thừa thì đoạn tận gốc tất cả tập khí phiền não, được lập ra để độ Bồ tát lợi căn. 3. Phẩm Thành tông trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận thì nêu ra 5 điểm khác nhau giữa Thanh văn thừa và Đại thừa như sau: Phát tâm khác, giáo thụ khác, phương tiện khác, trụ trì khác và nhân duyên khác. Trên đây là những điểm khác nhau giữa Đại thừa và Tiểu thừa được nói trong các kinh luận Đại thừa. Giáo pháp Tiểu thừa được nói trong các kinh A hàm, các luật Tứ phần, Ngũ phần, các luậnPhát trí, luận Bà sa..., cho nên luận Đại trí độ gọi Tiểu thừa là Tam tạng giáo. Trong đó tuy phân chia ra 20 bộ phái như Thượng tọa bộ, Đại chúng bộ khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là thuyết Ngã không pháp hữu, quán lí Tứ đế, chứng quả A la hán, để được vào Niết bàn vô dư. Ở Trung quốc, thuyết Phán giáo rất thịnh hành và các nhà Phán giáo đều chủ trương Tiểu thừa là sơ môn của Phật giáo. Như ngài Cưu ma la thập cho rằng Tiểu thừa chỉ nói Chúng sinh không; các ngài Tuệ quán và Cấp pháp sư chủ trương Tiểu thừa chỉ nói pháp Kiến hữu đắc đạo, cho nên xếp vào Hữu tướng giáo trong Ngũ giáo; ngài Bảo lượng thì phối hợp Tiểu thừa với Nhũ vị trong 5 vị của Niết bàn; ngài Bồ đề lưu chi lập Bán giáo, Mãn giáo và xếp Tiểu thừa vào Bán tự giáo... Ngoài ra còn nhiều thuyết khác, nhưng nói chung thì các nhà đều đồng nhất ở quan điểm cho rằng Tiểu thừa là giáo pháp phương tiện quyền biến, tạm thời được lập ra để độ hàng Thanh văn và xem như là ngưỡng cửa đầu tiên để bước vào tòa nhà Phật giáo. Tuy nhiên, các học giả nghiên cứu Phật giáo thời cận đại thì gọi Tiểu thừa là Nguyên thủy Phật giáo hoặc Căn bản Phật giáo, trong đó chứa đựng nhiều giáo thuyết được trực tiếp khẩu truyền từ đức Thích tôn, còn Đại thừa Phật giáo sau này là giáo thuyết được phát triển rộng ra từ giáo thuyết khẩu truyền ấy. Trong các nước ở Á đông hiện nay thì Tíchlan, Miếnđiện, Tháilan... chuyên truyền bá Phật giáo Tiểu thừa; còn Nepal, Tâytạng, Môngcổ, Trung quốc, Việtnam, Nhậtbản... thì chủ yếu là truyền bá Phật giáo Đại thừa nhưng cũng học tập và nghiên cứu cả Tiểu thừa. [X. luận Phân biệt công đức Q.1; phẩm Vô thượng thừa trong luận Trung biên phân biệt Q. hạ; luận Phật tính Q.1; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.8; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q. thượng; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Đại Thừa, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).

Nhìn Thấu Là Trí Huệ Chân Thật
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Phương Pháp Tu Hành
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Nhìn Thấu Buông Xuống
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Pháp Môn Nhị Lực
Hòa Thượng Thích Tịnh Không