Pháp Luận

Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận
Bác sĩ Kimura Taiken là một học giả Nhật Bản chuyên khảo cứu về triết học Ấn Độ và đã được giới học giả Nhật coi như một triết gia Ẩn. Ông rất giỏi Phạn Ngữ (Sanscrit) và tinh thông các kinh điển Vệ-đà (Rig-Vedas) và U-ba-ni-sat (Upanishads). Ông đã xuất bản lần đầu tiên cuốn “Lịch Sử Tôn Giáo Và Triết Học Ấn Độ” và tác phẩm này đã làm ông nổi tiếng. Sau đó ông lần lượt hoàn thành các tác phẩm: “Sáu Phái Triết học Ấn Độ”, “Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận”, “Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận”, và “A Tỳ Đạt Ma Luận”  Xem: 88 

Kinh Sách Liên Quan
Đại Thừa Ngũ Uẩn Luận , Hòa Thượng Thích Như Điển
Đại Thừa Khởi Tín Luận , Cư Sĩ Chân Hiền Tâm
Luận Khởi Tín Đại Thừa , Hòa Thượng Thích Giác Qủa

Tinh Thần Tuệ Giác Văn Thù
Trong phạm trù của Phật pháp, giáo nghĩa liên hệ đến điểm cơ bản của giáo Pháp là Niết bàn. Vì thế, sự thấu hiểu về đạo Phật cần thiết sự thông suốt về giáo lý của sự chấm dứt tức là Niết bàn hay giải thoát. Nếu sự thực hành của chúng ta biến thành một loại lương dược giải trừ vọng tưởng hay phiền não của tâm, thế thì những sự thực hành đấy là Giáo Pháp (dharma). Nếu những sự thực hành không trở thành thuốc chữa bệnh phiền não vọng tưởng của chúng ta, thế thì chúng không phải là Giáo Pháp.  Xem: 56 

Kinh Sách Liên Quan
Kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật , Hòa Thượng Thích Minh Lễ

Lá Thư Tịnh Độ
Trong các hành môn của đức Phật đã chỉ dạy, môn nào cũng có pháp nghi riêng biệt, từ cách thờ cúng, lễ bái, trì tụng, sám hối, phát nguyện v.v... Như Mật Tông lại còn sự lập đàn, kiết ấn nữa. Riêng về tông Tịnh Độ, tôi thấy có nhiều người không biết nghi thức hành trì cho đúng pháp. Lại có những vị không hiểu nghĩa chữ Hán, thành ra khi trì tụng chỉ đọc suông theo thông lệ, khó phát lòng thành khẩn, không thể chuyển hướng tâm niệm của mình y như lời văn. Nghĩ vì dòng đời cứ mãi trôi qua, người sau càng ngày lại càng ít am hiểu văn từ Hán Việt, nên theo lời yêu cầu của một số đông, tôi soạn dịch nghi thức tu Tịnh Độ ra Việt văn để giúp bạn đồng tu.  Xem: 5 

Kinh Sách Liên Quan
Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Ấn Quang Đại Sư Khai Thị Tại Pháp Hội Hộ Quốc Tức Tai Ở Thượng Hải , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (Tăng Quảng Chánh Biên) , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Ấn Quang Đại Sư Văn Sao Tinh Hoa Lục , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Bảo Thân Tiết Dục Pháp Ngữ , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Quy Sơn Cảnh Sách , Cư Sĩ Nguyễn Minh Tiến
Cao Tăng Dị Truyện , Cư Sĩ Hạnh Cơ

Bát Thức Quy Củ Tụng Trang Chú
Bát thức qui củ tụng Trang chú được cho là của ngài Huyền Trang hay đệ tử của ngài biên tập, là một trong những tác phẩm thường được xem là phổ thông nhất về Duy thức học. Duy thức trong Bát thức qui củ tụng mang nặng tánh chất luận lý học. Các bài tụng cô đọng những nhận thức của ngài Huyền Trang về Duy thức, mà trong đó chú trọng đến hình thái và đối tượng của nhận thức, ngang qua sự khởi điểm từ phạm trù tam tánh, tam lượng và tam cảnh.  Xem: 7 


Luận Về Bốn Chân Lý
Thánh Đế có bốn. Đây là lời trong kinh và do nhơn gì duyên gì mà Đức Thế Tôn Như Lai nói kinh này? Vì sao Thánh Đế lại chỉ có bốn mà không hơn không kém? Sao nghĩa là Thánh và sao gọi là Đế? Hay lấy chữ Thánh để tạo ra chữ Đế chăng? Trước đó cả hai chẳng có tên là Thánh Đế, nếu nói Thánh nghĩa là Đế thì việc nầy chẳng phải. Lại có kinh nói rằng: Đế (chơn lý) chỉ có một chứ không bao giờ có hai. Sao lại có bốn nghĩa mà chẳng bị sai trái?  Xem: 4 


Thành Thật Luận
Hỏi : Tôi biết nay ông sẽ giảng thuyết Luận Thành Thật. Ông nói : Trước lễ đấng đáng lễ. Đó có phải là Phật không ? Vì sao gọi là Phật ? Thành tựu công đức gì mà đáng lễ ? Đáp : Phật là người tự nhiên, dùng Nhất thiết chủng trí biết tất cả tự tướng sai khác của các pháp, lìa tất cả bất thiện, tập họp tất cả thiện, thường cầu lợi ích cho tất cả chúng sinh, nên gọi là Phật. Những điều nói ra để giáo hoá, gọi là Pháp. Người thực hành pháp ấy, gọi là Tăng. Như vậy Tam Bảo là nhân duyên đáng lễ.  Xem: 4 

Kinh Sách Liên Quan
Luận Đại Trượng Phu , Hòa Thượng Thích Trí Quang
Bồ Đề Chánh Đạo Bồ Tát Giới Luận , Hòa Thượng Thích Tịnh Nghiêm
Phát Bồ Đề Tâm Luận , Cư Sĩ Quảng Minh

Đại Thừa Khởi Tín Luận
Phần NHÂN DUYÊN, là nêu bày nguyên nhân khiến Tổ làm ra bộ luận. Pháp thế gian là pháp duyên khởi, nên pháp không tự xuất hiện mà phải có nguyên do pháp mới xuất hiện. Nguyên do ấy gọi là NHÂN DUYÊN. Nêu bày Nhân Duyên cũng có nghĩa là nêu bày luôn ĐỐI TƯỢNG tu hành mà bộ luận nhắm đến. Ngoài những đối tượng ấy thì bộ luận không có giá trị và tác dụng. Đây là lý do vì sao toàn bộ kinh luận đều có phần Duyên Khởi. Thấy pháp của Phật đối nghịch, lộn xộn hay Tam thừa không nhất quán cũng vì không nắm được mặt duyên khởi này.  Xem: 91 

Kinh Sách Liên Quan
Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận , Hòa Thượng Thích Như Điển
Đại Thừa Ngũ Uẩn Luận , Hòa Thượng Thích Như Điển
Phát Bồ Đề Tâm Luận , Cư Sĩ Quảng Minh

Luận Khởi Tín Đại Thừa
Luận Khởi Tín Đại Thừa do Bồ-tát Mã Minh sáng tác vào đầu thế kỷ thứ II Tây lịch. Trước luận Khởi Tín đã hiện hữu chủ thuyết Nghiệp cảm Duyên khởi do các Luận sư A-tỳ-đàm đề xướng, nhưng chủ thuyết này chưa giải thích được nguồn gốc của Nghiệp phát xuất từ đâu. Sau đó nghi vấn này đã được chủ thuyết A-lại-da Duyên khởi giải quyết. Dù vậy, giáo nghĩa Duy thức vẫn chưa giải đáp toàn triệt những nghi vấn giữa Mê và Ngộ, giữa Tướng và Tánh, giữa Chúng sinh và Phật, đây là động cơ để luận Khởi Tín ra đời. Vậy chủ thuyết luận Khởi Tín là gì? Thuyết minh gì?  Xem: 114 

Kinh Sách Liên Quan
Đại Thừa Khởi Tín Luận , Cư Sĩ Chân Hiền Tâm

Công Đức Phóng Sanh
Kinh Phạm Võng dạy rằng “Người Phật tử nếu lấy tâm từ mà làm việc phóng sinh thì thấy tất cả người nam đều là cha mình, tất cả người nữ đều là mẹ mình. Vì mình trải qua nhiều đời đều do đó mà sinh ra, nên chúng sinh trong sáu đường đều là cha mẹ của mình. Nếu giết hại sinh mạng để ăn thịt tức là tự giết cha mẹ mình, cũng là giết thân cũ của mình. Tất cả đất, nước là thân trước của mình. Tất cả gió lửa là bản thể của mình. Cho nên, thường thực hành phóng sinh thì đời đời sinh ra thường gặp Chánh pháp. Khuyên dạy người làm việc phóng sinh, nếu thấy người đời giết hại súc vật, nên tìm phương tiện để giải cứu, khiến cho chúng được thoát khổ nạn.”[1]  Xem: 125 


Quy Sơn Cảnh Sách
Do nghiệp lực trói buộc mà có thân này, không khỏi bao điều khổ lụy. Thân thể từ cha mẹ sanh ra, vốn thật chỉ là giả hợp các duyên. Dù là nương nơi bốn đại mà tồn tạ, nhưng bốn đại ấy chẳng lúc nào là không xung khắc. Chuyện vô thường già chết không hề hẹn trước. Sớm còn tối mất, thoắt chốc đã sang đời khác; như sương như móc, thoạt có thoạt không; như cây ven bờ vực, như dây leo vách giếng, có chi bền chắc?  Xem: 89 


123