Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Trich-Dan-Bao-Vuong-Tam-Muoi-Niem-Phat-Truc-Chi-Cua-Tu-Minh-Dieu-Hiep-Dai-Su-Thoi-Minh

Trích Dẫn Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ Của Tứ Minh Diệu Hiệp Đại Sư Thời Minh
Mao Lăng Vân | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Niệm Phật thì nên ngay vào lúc công danh, phú quý đắc chí, hãy một dao cắt đứt lìa, mạnh mẽ phát đại tâm, tận lực hành đạo này. Ðối với những thứ sở hữu trong đời: Vợ con, của báu, đầu, mắt, tủy, não, thậm chí thân mạng, chẳng tự keo tiếc, quyết chí cầu sanh. Há có nên đợi mãi đến lúc hối tiếc, rủi ro, bất đắc dĩ mới toan dùng cái tâm cẩu thả để tu ư? Thật đáng thương quá!

Nếu có thể nhân lúc tham tiếc đó, buông bỏ ngay, phát sanh kiến giải tìm đến chốn của báu Ðại Thừa, lập thành tâm quyết định Bất Thoái Chuyển, như chiếc thuyền đã xuôi giòng, thuận gió, lại thêm chèo chống thì há chẳng mau đến đích, may mắn chi bằng? Buông bỏ chỉ là buông bỏ nghiệp duyên thế gian, há phải là buông bỏ tâm tinh tấn hiểu đạo ư?

* Hãy nên quán sát đúng đắn hai cõi khổ - vui, tịnh - uế. Ðối với hai cảnh đó, sanh hai tâm: Một là tâm nhàm chán, hai là tâm vui ưa. Do nhàm chán cõi Sa Bà này, nên có thể tùy thuận Chiết Môn của đức Thích Ca đã dạy; sanh tâm vui ưa, nên có thể tùy thuận Nhiếp Môn đức Di Ðà đã chỉ. Ðối với hai môn đó, tinh tấn tu tập ngày đêm chẳng nghỉ, tùy thuận lời Phật dạy.

Đối với các cảnh sắc thanh cõi này, tưởng là địa ngục, tưởng là biển khổ, nhà cháy. Ðối với các vật báu, tưởng là đồ gây khổ. Tưởng thức ăn, y phục như máu, mủ, da sắt. Ðối với quyến thuộc tưởng là quỷ Dạ Xoa, La Sát nuốt người. Cõi này lại sanh tử chẳng trụ, bôn ba, phiêu bạt nhiều kiếp dài lâu, thật đáng chán lìa!

Từ nơi tri thức, kinh sách, nghe đến nguyện lực, cõi nước trang nghiêm của đức Phật kia; trong mỗi niệm, nhắc nhở nghĩa lý ấy, sanh ý tưởng an ổn, tưởng là chốn có của báu, là gia nghiệp, là nơi giải thoát. Tưởng Di Ðà Như Lai, Bồ Tát, thánh chúng như cha mẹ nhân từ, tưởng như cầu, thuyền tiếp dẫn. Tưởng trong khi sợ hãi, nạn gấp, hễ xưng danh, [Phật, Bồ Tát] liền ứng hiện, mau đến cứu giúp; tưởng hễ nghĩ đến liền xuất ly. Công đức vô lượng như thế thật đáng vui ưa.

Nếu nhàm lìa chẳng sâu thì nghiệp hệ Sa Bà chẳng thoát; vui ưa chẳng tha thiết thì thắng cảnh Cực Lạc khó đạt. Muốn sanh về Tịnh Ðộ, thành tựu Niệm Phật tam-muội, hãy thực hiện đầy đủ hai môn này để làm bước ban đầu phát khởi công hạnh vậy. Nếu có thể chán, ưa quyết liệt, viên tu Quán Huệ, thì không những đã vãng sanh, mà còn được Thượng Phẩm nữa!

* Nếu là người xuất gia muốn tu Niệm Phật tam-muội, muốn được thanh tịnh ba nghiệp, cởi mở oan kết để sanh về Tịnh Ðộ, lẽ nào chẳng dứt được việc giết hại để ăn uống đến nỗi lúc lâm chung tự bị chướng ngại? Kinh có dạy đầy đủ các giới, đầu tiên là dạy đoạn sát thì mới vẹn toàn các giới được. Tu tam-muội ắt phải các giới thanh tịnh thì mới có thể thành được. Dẫu cho túc nghiệp sâu dầy, chẳng thể đoạn ngay, thì cũng nên lập các phương tiện để dứt bỏ. Giới đức tuy đủ, nhưng nếu chẳng giữ cho thân tâm lặng định, dứt các kỹ năng, tạp thuật thế gian, cho đến nếu như chẳng trừ sạch hết thảy ý niệm phân biệt dù thiện hay ác, làm sao có thể nhất tâm tu tam-muội này cho được? Tam-muội bất nhất, vãng sanh bằng cách nào đây?

Tinh tấn là chẳng bị bát phong thế gian[3] làm lui sụt. Lại chẳng bị kiến giải khác lạ trong thân và tâm, hết thảy bệnh duyên lớn nhỏ khiến cho hạnh lười nhác. Nếu do túc nghiệp sai sử khiến cho hạnh khiếm khuyết, hãy nên nhất tâm tụng Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Ðắc Sanh Tịnh Ðộ Ðà Ra Ni. Trì một biến trừ được tất cả hết thảy các tội Ngũ Nghịch, Thập Ác… nơi thân. Trì mười vạn biến, liền được chẳng quên mất Bồ Ðề tâm. Trì hai mươi vạn biến, khiến cho mầm Bồ Ðề nảy sanh. Trì ba mươi vạn biến thì A Di Ðà Phật thường trụ trên đảnh, quyết sanh Tịnh Ðộ.

* Sao gọi là Chánh Hạnh? Hạnh là phải khiến cho thân tâm thanh tịnh. Vào đạo tràng, trước hết phải quán ta cùng hết thảy chúng sanh tột cùng cõi hư không thường ở trong biển lớn sanh tử, không chỗ quay về, không ai cứu vớt, nếu chẳng làm cho họ đều được giải thoát hết thì gọi là Chánh Hạnh sao được? Vì thế, coi oán lẫn thân bình đẳng, khởi tâm đại bi như hư không che chở khắp cả.

Tiếp đó, xét kỹ chánh hạnh niệm Phật của các vị tiên hiền, chọn lấy chốn tịch tịch, tự nhiên, chọn cuộc đất từ trước chưa từng bị nhiễm uế. Ðối với phí tổn thì trước hết phải dốc sạch hết những gì ta có rồi mới có thể xin người khác [giúp cho]. Ðúng như pháp kiến lập đạo tràng sao cho cực nghiêm tịnh. Ðem hết thảy tất cả thiện căn từ vô thỉ hồi hướng cho khắp tất cả chúng sanh vãng sanh Tịnh Ðộ, trang nghiêm hạnh nguyện. Ngay khi đó, ba tâm (thâm tâm, chí thành tâm, hồi hướng tâm) phát khởi trọn vẹn. Năm vóc gieo xuống đất, quán tướng hảo của Phật, hồ quỳ, chắp tay, vận tâm duyên khắp hết thảy chúng sanh và thân mình: “Từ xưa đến nay trôi nổi chẳng ngừng, thật đáng đau đớn!” Buồn bã khóc lóc cầu Phật rủ lòng Từ, mổ bụng, rửa ruột, phát lộ tội lỗi. Ngày đêm sáu thời định kỳ luyện hạnh.

Nếu vì chướng sâu chưa cảm ứng được thì lấy đến lúc chết làm kỳ hạn, trong suốt khoảng thời gian ấy chẳng có sát-na nào nghĩ đến ngũ dục thế gian. Nhất tâm như thế, ắt được vãng sanh. Nếu căn cơ chẳng xứng, hạnh thù thắng khó vẹn toàn, cũng nên ở nơi tịnh thất, sao cho trong ngoài sạch làu, tùy ý lập hạnh, lễ Phật, sám hối. Hoạch định mỗi ngày [thời khóa] mấy lượt, tinh tấn nhất tâm, thề chẳng hối hận giữa chừng: Hoặc chuyên tụng kinh, hoặc chuyên trì chú, hoặc chỉ chấp trì danh hiệu, một dạ cầu vãng sanh. Nếu được thấy tướng hảo bèn biết là tội diệt, duyên sâu, cũng sẽ sanh về cõi ấy.

Lại có người chưa thể đoạn sạch duyên đời thì cũng nên tu điều lành thế gian, tin tưởng cõi Cực Lạc chắc chắn chẳng nghi, niệm niệm luyến mộ chẳng quên. Ðối với những hạnh môn đã nói ở trên, tùy ý tu tập trong bốn oai nghi, lấy đó làm chỗ quy hướng. Tiếp xúc cảnh, liền thấu hiểu uyên nguyên của nó, gặp việc tận lực dùng phương tiện thì lúc lâm chung cũng sẽ được sanh về cõi kia.

Tuy các hạnh có tỏ tường hay đại lược, nhưng pháp lực của chúng vốn đồng; nhưng do có cái tâm hoãn đãi hay mau chóng, nên Phật cũng sẽ ứng hiện chậm hay mau.

* Nếu đang ở nơi đất khách, hoặc không ở cố định một nơi thì chẳng cần phải trang nghiêm đạo tràng, chỉ một bề thanh tịnh thân tâm. Tùy sức mặc áo sạch đẹp nhất, hương đèn dù có hay không cũng chẳng sao, đừng cố chấp! Nếu là chỗ có tượng hay đem tượng theo bên mình, hãy nên miệng tụng, thân lễ, đối trước tượng mà tu. Nếu không có tượng Phật thì hoặc là đối trước quyển kinh, hoặc chỉ hướng về Tây lễ vọng; hoặc chỉ trừ hướng Ðông ra, lễ về phương nào cũng được.

Nếu đang đi đường hay ngồi thuyền và hết thảy các việc làm lụng để nuôi thân bất đắc dĩ chẳng thể bỏ được thì cùng làm thế sự lẫn Phật sự. Tiếng tụng niệm tùy theo người chung quanh và hoàn cảnh để cân nhắc, hãy nên nửa niệm ra tiếng, nửa niệm thầm, niệm thật khẽ tiếng để người hai bên chẳng nghe thấy. Chớ nên nói nhiều với người khác. Những lúc khác thì phải nên ngồi một mình, đi một mình, xa lìa chỗ ồn tạp và xúm xít tán nhảm, giỡn cười, ca vịnh khiến hành nhân quên mất những chuyện chánh niệm.

Ðêm đến, người yên, cảnh lặng, chính là lúc nên dụng công. Ðã coi sanh tử là việc lớn, há có nên mặc tình ngủ nghỉ? Dù gặp lúc lạnh buốt hay nóng gắt, cũng chớ nên cởi áo. Pháp phục, xâu chuỗi nên để ở gần bên. Khăn tay, nước sạch chẳng để xa chỗ mình ngồi. Tất cả những thứ cần đến đều nên sắp sẵn. Lại nên quán sát tín căn của người khác là sâu hay cạn, chẳng làm phiền người khác, chẳng làm cho người khác chán ngán. Ðối với những điều ấy đã không trở ngại rồi thì hãy khẽ lên tiếng niệm khiến cho thiên thần hoan hỷ giáng xuống hộ trì; quỷ thần, súc sanh nghe tiếng được giải thoát. Công đức ấy rất sâu!

Ðối với người lòng tin nông cạn, chớ nên khăng khăng khuyên tu. Ðối với người tin sâu, lại chớ nên chẳng ngầm chỉ bảo khiến cho họ quyết tâm. Chẳng nên quy công về mình; như mùa Xuân tăng trưởng vạn vật, nhưng chẳng thấy mình có công. Ở chỗ tạm bợ mà tiến tu thì gọi là tu hành trong nghịch cảnh, công còn lớn hơn nữa.

* Nếu như trong lúc niệm Phật, tuy vận dụng cả thân lẫn miệng, mà tâm niệm rối bời chẳng thể tự khống chế thì nên dụng tâm như thế nào để khỏi bị tán loạn?

Ðáp: Nên vận dụng thân khẩu mà niệm, chẳng cần quan tâm đến tán loạn, cứ chẳng gián đoạn, tự có thể một lòng mà niệm thì cũng gọi là Nhất Tâm. Chỉ lấy việc thực hành chẳng ngơi làm chừng, cố nhiên bất tất phải lo đến tán loạn! [Nghĩ đến Phật hiệu] như mẹ chôn con yêu, như rồng bị mất mạng châu[4] thì chẳng mong nhất tâm mà tâm tự nhất, cần gì phải chế ngự tâm cho nó quy nhất? Tâm này vốn chẳng thể chế ngự, thật sự chỉ là do hành nhân siêng hay lười mà thôi!

Nếu như có tu tập mà vô hiệu, là do tín căn cạn mỏng, cái nhân chẳng thật, chưa từng lập hạnh, chưa gì đã muốn được người khác biết, trong tâm kiêu căng, bên ngoài thích phô trương để người khác cung kính, cúng dường, hòng được của cải. Thậm chí nói bịa thấy được tịnh cảnh, hoặc thấy tiểu cảnh và tướng lành trong mộng; chưa biết đúng sai mà đã toan giảng trước. Những gã hèn kém như vậy ắt bị bè bạn ma mê hoặc, nguyện hạnh thoái thất, lại đọa trong nẻo khổ sanh tử, chẳng nên dè dặt sao?

Dẫu có nghi thức trì tụng, sám nguyện trong đạo tràng cũng chẳng nên để người khác biết; nếu phải trình bày ra thì chỉ là chuyện bất đắc dĩ, há nên phô phang hình tích, khiến cho quán hạnh bị bại hoại ư! Hãy nên tự xét kỹ điều ấy, kín đáo, chân thật ngấm ngầm tự hành, ôm lòng hổ thẹn, chẳng phô đức mình, tận cho đến lúc về nhà (vãng sanh) chẳng bị hai thứ ma mạnh bạo hay mềm mại làm lầm lạc!

Trong lúc tu tập, lúc túc chướng sắp diệt, sẽ thấy vài tướng hảo nho nhỏ, nếu chẳng biết tích đức, khoe cho người khác biết thì hạnh ấy lại bị vùi lấp. Bởi thế, ngài Huệ Viễn ba lần thấy thánh tượng nhưng lúc bình thời chẳng hề nói, chỉ trừ lúc lâm chung mới thố lộ mà thôi!

* Niệm Phật tam-muội tuy mang tên là Nhất Hạnh, nhưng cũng nên lấy hết thảy vô lượng pháp môn thế gian, xuất thế gian, các hạnh công đức để làm trợ đạo thì chánh hạnh vãng sanh sẽ mau [thành tựu]. Vì vậy, hết thảy các hạnh đều do vì Tịnh Ðộ mà tu, [đem công đức ấy] hồi hướng Cực Lạc sẽ đều được vãng sanh.

Hơn nữa, tam-muội này thể tánh tuy viên, nhưng kiến giải nên rộng lớn, về hạnh nên thực hành trọn hết các điều khoản vi tế, vứt bỏ các điều bỉ ổi, tệ hại; thậm chí đối với tội nhỏ cũng đem lòng sợ hãi lớn lao. Lại nên có kiến giải Ðại Thừa, nhưng hạnh giống như người học Tiểu Thừa. Kinh dạy: “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập Thiện Nghiệp, thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi, phát Bồ Ðề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Ðại Thừa, khuyến khích hành giả”. Mỗi một câu trên đây là một pháp hạnh.

Lại nên hộ trì cái tâm của người khác, chớ khiến cho họ khoe khoang, ganh ghét, hãy nên thân cận bạn lành, thưa hỏi bậc tiên giác, chẳng chấp vào sự hiểu biết của mình, chẳng cậy sở trường của chính mình. Giữ chí nhẫn nhục, hành theo đúng kinh, lắng nghe chánh pháp, chẳng hủy báng Tăng, Ni; dứt bỏ các sự lành tạp nhạp thế gian, chẳng tham danh lợi, xa lìa tà ác. Xử sự phải trung tín, quy điều lỗi về mình, hết sức thận trọng tránh nói thêu dệt, nhất tâm bất loạn, xem người khác như Phật, buông bỏ tài khéo, chỉ cầu vãng sanh, thân ắt thanh tịnh. Vô lượng thiện hạnh như thế đều phải nên tu tập để phụ trợ chánh đạo.

Nếu lại có thể cắt bỏ tâm nhiễm thế gian, đối với hai cảnh yêu và ghét không còn bị vướng vít, lặng tâm như nhất, ắt sẽ sanh về Tịnh Ðộ.

* Vừa muốn hiểu thấu đáo Ðạo thì ma cảnh đã hiện trước, tâm thiếu cẩn trọng đối với một chuyện thì vạn thiện đều mất. Vì thế, căn cứ vào kinh, lập ra mười hạnh gây trở ngại lớn, đặt tên là Thập Bất Cầu Hạnh:

1. Một là nghĩ đến thân, chẳng cầu không bệnh. Không bệnh thì tham dục sanh, ắt phá giới, thoái đạo. Biết tánh của bệnh là Không, bệnh chẳng não hại được. Vì thế, lấy bệnh làm thuốc hay.

2. Hai là ở đời chẳng cầu không nạn. Ðời không nạn thì kiêu ngạo, xa xỉ nổi dậy, ắt muốn chèn ép hết thảy. Hiểu nạn vốn là vọng thì nạn cũng chẳng làm gì được. Vì thế, hoạn nạn là giải thoát.

3. Ba là cứu xét tâm, đừng cầu không chướng. Tâm không chướng thì học qua loa, chưa đắc mà nói đã đắc. Hiểu chướng chẳng có cội rễ thì chướng tự lặng. Vì thế, dùng chướng ngại để tiêu dao.

4. Bốn là lập hạnh chẳng cầu không có ma sự. Hạnh không có ma sự thì nguyện chẳng kiên cố, ắt sẽ chưa chứng mà nói là đã chứng. Thấu hiểu ma là giả có, ma nhiễu sao nổi! Vì thế, lấy quần ma làm pháp lữ.

5. Năm là mưu sự chẳng cầu dễ thành. Sự dễ thành thì chí khinh mạn, ắt sẽ xưng ta có tài. Hiểu rõ việc được thành tựu vốn tùy thuộc nghiệp, chứ chẳng phải do tài năng. Vì thế, lấy sự khó làm điều an vui.

6. Sáu là giao tình chẳng cầu ta được lợi. Mong lợi mình sẽ thiếu đạo nghĩa, ắt sẽ thấy người khác sai trái. Xét rõ tình vốn có nhân thì tình sẽ nương theo duyên. Vì thế, lấy mối giao tình tệ bạc làm tư lương.

7. Bảy là chẳng cầu người khác thuận thảo với mình. Người ta thuận thảo thì trong lòng ta sẽ kiêu căng, ắt chấp mình là phải. Chúng ta sống trong đời, người khác chỉ đáp trả mình. Vì thế, lấy kẻ nghịch làm vườn rừng.

8. Tám là thí đức, chẳng cầu báo đáp. Làm điều công đức mà mong được báo đáp chính là có ý đồ, ắt muốn phô trương tiếng tốt. Hiểu rõ đức vô tánh, mà cũng chẳng thật. Vì thế, coi việc thí đức như bỏ đôi dép rách.

9. Chín là thấy lợi chẳng cầu được hưởng phần. Ðược hưởng phần lợi thì tâm si phát động, ắt bị tham lợi hủy hoại mình. Thấu hiểu lợi vốn là không, chẳng mong cầu lợi. Vì thế, coi lợi sơ bạc là phú quý.

10. Mười là bị chèn ép chẳng cầu kêu oan. Bị chèn ép mà kêu oan thì còn giữ lòng nhân ngã, ắt oán hận sẽ nẩy nở. Chịu đựng chèn ép, khiêm tốn, thì sự chèn ép tổn thương gì được mình? Vì thế, lấy việc bị chèn ép làm hạnh môn.

Như thế thì chịu đựng chướng ngại mà lại trở thành thông suốt, cầu thông suốt mà lại bị chướng ngại. Những chướng ngại ấy đều trở thành diệu cảnh. Bởi lẽ đó, đức Như Lai đắc Bồ Ðề đạo ngay trong chướng ngại. Dù là lũ La Sát, Ca Lợi, hay bọn Ương Quật, Ðề Bà[5] đến tạo nghịch, đức Phật đều thọ ký, giáo hóa họ trở thành Phật, há chẳng phải là lấy cái nghịch kia làm cái thuận cho mình, lấy cái hủy báng của họ làm điều thành tựu cho chính mình ư?

Huống hồ, lúc thời bạc, thế ác, nhân sự dị thường, lẽ nào người học đạo không có chướng ngại? Nếu chẳng đã ở trước trong chướng ngại thì làm sao bài trừ nó cho được, khiến cho đại bảo của Pháp Vương vì đó bị mất đi, chẳng tiếc lắm ư!

Nhận định:

Bộ luận này bị thất truyền đã lâu, Tổ Vân Thê Liên Trì mong được đọc nhưng không được đọc. May nhờ ngài Linh Phong ghép nó vào tác phẩm Niệm Phật Thập Yếu, nó mới được lưu truyền rộng rãi. Xin hãy thọ trì hai hạnh Chánh và Trợ trên đây, chớ coi thường. Lại nên dùng mười Ðại Ngại Hạnh (Bất Cầu Hạnh) trên đây để nhất nhất tự nghiệm thì quả thật, ngay trong lúc bệnh hoạn, gặp nạn, cho đến lúc bị ép uổng thì tâm niệm Phật chỉ càng tăng thêm, hiểu khổ, quán Không, chẳng oán, chẳng hiềm, không vướng mắc, không ngăn ngại, giống như đắc tam-muội, ắt được sanh về Tây.
 
Trích từ: Niệm Phật Pháp Yếu

Từ Ngữ Phật Học
sở cầu
(所求) Điều mong cầu. Đối với Tịnh độ giáo thì điều mong cầu là được sinh về Tịnh độ ở phương Tây. Trong Thập nhất nghĩa môn của phần Tán thiện nghĩa trong Quán Vô lượng thọ Phật kinh sớ, ngài Thiện đạo đờiĐường chủ trương hồi hướng các công đức mà mình tu được nguyện sinh về cõi nước của Phật A di đà. Trong mục Thượng phẩm hạ sinh thì cho rằng nơi hồi hướng công đức chính là nơi sở cầu. Trong Quán kinh tán thiện yếu nghĩa thích quán môn nghĩa sao quyển 3, ngài Chứng Không – vị tăng người Nhật bản – cho rằng sở cầu nghĩa là hân cầu, chỉ cho cõi Cực lạc y theo hạnh sở ái mà cầu.
dạ xoa
(夜叉) Phạm: yakwa, Pàli: yakkha. Một trong tám bộ chúng, thường được gọi chung với La sát (Phạm: ràkwasa). Cũng gọi Dược xoa, Duyệt xoa, Dã xoa. Hán dịch: Khinh tiệp, Dũng kiện, Năng đạm, Quí nhân, Uy đức, Từ tế quỉ, Tiệp tật quỉ. Nữ tính Dạ xoa gọi là Dạ xoa nữ (Phạm: yakwiịì, Pàli: yakkhinì). Chỉ cho loài quỉ ở trên mặt đất hoặc ở trong hư không, dùng uy thế não hại người, hoặc dùng uy thế giữ gìn chính pháp. Cứ theo kinh Đại hội trong Trường a hàm quyển 12, luận Đại tì bà sa quyển 33 và luận Thuận chính lí quyển 31 nói, thì Dạ xoa được đặt dưới quyền điều khiển của vua trời Tì sa môn, có bổn phận giữ gìn các cõi trời Đao lợi v.v... Loài quỉ này được thụ hưởng những sự vui sướng và có đầy đủ uy thế.Cứ theo luận Đại trí độ quyển 12 nói thì có 3 loại dạ xoa: 1. Địa hành dạ xoa: thường được sung sướng, thưởng thức âm nhạc, ăn uống... 2. Hư không dạ xoa: có đầy đủ đại lực, đi nhanh như gió. 3. Cung điện phi hành dạ xoa: có đầy đủ tiện nghi và mọi sự vui sướng. Chú Duy ma cật kinh cũng nêu ba loại dạ xoa: 1. Địa dạ xoa: đời quá khứ chỉ bố thí tiền của nên không bay được. 2. Hư không dạ xoa. 3. Thiên dạ xoa: nhờ đời trước bố thí xe, ngựa, nên có thể bay đi. Ngoài ra, phẩm Tì sa môn thiên vương trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 52 nói: Vua trời Tì sa môn có 16 đại lực tướng quân Dạ xoa như: Vô bệnh, Cát tường v.v... và năm mươi tướng quân Dạ xoa như: Nhân đà la, Tô ma, Bà lâu na, Y xa na, A tra bạc câu v.v... Cứ theo phẩm tựa trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 1 chép, thì Vua trời Tì sa môn có 36000 chúng Dược xoa dưới quyền, như: Am bà, Trì am, Liên hoa quang tạng, Liên hoa mục, Tần mi, Hiện đại bố, Động địa, Thôn thực v.v... Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 chép,thì trong Kim cương bộ ngoài của Thai tạng giới mạn đồ la, ở phía bắc đặt trời Tì sa môn, ở hai bên vị trời này vẽ tám đại tướng Dạ xoa: Ma ni bạt đà la, Bố rô na bạt đà la, Bán chỉ ca, Sa đa kì lí, Hê ma phạ đa, Tì sái ca, A tra phạ ca và Bán già la. Trong các kinh thường đề cập đến các thần Dạ xoa hộ trì chính pháp. Như kinh Dược sư như lai bản nguyện nói: 12 vị đại tướng Dạ xoa, như Cung tì la, Bạt chiết la v.v... thề nguyền che chở giữ gìn những người trì tụng kinh Dược sư như lai bản nguyện. Còn kinh Đà la ni tập quyển 3 thì nói: 16 vị đại tướng Dược xoa, như Đạt lí để la sát tra v.v... (tức là 16 vị thiện thần Bát nhã) thì phát nguyện hộ vệ những người tụng niệm Bát nhã ba la mật. Luận Đại tì bà sa quyển 180 nói: khi hai nước giao chiến thì Dược xoa hộ quốc ra đánh trước. Kinh Khổng tước vương chú thì nói: 197 Dạ xoa như Câu câu tôn đà v.v... ở các nước để hàng phục oán địch. Tuy nhiên, trong các kinh điển cũng còn nói đến các loài Dạ xoa làm hại chúng sanh Như kinh Đại cát nghĩa thần chú quyển 3 nói: các Dạ xoa, quỉ La sát v.v... thường biến làm hình sư tử, voi, hổ (cọp), nai, ngựa, trâu, lừa, lạc đà, dê v.v... hoặc đầu to mình nhỏ, hoặc bụng đỏ với một đầu hai mặt v.v... tay cầm dao, gươm, dáo, mác v.v... hình tướng dữ tợn, làm ai cũng sợ, người trông thấy kinh quá đến ngất xỉu, rồi Dạ xoa tiến đến hút uống tinh khí của họ. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 15 và kinh Quán Phật tam muội hải quyển 2 cũng nói đến loài Dạ xoa có thân hình đáng sợ, đó là loài quỉ hung ác thường uống máu ăn thịt và hút tinh khí của người. Tiếng Phạm của Dạ xoa là yakwa, từ gốcyakw mà ra, có các nghĩa: tôn kính, tế tự, táo bạo v.v... là loài nửa người nửa thần. Cho nên trong Chú Duy ma cật kinh quyển 1, Dạ xoa được dịch là người quí. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 23 gọi Dạ xoa là Từ tế quỉ và bảo người dân Ấn độ thường thờ cúng Dạ xoa để cầu phúc. Trong thần thoại Ấn độ, Dạ xoa là một loại thần linh nửa thần. Có thuyết nói cha của Dạ xoa là Bổ la sa để da, hoặc Ca diếp ba, hoặc Bổ la ha (Phạm: pulaha); hoặc có thuyết cho Dạ xoa là từ trong chân của Phạm thiên sinh ra. Mẹ của Dạ xoa là người theo hầu thần tài Câu tì la, hoặc theo hầu thần Tì thấp nô. Trong Mật giáo, theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, thì lực sĩ Mật tích là chúa Dạ xoa, gọi là Kim cương thủ hoặc Chấp kim cương [X. kinh Trường a hàm Q.20; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.50; kinh Khởi thế Q.6 phẩm Tứ thiên vương; luận Lập thế a tì đàm Q.1, Q.4; Đại đường tây vực ký Q.3, Ca thấp di la quốc điều]. (xt. Đa Văn Thiên).
niệm phật
(念佛) Phạm: Buddhànusmfti. Pàli:Buddhànussati. Trong tâm nhớ nghĩ về Pháp thân của Phật(lí niệm Phật), quán tưởng thân tướng cụ thể của Phật, hoặc quán tưởng công đức của Phật, cho đến miệng xưng niệm danh hiệu của Phật... đều gọi là niệm Phật, là 1 trong những phương pháp tu hành cơ bản của Phật giáo. Trong đó, niệm Phật theo lí pháp, gọi là Pháp thân niệm Phật; trong tâm nhờ nghĩ về công đức và thân tướng của Phật, gọi là Quán tưởng niệm Phật; còn miệng xưng niệm danh hiệu Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. Tiểu thừa chỉ niệm Phật Thích ca mâu ni, Đại thừa thì chủ trương trong 10 phương 3 đời có vô số Phật, cho nên danh hiệu Phật được niệm cũng rất nhiều. Nhưng thông thường thì niệm Phật A súc, Phật Dược sư,Phật Di lặc, Đại nhật Như lai, Phật A di đà v.v...Trong đó, đối tượng chính là Phật A di đà, cho nên niệm Phật A di đà được xem như niệm tất cả chư Phật. Trong các kinh A hàm, niệm Phật tức là bày tỏ lòng qui kính, lễ bái, tán thán, nhớ nghĩ đối với đức Phật Thích ca mâu ni. Nhờ công đức niệm Phật mà diệt trừ tham sân si, được sinh lên cõi trời, được chứng nhập Niết bàn. Trong các kinh Đại thừa như: Bát chu tam muội, Đại A di đà quyển hạ, phẩm Hiền thủ trong kinh Hoa nghiêm quyển 7 (bản dịch cũ)... đều có lập pháp môn Niệm Phật Tam Muội, tức buộc tâm vào danh hiệu của 1 đức Phật, quán tưởng 32 tướng hảo của Phật, cứ như thế niệm niệm nối nhau không dứt, thì có thể ở trong định thấy được Phật, cũng được sinh về cõi Phật. Tại Trung quốc, đối với việc niệm Phật, các sư nêu ra nhiều thuyết: 1. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 7, ngài Hoài cảm nêu ra 2 loại Niệm Phật tam muội là Hữu tướng niệm Phật tam muội và Vô tướng niệm Phật Tam muội, cho rằng: Nếu muốn được Vô tướng niệm Phật tam muội thì phải niệm Pháp thân Phật, còn muốn được Hữu tướng niệm Phật tam muội thì niệm Báo thân Phật và Hóa thân Phật. 2. Trong Ngũ phương tiện niệm Phật môn, ngài Trí khải nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn: Lúc hành giả niệm Phật thì phải khởi tâm muốn sinh về Tịnh độ. b) Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật phóng ra ánh sáng, ánh sáng ấy chiếu soi tất cả tội chướng, khiến đều tiêu diệt. c) Chư cảnh duy tâm niệm Phật tam muội môn: Đức Phật mà hành giả quán tưởng là từ nơi tự tâm hành giả mà ra, chứ không có cảnh giới nào khác. d) Tâm cảnh câu li niệm Phật tam muội môn: Chính cái tâm quán tưởng của hành giả cũng là không, chẳng có tự tướng. e) Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn: Hành giả tiến vào thiền định sâu xa, lặng bặt, buông bỏ tất cả tâm thức, ý thức, được chư Phật 10 phương gia bị, hộ niệm, nhờ đó, cửa trí tuệ mở ra, tự tại vô ngại, thành tựu công đức viên mãn. 3. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 56, ngài Trừng quán cũng nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Duyên cảnh niệm Phật môn: Duyên theo cảnh mà niệm Phật. b) Nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn: Thu nhiếp cảnh vào tâm... c) Tâm cảnh câu mẫn niệm Phật môn: Tâm và cảnh đều bặt... d) Tâm cảnh vô ngại niệm Phật môn: Tâm và cảnh không ngăn ngại nhau. e) Trùng trùng vô tận niệm Phật môn: Lớp này lớp khác, lớp lớp vô tận. 4. Trong Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm biệt hành sớ sao quyển 4, ngài Tông mật nêu ra 4 loại niệm Phật: a) Xưng danh niệm: Chuyên tâm xưng niệm danh hiệu của Phật. b) Quán tượng niệm: Quán niệm tượng Phật. c) Quán tưởng niệm: Quán tưởng thân tướng tốt đẹp của Phật. d) Thực tướng niệm: Quán xét tướng chân thực của mình và tất cả các pháp. 5. Trong luận Niệm Phật tam muội bảo vương, ngài Phi tích nêu ra 3 pháp niệm Phật: a) Niệm hiện tại Phật: Chuyên chú vào 1 cảnh mà viên thông 3 đời. b) Niệm quá khứ Phật: Biết Phật và chúng sinh mê ngộ khác nhau, nhưng nhân quả của Phật và chúng sinh thì giống nhau. c) Niệm vị lai Phật: Nghĩ tất cả chúng sinh đều bình đẳng, đều là Phật vị lai. Ngoài ra, Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh Viên thông sớ quyển 5 của ngài Truyền đăng và Ngẫu ích tông luận quyển 7 của ngài Trí húc, nêu ra 3 loại Niệm Phật: a) Niệm tha Phật: Niệm cảnh công đức trang nghiêm của Phật A di đà, hoặc niệm tướng hảo của Ngài, hoặc niệm pháp môn, thực tướng của Ngài. Đây là pháp môn tu hành của ngài Tuệ viễn và các sư ở Lô sơn. b) Niệm tự Phật: Quán xét cái tâm 1 niệm hiện tiền không có thể tính, lìa các lỗi lầm, đầy đủ trăm giới và mọi tính tướng, cùng với chư Phật 3 đời bình đẳng không 2, nếu quán xét rõ ràng đến được nhất tâm bất loạn, thì Tam muội liền thành, hoát nhiên phá trừ vô minh, vào cảnh minh tâm kiến tính. Đây là pháp môn tu hành của các sư thuộc Thiền tông và tông Thiên thai. c) Tự tha câu niệm: Tâm quán xét cùng với Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác; biết rõ chúng sinh là chúng sinh trong tâm của chư Phật, mà chư Phật tức là chư Phật trong tâm của chúng sinh, cả 2 cảm ứng đạo giao, tự tha không cách nhau. Đây là pháp môn tu trì của các ngài Vĩnh minh, Diên thọ và Sở thạch Phạm kì. Vãng sinh yếu tập quyển hạ, phần cuối của ngài Nguyên tín, người Nhật, thì chia pháp môn niệm Phật làm 3 loại: a) Tầm thường niệm Phật: Niệm Phật hằng ngày. b) Biệt thời niệm Phật: Niệm Phật có thời gian và nơi chốn nhất định. c) Lâm chung niệm Phật: Niệm Phật lúc hấp hối mong được Phật đến đón. Ngoài ra, nhiều người kết đoàn với nhau cùng tu pháp môn niệm Phật, gọi là Niệm Phật hội, Niệm Phật giảng, Kết xã niệm Phật. Ngôi nhà dùng làm nơi tu hành niệm Phật, gọi là Niệm Phật đường. Niệm Phật liên tục gọi là Bất đoạn niệm Phật, Thường niệm Phật; tĩnh tâm niệm Phật gọi là Định tâm niệm Phật; thời khóa niệm Phật hằng ngày gọi là Nhật khóa niệm Phật... Còn có các pháp môn niệm Phật như: Nhiếp tâm niệm Phật, Sổ tức niệm Phật, Tham cứu niệm Phật, Khán thoại niệm Phật, Thích ca niệm Phật, Quan âm niệm Phật, Dược sư niệm Phật, Di lặc niệm Phật v.v... Tóm lại, ý nghĩa đích thực của việc niệm Phật là từ nơi miệng niệm Phật tiến vào niệm Phật trong tâm, niệm niệm không quên, cũng tức niệm này là Phật, thì niệm niệm thành Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Trì trai trong Trung a hàm Q.55; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; kinh Na tiên tỉ khưu; phẩm Niệm Phật trong kinh Phật tạng Q.thượng; luận Đại trí độ Q.21; luận Nhiếp đại thừa Q.hạ; phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5; phẩm Niệm Phật Q.9; luận Phân biệt công đức Q.2; Quán niệm pháp môn; Tư duy lược yếu pháp]. (xt. Ngũ Hội Niệm Phật, Thiên Thai Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền Tông).
nghiệp
(業) Phạm: Karman. Pàli: Kamma. Hán âm: Yết ma. Nghĩa là sự tạo tác, tức chỉ cho những hoạt động của thân tâm như hành vi, hành động, tác dụng, ý chí, hoặc chỉ cho những hoạt động của thân tâm do ý chí sinh ra. Nếu kết hợp với quan hệ nhân quả thì nghiệp là năng lực được hình thành bởi những hành vi từ quá khứ kéo dài đến hiện tại và cho mãi tới vị lai. Ngoài ra, Nghiệp cũng bao hàm tư tưởng nhân quả báo ứng về hành vi thiện ác như khổ vui và tư tưởng luân hồi trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Nghiệp vốn là tư tưởng cố hữu của Ấn độ, Phật giáo dùng nó làm căn cứ để khuyên con người nỗ lực hướng tới vị lai.

Trong Phật học, hàm ý và giới thuyết của nghiệp được chia làm 3 loại: Thân nghiệp, Ngữ nghiệp, và Ý nghiệp. Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc Tiểu thừa tiến thêm bước nữa mà giải thích rằng, ý chí trong nội tâm muốn làm 1 việc gì đó gọi là ý nghiệp; còn dùng hành động và lời nói của thân thể để bày tỏ ý chí thì gọi là Thân nghiệp, Ngữ nghiệp (Khẩu nghiệp). Nghiệp cũng còn được chia làm 2 loại là Tư nghiệp và Tư dĩ nghiệp. Tư nghiệp chỉ cho những hoạt động của ý chí; Tư dĩ nghiệp chỉ cho trong Tư nghiệp đã có các hành động. Ở đây, Tư nghiệp đồng với Ý nghiệp, Tư dĩ nghiệp đồng với Thân nghiệp và Ngữ nghiệp. Về bản thể (nghiệp thể, nghiệp tính) của 3 nghiệp thì Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Ý nghiệp thuộc về tâm pháp (ý chí), còn Thân nghiệp, Ngữ nghiệp thì thuộc về sắc pháp (vật chất). Nhưng Phật giáo Đại thừa và Kinh bộ thì chủ trương tất cả các nghiệp đều thuộc về hoạt động của tâm, đây mới chính là lập trường cơ bản của Phật giáo.Thuyết nhất thiết hữu bộ còn chia Thân nghiệp và Ngữ nghiệp làm 2 loại là Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp là nghiệp biểu hiện ra bên ngoài khiến người khác thấy được, còn Vô biểu nghiệp là không hiện bày ra bên ngoài, người khác không thấy được.

Vô biểu nghiệp cũng gọi là Vô biểu sắc, bản thể của nó là 1 loại sắc pháp, khởi lên nghiệp thiện, ác rất mãnh liệt, nhưng về tính chất thì bao hàm cả Thân biểu nghiệp, Ngữ biểu nghiệp và Định. Vô biểu nghiệp được chia làm 3 loại: 1. Luật nghi: Thiện nghiệp do giới, định phát khởi. 2. Bất luật nghi: Ác nghiệp do tập quán phát khởi và có tính quyết đoán rất mạnh. 3. Phi luật nghi phi bất luật nghi: Nghiệp thiện, nghiệp ác tùy lúc mà phát khởi theo tác dụng vô biểu. Thiện vô biểu có tác dụng ngăn ngừa điều ác, ác vô biểu có tác dụng chướng ngại việc thiện, chính do đây mà tính cách hậu thiên của con người được hình thành. Thân nghiệp và Ngữ nghiệp, mỗi nghiệp đều có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, cộng với Ý nghiệp thành là 5 nghiệp. Nếu tạo ác nghiệp, thiện nghiệp thì về sau chắc chắn sẽ chiêu cảm quả báo (dị thục) khổ, vui tướng ứng. Vì có nghiệp nhân cho nên chiêu cảm nghiệp quả. Còn nghiệp vô kí chẳng thiện chẳng ác thì không có sức chiêu cảm quả báo. Về mối quan hệ giữa nghiệp nhân và nghiệp quả thì quan điểm của Thuyết nhất thiết hữu bộ như sau: Nghiệp có liên quan đến 3 đời là nghiệp hiện tại có khả năng trở thành nhân quyết định (thủ quả) dẫn đến quả báo vị lai. Mặt khác, nghiệp từ quá khứ do sức tác dụng mãnh liệt mà mang lại quả báo (dữ quả)trong hiện tại.

Ở đây, Kinh lượng bộ cho rằng nghiệp tiêu diệt trong khoảnh khắc, nhưng nó đã gieo chủng tử (hạt giống) chiêu cảm quả báo vào trong tâm thức, lại do chủng tử này dẫn sinh ra quả báo. Loại tư tưởng chủng tử này rất giống với thuyết Vô biểu nghiệp của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Có nhiều cách phân loại nghiệp, nhưng nói một cách tổng quát thì quả báo trong 1 đời người hoàn toàn do nghiệp dẫn dắt, tức Dẫn nghiệp (khiên dẫn nghiệp, tổng báo nghiệp, dẫn nhân) có sức tác dụng mạnh mẽ và có thể khiến cho người sinh vào 1 cõi nào đó như người, súc sinh hoặc các loài khác... Nếu sinh vào cõi người thì sự khác nhau về các căn, hình lượng, sắc lực trang nghiêm... của mỗi cá thể là do Mãn nghiệp (viên mãn nghiệp, biệt nghiệp) hình thành. Quả báo của Dẫn nghiệp gọi là Tổng báo, quả báo của Mãn nghiệp gọi là Biệt báo, 2 nghiệp này hợp lại gọi chung là Tổng biệt nhị báo. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng 1 Dẫn nghiệp dẫn sinh ra 1 lần, nhưng lại có rất nhiều Mãn nghiệp để hoàn thành đời sống con người, bởi thế, nhiều nghiệp dẫn sinh 1 đời hoặc 1 nghiệp dẫn sinh nhiều đời là việc tuyệt đối không thể có. Nghiệp lại có 2 loại là Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp. Cộng nghiệp chỉ cho quả báo chung, như núi sông đất đai (thế giới vật lí), vô số sinh vật v.v...

Còn Bất cộng nghiệp là quả báo riêng của mỗi sinh vật (như thân thể đẹp, xấu, giàu nghèo, sang hèn v.v...). Lại nữa, nghiệp có 3 tính chất: Thiện (nghiệp yên ổn) do tâm thiện sinh khởi, Bất thiện (nghiệp không yên ổn) do tâm ác sinh khởi; Vô kí (không thiện không ác) do tâm vô kí sinh khởi. Nghiệp ác chắc chắn sẽ bị trừng phạt, cho nên gọi là Phạt nghiệp(hoặc là phạt), 3 nghiệp thân, khẩu, ý gọi là Tam phạt. Trong 3 nghiệp thì Ý nghiệp quan trọng nhất. Nghiệp được tạo tác qua 1 quá trình suy tư chín chắn rồi mới quyết đoán thực hiện, gọi là Cố tư nghiệp, Cố tác nghiệp (cố ý làm). Ngược lại, nghiệp do lầm lỡ, không cố ý gây ra, gọi là Bất cố tư nghiệp, Bất cố tác nghiệp. Vô kí nghiệp và Bất cố tư nghiệp đều không dẫn sinh quả báo. Cố tư nghiệp được thực hiện với tinh thần tích cực, mạnh mẽ, gọi là Tăng trưởng nghiệp; còn Cố tư nghiệp được tạo tác với tâm yếu ớt, không nhiệt thành thì cùng với Bất cố tư nghiệp gọi chung là Bất tăng trưởng nghiệp. Nghiệp tăng thêm sức mạnh dần dần gọi là Tăng thượng nghiệp, Tăng trưởng nghiệp, trái lại thì gọi là Tạo tác nghiệp. Nghiệp ác do chúng sinh tạo tác ở cõi Dục thường chiêu cảm quả báo khổ khiến cho 5 thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân phải chịu, cho nên gọi là Thân thụ nghiệp.

Còn nghiệp thiện do chúng sinh tạo tác ở cõi Sắc (ngoại trừ Sơ thiền thiên) và cõi Vô sắc thường chiêu cảm quả báo vui khiến ý thức hưởng thụ, cho nên gọi là Tâm thụ nghiệp. Thân thụ nghiệp và Tâm thụ nghiệp gọi chung là Nhị thụ nghiệp. Lại nữa, nghiệp thiện mang lại hạnh phúc, nên gọi là Phúc nghiệp, còn nghiệp ác dẫn đến bất hạnh, khổ đau, nên gọi là Phi phúc nghiệp. Thiện nghiệp cũng gọi Bạch nghiệp, ác nghiệp cũng gọi là Hắc nghiệp, còn Vô kí nghiệp thì gọi là Phi hắc phi bạch nghiệp. Lại tùy theo sự chịu báo mau hay chậm mà nghiệp được chia ra 4 loại: Đời này tạo nghiệp, đời này chịu báo gọi là Thuận hiện nghiệp, Thuận hiện pháp thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp, đời sau chịu báo gọi là Thuận sinh nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp đến đời thứ 3 về sau mới chịu báo gọi là Thuận hậu nghiệp, Thuận hậu thứ thụ nghiệp. Sự chịu báo của 3 thời nghiệp nói trên có thời kì nhất định, cho nên cũng gọi là Định nghiệp. Còn nghiệp mà quả báo không xác định thời gian thì gọi là Bất định nghiệp, Thuận bất định nghiệp. Y cứ vào nội dung quả báo (định hoặc bất định) của Bất định nghiệp, lại có 2 loại khác nhau: Xác định quả báo nhưng không xác định lúc nào thì chịu báo, gọi là Dị thục định thời bất định. Quả báo và thời gian chịu báo đều không xác định, gọi là Dị thục thời câu bất định. Ba thời nghiệp và 2 nghiệp Bất định gọi chung là Ngũ nghiệp. Ba thời nghiệp, mỗi nghiệp chia ra 2 loại là Thời định dị thục định (thời gian xác định, quả báo cũng xác định) và Thời định dị thục bất định (thời gian nhất định, quả báo không nhất định), cộng chung có 6 loại, 6 loại này cộng chung với 2 nghiệp Bất định nói trên thành là 8 nghiệp. Chỗ y cứ của tác dụng nghiệp là con đường chung dẫn đến quả báo khổ, vui của loài hữu tình, gọi là Nghiệp đạo(Căn bản nghiệp đạo), có 2 loại là Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo. Vấn đề này, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ và Duy thức Đại thừa trình bày có hơi khác nhau. Nghiệp là nhân sinh ra quả báo (dị thục), vì thế cũng gọi là Nghiệp nhân, hoặc Nhân nghiệp.

Quả do nghiệp mang lại, gọi là Nghiệp quả, Nghiệp báo. Cái sức dắt dẫn nghiệp quả, gọi là Nghiệp lực. Do nghiệp mà đưa đến quả báo khổ, gọi là nghiệp khổ. Ác nghiệp và phiền não gọi chung là Nghiệp kết, Nghiệp não. Chướng ngại do nghiệp ác sinh ra, gọi là Nghiệp chướng, Nghiệp lụy. Vì nghiệp có khả năng chiêu cảm báo ứng, cho nên cũng gọi là Nghiệp cảm. Nghiệp được tạo tác ở đời quá khứ, gọi là Túc nghiệp, hoặc Tiền nghiệp. Thọ mệnh do túc nghiệp đền trả, gọi là Nghiệp thọ, Nghiệp thụ. Trọng bệnh do nhân của Túc nghiệp gây ra, gọi là Nghiệp bệnh. Những tai ách do ảnh hưởng của túc nghiệp, gọi là Nghiệp ách. Lại vì nghiệp đeo theo con người giống như bóng với hình, cho nên cũng gọi là Nghiệp ảnh. Nghiệp có năng lực trói buộc chúng sinh ở cõi mê, cho nên gọi là Nghiệp hệ, Nghiệp quyên, Nghiệp phược, Nghiệp thằng. Nghiệp giống như tấm lưới vít kín chúng sinh trong cõi mê, vì thế gọi là Nghiệp võng. Ác nghiệp giống như bụi nhơ, hay làm bẩn thân người nên gọi là Nghiệp cấu, Nghiệp trần. Cũng có chỗ ví dụ tác dụng của Nghiệp ác giống như lửa, ma, giặc, cho nên gọi là Nghiệp hỏa, Nghiệp ma (1 trong 10 loại ma), Nghiệp tặc v.v... Tấm gương, cái cân, cuốn sổ... trong địa ngục dùng để soi rọi, cân lường và ghi chép nghiệp thiện, ác của chúng sinh được gọi là Nghiệp kính, Nghiệp xứng, Nghiệp bạ... Sức của Nghiệp ác mạnh như gió, cho nên gọi là Nghiệp phong. Sức thần thông có được nhờ túc nghiệp, gọi là Nghiệp thong (Báo thông).

Nghiệp có năng lực chiêu cảm (quả báo) địa ngục Vô gián, gọi là Vô gián nghiệp. Nghiệp trói buộc hữu tình chúng sinh trong 3 cõi, gọi là Tam giới hệ nghiệp. Nghiệp chiêu cảm quả báo khiến hữu tình chúng sinh sinh vào các cõi trong vị lai, gọi là Nhuận nghiệp, Nhuận sinh nghiệp. Ngoài ra, nghiệp do mình tự tạo, mình chịu quả báo, gọi là Tự nghiệp tự đắc. Chi Hữu trong 12 nhân duyên được gọi là Nghiệp hữu. Sau hết, pháp tu niệm Phật A di đà nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ được gọi là Tịnh nghiệp. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, 37, 49; kinh Trung a hàm Q.3, 58; kinh Trường a hàm Q.11; kinh Bản sự Q.1; kinh Chính pháp niệm xứ Q.34; Duy thức luận đồng học sao Q.1; Phật pháp khái luận chương 7 (Ấn thuận); Thành Phật chi đạo Ngũ thừa cộng pháp chương (Ấn thuận); Phật học Kim thuyên (Trương trừng cơ); Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận thiên 2 chương 4 (Mộc thôn Thái hiền); Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận thiên 5 chương 5 (Mộc thôn Thái hiền)]. (xt. Nghiệp Đạo).
la sát
(羅刹) Phạm: Ràkwasa. Cũng gọi La sát sa, La xoa sa, La khất sát sa, A lạc sát sa. Hán dịch: Khả úy, Tốc tật quỉ, Hộ giả. Nữ tính thì gọi: La sát nữ, La xoa tư (Phạm: Ràkwasìcũng gọi La sát tư). Loại ác quỉ trong thần thoại Ấn độ, thấy được ghi sớm nhất trong Lê câu phệ đà. Tương truyền, La sát vốn là tên gọi thổ dân Ấn độ, sau khi người Nhã lợi an (Aryan) chinh phục Ấn độ, La sát bèn trở thành 1 đại danh từ chỉ cho kẻ ác, diễn biến dần dần được dùng làm tên gọi chung cho loài ác quỉ. Nam La sát có thân hình màu đen, tóc đỏ, mắt xanh, nữ La sát thì giống như người đàn bà tuyệt đẹp, đầy sức quyến rũ, chuyên ăn máu thịt loài người. Tương truyền, ở trong đảo Lăng già (tức Tích lan), có cõi nước của nữ La sát. Loài quỉ này được ghi trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 49, Hữu bộ tì nại da quyển 47 và Tuệ lâm âm nghĩa quyển 7, v.v... Quỉ La sát có sức thần thông có thể bay nhanh ở trong hư không hoặc lướt nhanh trên mặt đất, hung ác đáng sợ. La sát cũng còn chỉ cho loại ngục tốt ở địa ngục, phụ trách việc trừng phạt tội nhân. Cũng gọi là A bàng, A bàng la sát, A phòng, Bàng. Hình dáng của loài quỉ này, hoặc là đầu trâu tay người, hoặc có móng chân trâu, hoặc là người đầu nai, đầu dê, đầu thỏ, v.v... Ngoài các loại ác La sát nói trên, trong các kinh còn ghi 1 loại La sát là thần thủ hộ của Phật giáo, gọi là La sát thiên, là 1 trong 12 vị trời. Những La sát này có hình dáng Thần vương, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt, tay cầm dao, cỡi sư tử trắng. Lại như 10 nữ La sát được nói trong phẩm Đà la ni kinh Pháp hoa cũng đều là thần Thủ hộ... [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.6; luận Đại trí độ Q.16; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Đại đường tây vực kí Q.11].
Địa-ngục

Là tiếng dịch ý từ Phạn ngữ “Niraya”, có nghĩa là “bất lạc” (chỉ có đau khổ, không có an vui). Đia-ngục (hay Địa-ngục đạo, Địa-ngục thú) là một trong sáu nẻo luân hồi. Nói đến “ngục” là nói đến những hoàn cảnh đau khổ, bị giam cầm, bị hình phạt. Chữ “địa” nghĩa là đất, nhưng ở đây nó còn có nghĩa là những nơi u ám, tối tăm. Vậy, “địa-ngục” là những cảnh giới tối tăm, sự sống chỉ là những nỗi đau khổ triền miên, không có ánh sáng của chánh pháp, không có đạo lí, không có hạnh phúc, không có bất cứ niềm vui nào. Trong ý nghĩa đó, các cảnh giới Địa-ngục có thể ở dưới đất, trên mặt đất, nơi kẹt núi, ven sông, rừng thẳm, dưới vực, nơi xóm làng phố xá, cả trên không trung... Trong các kinh điển (như Kinh Địa Tạng chẳng hạn) thường mô tả thế giới Địa-ngục ở trong núi Thiết-vi, với những ngục sở đầy những hình phạt ghê rợn; những bức họa về các cảnh tượng người bị hành hình trong các chốn địa ngục, khởi thỉ từ Ấn-độ, sau đó truyền sang các nước phía Đông như Trung-quốc, Việt-nam, Nhật-bản v.v..., tất cả đều nhằm răn đe những người làm ác và khuyến khích con người hướng thiện. Rất nhiều người, nhờ đọc kinh, hoặc trông thấy các bức họa ấy mà bỏ hẳn các nghiệp ác (nhất là nghiệp sát sinh), trở nên những người tốt, giúp đỡ mọi người, ai cũng quí mến. Tóm lại, ở đâu có đau khổ là ở đó có Địa-ngục. Một gia đình đau khổ, đó là một gia đình địa ngục; một đoàn thể đau khổ, đó là một đoàn thể địa ngục; một quốc gia đầy đau khổ, đầy áp bức, đầy đe dọa, đó là một quốc gia địa ngục... Và “địa ngục” là loại quả báo đau khổ nặng nề nhất do các nghiệp nhân xấu ác trầm trọng nhất.

Tâm
心; C: xīn; J: shin; S: citta, hṛdaya, vijñāna;
Thuật ngữ quan trọng của đạo Phật, có nhiều nghĩa:
1. Tâm được xem đồng nghĩa với Mạt-na (s: manas, thức suy nghĩ phân biệt) và Thức (s: vijñāna). Tâm chỉ toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm trí.
2. Trong luận A-tì-đạt-ma câu-xá, tâm được xem như một thể riêng biệt, trên thể đó thế giới hiện tượng xuất hiện.
3. Trong Duy thức tông, tâm được xem là A-lại-da thức (s: ālayavijñāna; còn được gọi là Tạng thức), gốc của tất cả mọi hiện tượng tâm trí. Theo quan điểm này, thì toàn bộ vũ trụ này chính là »tâm thanh tịnh.« Nhiều quan điểm cho rằng tâm này chính là »vô thuỷ vô minh«, vô minh nguyên thuỷ của Phật tính và là thật tại tối thượng của mọi hiện tượng nhị nguyên.
Tổng quát lại, người ta có thể phân biệt sáu loại tâm: 1. Nhục đoàn tâm (肉團心), trái tim thịt; 2. Tinh yếu tâm (精要心), chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ; 3. Kiên thật tâm (堅實心), chỉ cái tuyệt đối, cái Chân như của các Pháp – ba loại tâm trên được dịch từ danh từ Hṛdaya của Phạn ngữ (sanskrit); 4. Tập khởi tâm (集起心; citta), là thức thứ 8 – A-lại-da thức (ālayavijñāna); 5. Tư lượng tâm (思量心), là thức thứ 7, Mạt-na (manas); 6. Duyên lự tâm (緣慮心), là thức thứ sáu, Ý thức (s: manovijñāna).

Niệm Phật Đối Trị Vọng Tưởng
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Nhớ Phật Niệm Phật
Lão Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam

Đức Phổ Hiền Dạy Tu Niệm Phật Tam Muội
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

Văn Thù Sư Lợi Dạy Tu Niệm Phật
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh