Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Le-Duoc-Mat-Cua-Chuyen-Ban-Suong-Ve-Khong
Kinh nói: “Chư Phật nói pháp Không để độ kẻ chấp trước. Nếu lại chấp nơi Không, chư Phật chẳng độ nổi”. Giáo pháp của cả Ðại Tạng là tùy bịnh cho thuốc. Khéo dùng thuốc thì không bịnh chi chẳng hết; chẳng khéo dùng thì đề hồ thượng vị trở thành chất độc!

Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma chẳng lập văn tự, chỉ đề xướng trực chỉ, bảo là Giáo Ngoại Biệt Truyền. Lục Tổ nói: “Chỉ hai chữ ‘chẳng lập’ ấy đã là văn tự. Bảo là Trực Chỉ chỉ vì do [người tu hành còn] hiểu cong vạy vậy”.
Vì kẻ học pháp mà cổ nhân cạy niêm cởi trói, xóa ngờ phá chấp; công ấy không chi lớn hơn. Cần phải biết đạo lý như sau:

Chẳng thể dùng hữu tâm để cầu. Chẳng thể dùng vô tâm để đắc. Chẳng thể dùng ngôn từ để tạo. Chẳng thể dùng tịch mặc để thông. Ðạt thẳng đến chỗ không nương dựa vào đâu, vượt khỏi ngoài sự suy nghĩ của phàm, thánh. Cũng chẳng nương dựa vào cái chỗ không nương dựa ấy, vượt khỏi chỗ suy lường của phàm, thánh thì mới đáng gọi là xuất cách đạo nhân.

Kẻ học đạo đời sau cứ chấp trước ngang bướng, chẳng rõ ý Tổ, nhận lầm lời lẽ cổ nhân là thật, cho rằng thật sự có một pháp Giáo Ngoại Biệt Truyền, phải thẳng tay quét sạch văn tự, chấp chặt rằng chẳng còn có một pháp nào hết cả thì mới là cứu cánh, khăng khăng tính kế sống mãi trong dòng sanh tử. Ðối với các đạo khác, họ cũng đem [cái chấp] quét sạch ấy để quét sạch hết cả, nghinh ngang chẳng hay biết gì.

Ôi! đáng thương thay! Riêng họ chẳng biết rằng: đoạn vọng tưởng tam giới, diệt ngũ ấm sắc thân, trọn chẳng vướng bận dẫu mảy may nào lại chính là kiến giải của Tiểu Thừa đối với Tam Tạng. Nếu hiểu được [như thế] thì sẽ chuyển mình, tự nhiên mọi pháp dung thông, đi trên đường sanh tử chẳng trở ngại gì; tuân theo thánh giáo của Phật, phát nguyện vãng sanh, tham lễ Di Ðà, thân cận thiện hữu, mau chứng bất thoái, phổ độ chúng sanh. Sánh với kẻ thiên chấp Không kiến, cam chịu luân hồi, chẳng cầu xuất ly, lẽ tiêu hoại chẳng đồng vậy.
 
Trích từ: Tây Phương Công Cứ

Từ Ngữ Phật Học
Giáo ngoại biệt truyền
教外別傳; J: kyōge-betsuden;
Tức là giáo pháp truyền đặc biệt ngoài kinh điển, không thể theo văn tự, lí thuyết mà đạt yếu chỉ được. Câu này thường được các vị Thiền sư sử dụng chỉ tông phái mình, Thiền tông.
Tiểu thừa
小乘; S: hīnayāna; nghĩa là »cỗ xe nhỏ«;
Nguyên là danh từ của một số đại biểu phái Ðại thừa (s: mahāyāna) thường dùng chỉ những người theo »Phật giáo nguyên thuỷ«. Biểu thị này được dùng để lăng mạ, chỉ trích. Ngày nay ý nghĩa chê bai của danh từ này đã mất đi và nó chỉ còn có tính chất mô tả. Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo có ý định thay thế danh từ này nhưng không đạt kết quả vì danh từ này đã khắc sâu trong tư tưởng của nhiều Phật tử. Các đại biểu của Tiểu thừa tự xem mình theo phái Thượng toạ bộ (p: theravāda), mặc dù Thượng toạ bộ chỉ là một trong những trường phái Tiểu thừa, và là trường phái duy nhất của Tiểu thừa còn tồn tại đến ngày nay. Tiểu thừa cũng được gọi là Nam tông Phật pháp vì được thịnh hành tại các nước Nam Á như Tích Lan (śrī laṅkā), Thái lan, Miến Ðiện (myanmar), Cam-pu-chia, Lào.
Theo truyền thuyết, Tiểu thừa gồm có 18 bộ phái khác nhau, xuất phát từ Tăng-già nguyên thuỷ. Trong lần kết tập thứ ba, Tăng-già phân ra thành hai phái: Trưởng lão bộ (長老部; s: sthavira) và Ðại chúng bộ (大眾部; s: mahāsāṅghika). Giữa năm 280 và 240 trước Công nguyên, Ðại chúng bộ lại bị chia thành sáu phái: Nhất thuyết bộ (一說部; s: ekavyāvahārika), Khôi sơn trụ bộ (灰山住部; s: gokulika). Từ Nhất thuyết bộ lại sinh ra Thuyết xuất thế bộ (說出世部; s: lokottaravāda). Từ Khôi sơn trụ bộ lại tách ra 3 bộ phái là Ða văn bộ (多聞部; s: bahuśrutīya), Thuyết giả bộ (說假部; s: prajñaptivāda) và Chế-đa sơn bộ (制多山部; s: caitika). Từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) của thời gian đó, khoảng năm 240 trước Công nguyên, phái Ðộc Tử bộ (犢子部; s: vātsīputrīya) ra đời, gồm có bốn bộ phái nhỏ là Pháp thượng bộ (法上部; s: dharmottarīya), Hiền trụ bộ (賢胄部; s: bhadra-yānīya), Chính lượng bộ (正量部; s: saṃmitīya) và Mật lâm sơn bộ (密林山部; s: sannagarika, sandagiriya). Từ Trưởng lão bộ (sthavira) lại xuất phát thêm hai phái: 1. Nhất thiết hữu bộ (一切有部; s: sarvāstivāda), từ đây lại nẩy sinh Kinh lượng bộ (經量部; s: sautrāntika) khoảng năm 150 trước Công nguyên và 2. Phân biệt bộ (分別部; s: vibhajyavāda). Phân biệt bộ tự xem mình là hạt nhân chính thống của Trưởng lão bộ (s: sthavira). Từ Phân biệt bộ (s: vibhajyavāda) này sinh ra các bộ khác như Thượng toạ bộ (上座部; p: thera-vāda), Hoá địa bộ (化地部; s: mahīśāsaka) và Ẩm Quang bộ (飲光部; cũng gọi Ca-diếp bộ; 迦葉部; s: kāśyapīya). Từ Hoá địa bộ (s: mahīśāsa-ka) lại sinh ra Pháp Tạng bộ (法藏部; s: dhar-maguptaka).
Tiểu thừa được phát triển nhất giữa thời gian Ðức Phật nhập Niết-bàn và Công nguyên. Ðại biểu phái này cho rằng mình theo sát những lời dạy nguyên thuỷ của Ðức Phật, do chính Ðức Phật nói ra. Giới luật của Tiểu thừa hoàn toàn dựa vào Luật tạng. Trong A-tì-đạt-ma, Tiểu thừa dựa trên Kinh tạng để phân tích và hệ thống hoá giáo lí của Phật.
Tiểu thừa tập trung tuyệt đối vào con đường đi đến giải thoát. Các lí luận triết học không đóng vai trò quan trọng – chúng thậm chí được xem là trở ngại trên đường giải thoát. Tiểu thừa phân tích rõ trạng thái của đời sống con người, bản chất sự vật, cơ cấu của chấp ngã và chỉ ra phương pháp giải thoát khỏi sự Khổ (s: duḥkha). Tất cả các trường phái Tiểu thừa đều có một quan điểm chung về sự vật đang hiện hữu: khổ có thật, phải giải thoát khỏi cái Khổ. Giải thoát khỏi Luân hồi (s, p: saṃsāra), thoát khỏi sự tái sinh và đạt Niết-bàn (s: nirvāṇa) là mục đích cao nhất của Tiểu thừa. Muốn đạt được mục đích này, hành giả phải dựa vào sức mình, xa lánh thế gian. Vì vậy Tiểu thừa quan niệm phải sống viễn li, sống cuộc đời của một kẻ tu hành. Ðối với Tiểu thừa, cuộc sống tại gia không thể nào đưa đến sự giải thoát. Hình ảnh tiêu biểu của Tiểu thừa là A-la-hán (s: arhat), là người dựa vào tự lực để giải thoát.
Tiểu thừa tránh không đưa lí thuyết gì về Niết-bàn, mục đích cuối cùng, là kinh nghiệm của sự giác ngộ, trong đó, hành giả chứng được vô ngã và từ bỏ tham ái. Ðối với Tiểu thừa, Phật là một nhân vật lịch sử, được xem là một con người và thầy dạy, không phải là Hoá thân của một thật thể nào. Giáo pháp cơ bản của Tiểu thừa gồm có Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), thuyết Vô ngã (s: anātman) và luật nhân quả, Nghiệp (s: karma). Phép tu hành của Tiểu thừa dựa trên Bát chính đạo. Theo quan điểm của Ðại thừa, sở dĩ phái này được gọi là »tiểu thừa« vì – ngược lại với chủ trương của Ðại thừa là nhằm đưa tất cả loài Hữu tình đến giác ngộ – phái tiểu thừa chỉ quan tâm đến sự giác ngộ của cá nhân mình. Chủ trương này được xem là giáo pháp sơ cấp của đức Phật vì sau đó Ngài giảng giáo pháp toàn vẹn hơn, đó là giáo pháp Ðại thừa (xem thêm biểu đồ của các bộ phái Phật giáo Ấn Ðộ cuối sách).
tam tạng
(三藏) Phạm:Trìịi piỉakàni. Pàli:Tìịi piỉakàni. Cũng gọi Tam pháp tạng. Tạng (Phạm:Piỉaka) nghĩa là cái đồ chứa đựng, kho lẫm, hòm đan bằng tre. I. Tam Tạng. Chỉ cho Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng.Cứ theo phẩm Thuật cầu trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 thì Tạng nghĩa là nhiếp, tức là tổng nhiếp tất cả những điều nên biết. Nếu theo thuyết của ngài Giác âm thì tạng nghĩa là am kí(ghi nhớ thành thuộc), tức thầy trò dùng phương pháp tụng thuộc lòng mà truyền miệng cho nhau. Theo kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội quyển trung thì Tạng nghĩa là đồ chứa, hàm ý là chứa đựng tất cả các giáo pháp cần phải biết. Đại chúng bộ và các bộ phái khác, ngoài Tạp tạng còn thêm Tam tạng..., Độc tử bộ thêm Chú tạng mà thành lập Tứ tạng; Pháp tạng bộ thêm Chú tạng và Bồ tát tạng, Nhất thuyết bộ trong Đại chúng bộ thì thêm Tạp tập tạng và Cấm chú tạng, luận Thành thực thêm Tạp tạng và Bồ tát tạng, kinh Lục ba la mật thì thêm Bát nhã ba la mật đa tạng và Đà la ni tạng. Năm tạng này gọi chung là Ngũ tạng. Ngoài ra, Kinh tạng và Luật tạng, hoặc Thanh văn tạng và Bồ tát tạng, gọi chung là Nhị tạng. 1. Kinh tạng (Phạm: Sùtràntapiỉaka,Pàli: Sutta-piỉaka, Hán âm: Tố đát lãm tạng, Tu đa la tạng, Hán dịch: Khế kinh tạng): Kinh điển do đức Phật nói, trên thì khế hợp với lí nghĩa của chư Phật, dưới thì khế hợp với căn cơ của chúng sinh. Các nghĩa trọng yếu trong giáo thuyết của đức Phật đều thuộc về bộ loại Kinh.2. Luật tạng (Phạm, Pàli:Vinayapiỉaka, Hán âm: Tì nại da tạng, Tì ni tạng, Hán dịch: Điều phục tạng): Những luật nghi do đức Phật chế có công năng sửa trị những cái xấu ác của chúng sinh, điều phục tâm tính chúng sinh; những pháp tắc sinh hoạt của giáo đoàn mà đức Phật qui định đều thuộc về bộ loại Luật. 3. Luận tạng (Phạm: Abhidharmapiỉka, Pàli: Abhidhamma-piỉaka, Hán âm: A tì đạt ma tạng, A tì đàm tạng, Hán dịch: Đối pháp tạng): Luận bàn thêm về ý nghĩa kinh điển của Phật, làm sáng tỏ những điểm súc tích để quyết định tính tướng các pháp; phát triển giáo thuyết của đức Phật rộng hơn, đến người đời sau lại dùng trí tuệ thù thắng thảo luận, giải thích thêm nữa rồi hệ thống hóa, tổ chức hóa làm cho giáo pháp hoàn chỉnh. Luận tạng cũng gọi là Luận bộ, có quan hệ mật thiết với Ma đát lí ca (hoặc Ma đắc lặc già) (Phạm: Màtfkà,Pàli:Màtikà, Hán dịch: Bản mẫu, Luận mẫu), Ưu ba đề xá (Phạm: Upadeza,Pàli:Upadesa, Hán dịch: Luận nghị). Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 1 thì những điều mà Tam tạng hiển bày đều khác nhau: Những điều mà Kinh tạng hiển bày là thứ tự, những điều mà Luật tạng hiển bày là duyên khởi, những điều mà Luận tạng hiển bày là tính tướng; Kinh tạng nói về các thuyết khác nhau, Luật tạng giảng về các học xứ, Luận tạng thì phân biệt tự tướng và cộng tướng của các pháp. Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 cũng nêu ra 9 nguyên nhân thành lập Tam tạng, đó là: 1. Vì đối trị sự ngờ vực nên thiết lập Tu đa la. 2. Để đối trị sự thụ dụng nghiêng hẳn về 2 bên, khiến xa lìa lạc hạnh cũng như khổ hạnh, nên thiết lập Ti ni. 3. Vì đối trị kiến thủ của tự tâm nên thiết lập A tì đàm. 4. Để nói 3 học nên thiết lập Tu đa la. 5. Để thành tựu giới học, tâm học nên thiết lập Tì ni. 6. Vì thành tựu tuệ học nên thiết lập tì đàm. 7. Vì mục đích giảng nói pháp và nghĩa, nên thiết lập Tu đa la. 8. Để thành tựu pháp và nghĩa nên thiết lập Tì ni. 9. Vì mục đích thông suốt pháp và nghĩa nên thiết lập A tì đàm. Thích thị yếu lãm quyển trung cũng viện dẫn thuyết của A tì đạt ma tập, cho rằng dùng Kinh tạng để đối trị phiền não Nghi, dùng Luật tạng để đối trị Tùy phiền não thụ dụng hai bên thiên lệch, dùng Luận tạng để đối trị Tùy phiền não tự kiến thủ chấp. Ngoài ra, Lạt đạt ma giáo Tây tạng đem phối Tam tạng với Tam độc, cho rằng Luật tạng đoạn trừ tham dục, Kinh tạng đoạn trừ sân khuể và Luận tạng đoạn trừ ngu si. Về thứ tự của Tam tạng thì cho đến nay vẫn chưa có luận thuyết nhất định, có thuyết chủ trương nếu nói theo sự kết tập trước sau của Tam tạng, thì thứ tự là Kinh, Luật, Luận, còn nếu nói theo thứ tự tu hành thì là Luật, Kinh, Luận. Nếu phối hợp Tam tạng với Tam học thì Kinh tương đương với Định học, Luật tương đương với Giới học, còn Luận thì tương đương với Tuệ học. Đồng thời, Kinh bao hàm cả giới, định, và tuệ, Luật bao hàm giới và định, còn Luận thì chỉ bao hàm tuệ học mà thôi. Ngoài ra, còn có các phương diện khác nhau về việc thiết lập Tam tạng. Từ xưa đến nay, Tam tạng vốn chỉ cho Thánh điển của Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái, cũng tức là Tam tạng giáo(Tạng giáo) của Tiểu thừa, về sau, từ ngữ này được Đại thừa sử dụng, do đó, Tam tạng có Hạ thừa (Thanh văn thừa) và Thượng thừa(Bồ tát thừa) khác nhau, hợp chung lại thì thành Lục tạng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.2; luật Thập tụng Q.60; luận Phân biệt công đức Q.1, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.11; Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (bản dịch đời Đường), Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. II. Tam Tạng. Giáo pháp vì hàng Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát mà lần lượt được nói ra, tức là Thanh văn tạng, Duyên giác tạng và Bồ tát tạng, hợp chung lại gọi là Tam tạng. 1. Thanh văn tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Thanh văn. 2. Duyên giác tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Duyên giác. 3. Bồ tát tạng: Nói rõ về lí, hành, quả của Bồ tát. [X. phẩm Tam tạng trong kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội Q.trung; kinh A xà thế vương Q.hạ; luận Nhập đại thừa Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. III. Tam Tạng. Tịnh độ chân tông ở Nhật bản gọi giáo pháp(pháp môn) được nói trong 3 bộ kinh của Tịnh độ là Tam tạng. Cứ theo sách Giáo hành tín chứng nói thì Tam tạng này là Phúc trí tạng, Phúc đức tạng và Công đức tạng. 1. Phúc trí tạng: Tức thành tựu viên mãn 2 thứ trang nghiêm là trí tuệ và phúc đức, là chỉ cho danh hiệu Nam mô a di đà Phật, từ đó mở ra giáo pháp của nguyện thứ 18 thuộc những hoằng nguyện chân thực nói trong kinh Đại vô lượng thọ.2. Phúc đức tạng: Tức các hạnh định thiện, tán thiện được nói trong kinh Quán vô lượng thọ, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 19 thuộc yếu môn. 3. Công đức tạng: Tức dùng danh hiệu tự lực hồi hướng được nói trong kinh A di đà, từ đó mở ra giáo pháp phương tiện của nguyện thứ 20 thuộc Chân môn.
không kiến
(空見) Phạm:Zùnyatà-dfwỉi. Kiến giải sai lầm không thừa nhận lí nhân quả 3 đời, hoặc chấp trước pháp Không mà hoàn toàn phủ định sự tồn tại của các pháp. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 7, thì có 2 loại Không kiến: 1. Không kiến của ngoại đạo: Vì ngoại đạo không rõ nhân quả có sự mau chậm khác nhau ở đời này, đời sau, nên thấy người làm việc lành lại được quả ác, còn kẻ làm việc ác thì được quả lành, bèn cho rằng không có nhân quả, không thấy được lí của nghiệp báo thiện ác. 2. Không kiến của nội giáo: Người học Phật chưa hiểu rõ đạo lí sâu xa của Như lai, nghe thuyết Bát nhã chủ trương tất cả đều không bèn rơi vào kiến chấp sai lầm cho các pháp đều là không. Tâm chấp trước Không kiến thì khởi tăng thượng mạn, vi phạm giới luật buông thả theo ngũ dục, phá hoại chính kiến, uy nghi và đời sống thanh tịnh. Phẩm Bồ đề, kinh Vô thượng y (Đại 16, 471 trung), nói: Nếu có người chấp trước ngã kiến lớn như núi Tu di, ta không kinh lạ cũng không chê trách; nhưng kẻ tăng thượng mạn chấp trước không kiến, dù chỉ bằng 1/10 của một sợi tóc, thì ta cũng không chấp nhận. Vì trong các loại kiến chấp, lỗi của Không kiến là nặng nhất, nó có thể phá hoại tất cả. Theo Ma ha chỉ quán quyển 4, nếu chấp trước Không kiến, thì sau khi chết sẽ rơi vào 3 đường ác, chìm đắm mãi mãi. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu; Du già luận kí Q.2; Ma ha chỉ quán Q.10 hạ].

Phá Thuyết Chấp Không
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc